nhận thức của sinh viên về vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân hiện nay - Pdf 24

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA XÃ HỘI HỌC
o0O0o
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
MÔN XÃ HỘI HỌC GIA ĐÌNH
Đề tài:Nhận thức của sinh viên về vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân hiện
nay.
Giảng viên: Lê Thái Thị Băng Tâm
Họ tên sinh viên: Đoàn Ngọc Vĩ
Mã sinh viên: 11031010
Lớp: K56 _ Xã Hội Học
Hà Nội, ngày 07 tháng 01 năm 2013
1. Dẫn Nhập.
Trong những năm gần đây, sự phát triển vượt bậc của kinh tế - chính trị - văn hóa
đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghệ thông tin đã đem lại những thành
tựu đáng ghi nhận cho nước ta. Tuy nhiên bên cạnh đó, chúng ta phải đối mặt với mặt trái
của nó đó là sự du nhập quan niệm, khuynh hướng phát triển khác nhau từ phương tây.
Chính vì vậy quan niệm, lối sống của giới trẻ hiện nay đang là chủ đề thu hút rất nhiều sự
quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, các nhà giáo dục đào tạo và nhiều nhà hoạch định
chính sách. Xã hội càng phát triển thì thế hệ trẻ tiếp theo cũng sẽ biến đổi, thay đổi để
thích ứng, chấp nhận và đi theo những khuynh hướng phát triển xã hội mới sao cho phù
hợp. Ở xã hội hiện đại, những quan điểm, thái độ của giới trẻ về cuộc sống đã thay đổi
nhiều so với quan niệm của xã hội truyền thống, đặc biệt là thái độ đối với mối quan hệ
giữa nam và nữ, về tình dục, hôn nhân và gia đình của người Á Đông.
Hiện nay, với xu hướng biến đổi nhanh chóng voi quan điểm nhận thức và tư duy
đã có rất nhiều hiện tượng xã hội nảy sinh liên quan đến sự biến đổi lối sống của thế hệ
trẻ như hiện tượng sống thử, quan hệ tình dục trước hôn nhân (QHTDTHN), hiện tượng
nạo phá thai,…
Niên giám thống kê của bộ y tế năm 2004 cho thấy: hằng năm hệ thống y tế các
nước tiếp nhận 1,3 đến 1,5 triệu ca nạo phá thai. Tuy nhiên, nêú thống kê được đầy đủ số

Đề tài nghiên cứu: Phạm Thị Anh Minh, “Thái độ xã hội đối với hành vi quan hệ
tình dục của vị thành niên”, luận văn thạc sĩ, 2011. Đã đưa ra những nhận định: Phần lớn
ý kiến cho rằng vị thành niên hiện nay có QHTDTHN là do ảnh hưởng của lối sống hiện
đại (66,3%), của lối sống vật chất(51,7%), muốn khẳng định bản thân mình và muốn trở
thành người lớn, nhưng không lường trước được hậu quả của nó như thế nào. Đưa ra kiến
nghị, giáo dục SKSS, QHTD an toàn cho vị thành niên là quan trọng và rất cần thiết.
Phần lớn ý kiến không tán thành QHTDTHN nhưng họ nhận thức được rằng hành vi
QHTD ở vị thành niên hiện nay là hành vi khó tránh khỏi. Cho rằng quan niệm và cách
nhìn nhận giữa nam và nữ là khác nhau và do đó đánh giá của họ cũng khác nhau, tỉ lệ
nam giới tán thành QHTDTHN nhiều hơn nữ giới.
Cùng với đề tài: Phan Thanh Nguyệt, “nhận thức, thái độ, hành vi của thanh niên,
công nhân về quan hệ tình dục trước hôn nhân”, luận văn thạc sĩ, 2010. Như đã nêu ở
trên, tác giả đưa ra nhận định: tỉ lệ thanh niên công nhân có nhân thức về khái niệm tình
dục, QHTD, QHTD an toàn là khá cao, tuy nhiên vẫn còn một tỉ lệ không nhỏ thanh niên
có nhận thức chưa đúng, chưa đủ. Cũng như các nghiên cứu đã nêu trước, ở nghiên cứu
này, tác giả cũng đưa ra khẳng định, thanh niên công nhân có thái độ rất cởi mở, thoáng
trong vấn đề chấp nhận QHTDTHN. Tỉ lệ thanh niên công nhân đã có QHTDTHN chiếm
khá cao 37,9%, 39,3% khẳng định QHTDTHN không sử dụng bao cao su. Đa số thanh
niên được hỏi không sử dụng biện pháp tránh thai trong quá QHTD là do không muốn sử
dụng (81%). Những yếu tố tác động đến nhận thức, thái độ, hành vi của cá nhân về
QHTDTHN là những yếu tố mang tính đặc điểm về nhân khẩu học như giới tính, lứa
tuổi, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân,… Ngoài các yếu tố đặc điểm cá nhân còn các
yếu tố như gia đình, truyền thông đại chúng, nhóm bạn bè cũng có tác động không nhỏ.
Có thể thấy rằng các nhà nghiên cứu, các nhà quản lí, các cơ quan chức năng ở
nước ta đã dành sự quan tâm và lo lắng nhiều đến những vấn đề SKSS vị thành niên,
những chỉ báo về tình trạng QHTDTHN ở thanh niên, sinh viên, về mang thai, nạo phá
thai, kết hôn sớm, sinh con ngoài ý muốn, mại dâm, nghiện hút,… và mắc các bệnh lây
truyền qua đường tình dục nhất là HIV/AIDS ở vị thành niên Việt Nam ngày càng có xu
hướng gia tăng và hết sức đáng lo ngại, vấn đề thực sự cấp bách khi nước ta hòa nhập với
thế giới. Tuy nhiên, hiện nay có rất ít các đề tài nghiên cứu về sự nhìn nhận, thái độ đánh

• Hành động cảm tính là hành động do các trạng thái cảm xúc hoạc tính toán bộc phát gây
ra mà không có sự cân nhắc, xem xét, phân tích mối quan hệ giữa công cụ, phương tiện
và mục đích hành động.
• Hành động theo truyền thống là loại hành động tuân thủ những thói quen nghi lễ, phong
tục, tập quán đã được truyền từ đời này sang đời khác.
Đối với đề tài nghiên cứu này lý thuyết hành động của Max.Weber không chỉ giúp
ích về mặt lý thuyết khi áp dụng phân biệt các đẳng thức hành động xã hội trong nước
ngày nay, mà còn giúp đánh giá được mức độ của các hành đông, đi tìm hiểu lý do của
hành động xã hội, của hành vi quan hệ tình dục, nhưng lý do của sự từ chối hay chấp
nhận… Ngược lại kết quả nghiên cứu còn làm sang tỏ những tri thức mà Max.Weber chỉ
ra.
Lý thuyết lựa chọn hợp lý:
Lý thuyết này được biết với tên tuổi của Coleyman- chủ tịch hiệp hôi Mỹ năm
1992. Trong ý tưởng cơ bản của mình công cho rằng hành động xã hội có mục đích của
các cá nhân hướng tới một mục tiêu, mục tiêu đó và do đó cả hành động nửa định hình
bởi các giá trị hay sở thích. Tức là ông thừa nhận cả hai yếu tố khách quan và chủ quan
trong hành đông có tính mục đích cá nhân. Không những thế ông còn cụ thể các yếu tố ấy
là giá trị và yếu tố sở thích. Như vậy sự lựa chọn hợp lý là sự cân nhắc của các giá trị, sở
thích.
Mối quan tâm của các cá nhân không hoàn toàn quy định quá trình của các sự kiên
của cả một tập thể mà cá nhân là thành viên nhưng sẽ quyết định tới hành vi lựa chọn bởi
mối quan tâm chính là sự biểu hiện rõ nhất của những gì lien quan đến lợi ích, quyền
lợi… Tức là có lien quan đến cá nhân đó, hoặc đến tập thể mà cá nhân đó thuộc về.
Trong các điểm căn bản, học thuyết sự lụa chọn hợp lý cho rằng hành vi của một
người được xác định bởi thái độ của hộ với kết quản của hành động và phản ứng của môi
trường xung quanh họ.
Những chuẩn mực cá nhận:Được tạo nên bởi những niềm tin mà một người tích
lũy suốt cả cuộc đời. Vài đức tin được hình thành từ những kinh nghiệm trực tiếp, một
vài cái khác tự người khác, hoặc truyền từ đời này sang đời khác. Tuy nhiên chỉ có một
số ít những đức tin này tạo nên thái độ của cá nhân.Chúng được gọi là những đức tin nổi

bậc tiểu học và trung học. Họ là một nhóm dân số xã hội lớn, với các đặc điểm được xác
định bởi vai trò, vị trí của hệ thống tái sản xuất và phát triển xã hội.
Khái niệm Nhận thức
Các nhà tâm lý cho rằng hành động nhận thức chủ yếu của con người là phản ánh
thực tế khách quan, để thích nghi với nó hoặc để cải tạo nó. Quá trình hoạt động nhận
thức đi từ chưa biết đến biêt: từ các thuộc tính bên ngoài( cảm tính, trực quan, riêng rẽ)
đến sự chọn vẹn (ổn định, có ý nghĩa đi sâu vào bản chất của sự vật của nó). Sau đó đến
các thuộc tính bên trong đi sâu vào bản chất thực sự của sự vật hiện tượng được nghiên
cứu; cuối cùng từ đó trở về thực tiễn. Hành động nhận thức của con người diễn ra hai
hình thưc cơ bản là hành động nhận thức hay quá trình nhận thức.
Hành động nhận thức là hành dông nhận ra, biết được, hiểu được về một vấn đề cụ
thể trong đời sống vật chất hoạc tinh thần của con người. Quá trình nhận thức là kết quả
hiểu biết của con người về một vấn đề cụ thể của thế giới khách quan. Kết quả này được
tìm thấy trong một khoảng thời gian nhât định.
Còn theo từ điển Tiếng Việt: nhận thức là quá trình hay kết quả phản ánh và tai
hiện hiện thực vào tư duy, quá trình con người nhận biết thế giới khách quan trên kết quả
nghiên cứu đó. Tức là nhận thức la nhận ra, biết được va hiểu được.
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng; nhận thức là sự phản ánh biện
chứng thế giới khách quan vao bộ óc con người. nhận thức la quá trinh xâm nhập cua ý
thưc con người vào hiện thực làm cho con người chịu sự chi phối của chủ thể và quá trình
này cũng chính là quá trình con người làm phong phú them tri thức của mình bằng những
tri thức mới. Đây chính là sự tương tác giữa chủ thể nhận thức vói khách thể nhận thức
trong quá trình phản ánh hiện thực khách quan.
Trong đề tài này tôi khái niệm nhận thức theo từ điển tiếng việt. theo đó “ nhận
thức là điều hiểu biết về sự vật do quan sát, xem xét mà có, là hiểu biết về sự kiện”.
Khái niệm Tình dục
Theo cuốn một số vấn đề lý luận về tình dục của tác giả Khuất Thu Hồng, Viện
Nghiên cứu và Phát triển xã hội thì: Tình dục la sự thể hiện tính dục của con người gồm:
- Tưởng tượng, mơ ước về quan hệ tình dục với đối tượng.
- Nói chuyện về vấn đề tình dục.

tính và SKSS. Tuy nhiên vấn đề này ở trong trường vẫn còn được ít đề cập đến. Sinh viên
thường hay tìm hiểu ở các nguồn thông tin khác trong đó có cả những thông tin sai lệch.
Do đó, hiểu biết và nhận thức của thanh niên, sinh viên về giáo dục giới tính, SKSS hiện
nay vẫn còn han chế.
Thanh niên ngày nay tỏ ra cởi mở hơn về tình dục trước hôn nhân. Theo một
nghiên cứu, nam thanh niên đã từng có quan hệ tình dục (QHTD) trước hôn nhân (kể cả
những người hiện đã kết hôn) là 13,6%, cao gấp hơn 2 lần so với nữ (5,2%) [Vũ Mạnh
Lợi,2011]. Một điều tra riêng trong nhóm sinh viên đại học chưa lập gia đình tại TP.HCM
[Trung tâm chăm sóc SKSS TP HCM, 2011] cho thấy, tỷ lệ có QHTD ở nam sinh viên là
hơn 19% và ở nữ là gần 6%. Trong số đã QHTD có 54,1% cho rằng QHTD trước hôn
nhân là sự biểu hiện của sự hấp dẫn về thể xác và tình cảm; 33,1% cho rằng QHTD trước
hôn nhân là chỉ sự thỏa mãn đơn thuần cho một đòi hỏi tự nhiên. Số sinh viên còn lại lựa
chọn ý kiến QHTD trước hôn nhân chỉ là một cách để có con hoặc không biết.
Theo khảo sát ở một số trường đại học tại Hà Nội, khoảng 28% số sinh viên được
hỏi trả lời có QHTD trước hôn nhân, 33% “đang lưỡng lự”, 24% “chưa có bạn trai (bạn
gái)” và 15% kiên quyết nói “không QHTD trước hôn nhân” [Viện nghiên cứu thanh
niên, 2011]. Như vậy, số lượng sinh viên có QHTD trước hôn nhân cũng như số “đang
lưỡng lự” chiếm một tỷ trọng tương đối (60,1%). Điều đó đồng nghĩa với việc SKSS của
họ sẽ bị tác động, ảnh hưởng nếu các sinh viên không biết cách bảo vệ nếu thiếu thông tin
và hiểu biết.
Tình dục trước hôn nhân được xem là hiện tượng mới nảy sinh trong xã hội hiện
đại. Quá trình hiện đại hóa đã dẫn đến những thay đổi mạnh mẽ trong quan niệm và hành
vi về tình yêu, tình dục, hôn nhân và gia đình. Trong quá trình hiện đại hóa, tuổi kết hôn
tăng lên nhưng tuổi có hoạt động tình dục lần đầu dường như không tăng, thậm chí giảm,
dẫn đến sự gia tăng hoạt động tình dục trước hôn nhân. Những nghiên cứu về tình dục
thường dựa trên giả thuyết rằng những người bị ảnh hưởng nhiều bởi các giá trị mới do
hiện đại hóa đem lại thường có xu hướng có hoạt động tình dục trước hôn nhân nhiều
hơn. Tình dục trước hôn nhân được xem là hiện tượng của thời hiện đại. Chúng tôi có giả
thuyết rằng ai chịu ảnh hưởng của hiện đại hóa nhiều hơn sẽ có sác xuất có tình dục trước
hôn nhân cao hơn.

đâu…”. (trích />Trong mẫu nghiên cứu có 11,8% (16% tại phường 6 và 7,7% ở Khánh Hậu) thanh
niên đã từng quan hệ tình dục. Trong thực tế tỉ lệ này có thể cao hơn vì đây là câu hỏi
nhạy cảm do ảnh hưởng của các giá trị văn hoá Việt Nam nên không phải ai cũng dễ dàng
thừa nhận chuyện này. Số thừa nhận đã hoặc đang sống chung với người yêu, tức "sống
thử" trước hôn nhân là 6,4%. (trích- />niem-ve-tinh-duc-o-gioi-tre-tai-viet-nam-t610.html)
Khi sinh viên có quan điểm cởi mở hơn trong tình dục thì họ cũng có cái nhìn
nhận rộng hơn trong quan hệ tình dục trước hôn nhân và với những kết quả không mong
muốn như có thai khi quan hệ tình dục trước hôn nhân.
Ngày xưa khi một người phụ nữ nếu quan hệ tình dục khi chưa lấy chồng mà có
con thì sẽ bị cả gia đình, xã hội tẩy chay bằng cách cạo đầu, bôi vôi,bị rêu rao và cho lên
bè chuối thả trôi sông và sẽ không ai cứu người này cả. Nhưng đến bây giờ khi xã hội
phát triển các quan hệ được cởi mở hơn thì chuyện đó không còn tồn tại nữa. Đó là
chuyện bình thường của xã hội ngày nay. Thời đại hiện nay nếu một người con gái có lỡ
quan hệ tình dục và có con thì họ cũng không còn lo lắng như xưa vì họ có nhiều lựa
chọn, một là đẻ ra mình tự nuôi hoặc cho những người hiếm muộn nuôi, hai là có thể đi
phá bỏ cái thai đó vì xã hội hiện nay công nghệ phát triển mạnh nên cách dịch vụ phục vụ
việc này cũng phát triển theo. Có thể thấy rằng những phong tục lễ giáo của xã hội truyền
thống về quan hệ tình dục cũng không còn ,khắt khe như trước nữa. Những vấn đề này
giờ đây chỉ còn có trong việc đánh giá đạo đức, nhân phẩm mà thôi.
Có một thực tế là tuổi quan hệ tình dục ở giới trẻ ngày càng trẻ hóa: tuổi quan hệ
tình dục lần đầu giảm xuống 18,1 (so với 19,6 của 5 năm trước) qua một khảo sát mới
đây của Tổng cục Dân số, kế hoạch hóa gia đình và Tổng cục Thống kê. (trích -
/>vien%C2%A0som-khong.html)
Không phải ngẫu nhiên khi trên máy tìm kiếm Google, số thống kê bài liên quan
đến từ khóa "Tình dục trước hôn nhân " lại có đến trên 440.000 kết quả. Điều này cho
thấy đây là vấn đề được nhiều người quan tâm, đặc biệt là khi Việt Nam đang ở trong bối
cảnh gia tăng hội nhập về kinh tế, xã hội và văn hóa với thế giới.
Nhiều nghiên cứu xã hội học gần đây cho thấy, xã hội hiện đại thúc đẩy tự do cá
nhân nhiều hơn, tăng tính di động về địa lý và nghề nghiệp khiến cho các mối quan hệ
gia đình thêm dân chủ. Kết quả là thanh - thiếu niên ngày nay khá tự do trong hò hẹn, yêu

Bên cạnh những quan điểm thoáng hơn, cởi mở hơn về tình dục trước hôn nhân thì
vẫn còn nhiều người, nhiều sinh viên phản đối vì họ cho rằng việc này là không phù hợp
với phong tục tập quán, họ muốn giữ lần đầu tiên của mình cho người sau này họ lấy làm
vợ (chồng). Và theo những người con gái khi trao thân, trao cái ngàn vàng của mình
trước hôn nhân là một thiệt thòi lớn, nếu không đến được vợ chồng thì người con gái sẽ
thiệt thòi nhất và đàn ông thì chẳng mất gì cả. Khi đó người con gái sẽ bị xã hội đánh giá
về mặt phẩm hạnh của mình.
6. Kết luận
Quan điểm về QHTDTHN được bộc lộ ở nhiều chiều hướng khác nhau, cách nhìn
nhận của cả nam và nữ đều có điểm khác nhau nhưng đa số ý kiến đều mang tính chất rất
thoáng về TDTHN. Nghiên cứu về nhận thức của sinh viên về vấn đề QHTDTHN đã và
đang đề ra tính cấp bách của vấn về này trong xã hội hiện đại ngày nay. Nó nêu lên xu
hướng về vấn đề này một cách khái quát chung cho toàn xã hội.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phạm Thị Minh. Thái độ đối với hành vi quan hệ tình dục của vị thành
niên, 2011.
2. Trương Thị Thúy Hạnh.2009. Thực trạng nhận thức, hành vi về quan hệ tình dục và
các biện pháp tránh thai của sinh viên các trường đại học hiện nay.
3. Nhận thức, thái độ, hành vi của sinh viên đối với vấn đề quan hệ tình dục trước hôn
nhân hiện nay. Nguyễn Thị Thanh Loan. 2009.
4. Hành vi tình dục và kiến thức tình dục an toàn của học sinh phổ thong trung học
trên địa bàn Hà Nội hiện nay. Nguyễn Thanh Vân. 2008.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status