Tiểu luận: Nhận thức và nhu cầu của sinh viên về vấn đề giáo dục giới tính - Pdf 14

1

Tiểu luận

Nhận thức và nhu cầu của sinh viên
về vấn đề giáo dục giới tính

2

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC T HUẬT NGỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC CÁC BẢNG 4
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ 5
PHẦN MỞ ĐẦU 7
1. Lý do chọn đề tài: 7
2. Câu hỏi nghiên cứu: 8
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn: 8
3.1.Ý nghĩa khoa học: 8
3.2.Ý nghĩa thực tiễn: 8
4. Mục đích nghiên cứu: 8
5. Nhiệm vụ nghiên cứu: 8
6. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu. 8
6.1. Đối tượng nghiên cứu: 8
6.2. Khách thể nghiên cứu: 8
6.3. Phạm vi nghiên cứu: 9
7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu: 9
7.1. Phương pháp luận: 9
7.1.1. Phương pháp luận chung 9

Phiếu Trưng Cầu Ý Kiến 29
BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU 1 31
BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU SỐ 2 33
BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU SỐ 3 35
BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU SỐ 4 37
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
Bảng phân công và đánh giá công việc của các thành viên nhóm 8. 41
4

DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
1. VTN-TN: Vị thành niên- Thanh niên.
2. KHHGĐ: Kế Hoạch Hóa Gia Đình.
3. TD: tình dục.
4. QHTD: Quan hệ tình dục.
5. QHTD AT: Quan hệ tình dục an toàn.
6. GDGT: Giáo dục giới tính.
7. HS,SV: Học sinh, sinh viên.
8. ĐH KHXH và NV: Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
9. SKSS: Sức khỏe sinh sản.
10. CLB: câu lạc bộ. 6 DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

2.1. Biểu đồ thể hiện cơ cấu số người biết đến khái niệm GDGT, CS SKSS 19
2.2. Biểu đồ thể hiện mức độ nhận thức đầy đủ kiến thức về QHTD AT. 20
2.3. Biểu đồ thể hiện mức độ hiểu biết đầy đủ kiến thức về QHTD AT giữa nam sinh viên và nữ sinh viên
trường KHXH &NV (đơn vị %) 21
2.4. Biểu đồ thể hiện mức độ hiểu biết đầy đủ về con đường lây lan HIV/AIDS của sinh viên trường
KHXH &NV. 22
2.5. Biểu đồ thể hiện mức độ hiểu biết đầy đủ về con đường lây lan HIV/AIDS giữa sinh viên các khóa
(đơn vị %) 23
2.6. Biểu đồ thế hiện tương quan nam- nữ về mức độ hiểu biết các con đường lây nhiễm HIV/ AIDS giữa
sinh viên các khoa (đơn vị %). 23
2.7. Biểu đồ thể hiện nhu cầu tham gia các CLB, tổ, đội, nhóm có liên quan đến kiến thức GDGT, CS
SKSS trong nhà trường. 24
2.8. Biểu đồ thể hiện nhu cầu tham gia các CLB, tổ, đội, nhóm cung cấp kiến thức GDGT,SKSS giữa SV
các khóa trong nhà trường. 25
2.9. Biểu đồ thể hiện nhu cầu đưa GDGT và CS SKSS trở thành 1 môn học chính thức trong nhà trường
(đơn vị %). 26
2.10. Biểu đồ thể hiện mức độ tác động của các yếu tố môi trường xã hội đến nhận thức và nhu cầu của
sinh viên trường KHXH & NV về GDGT, CS SKSS (đơn vị %). 26


nhiễm HIV chủ yếu ở 2 thành phố: Hà Nộivà Tp.HCM. Số tuổi nhiễm HIV/AIDS ở Hà
Nội ngày càng được trẻ hóa: 75% tổng số người có tuổi đời dưới 30 tuổi mà con đường
lây nhiễm chủ yếu là QHTD khôngan toàn.
Gõ từ khóa “có cần thiết phải GDGT cho trẻ” trên trang Google có đến gần 5,1
triệu kết quả cho thấy sự quan trọng, cấp thiết của GDGT hiện nay. Cũng trên trang này
có hơn 8, 2 triệu kết quả thể hiện các ý kiến, góp ý về độ tuổi bắt đầu thực hiện việc
GDGT.
Rõ ràng GDGT là vấn đề đang được quan tâm, và có tầm quan trọng đối với lứa
tuổi học sinh, sinh viên hiện nay. Vì vậy, nhóm chúng tôi quyết định nghiên cứu đề tài:
“nhận thức và nhu cầu của sinh viên về vấn đề giáo dục giới tính” (nghiên cứu trường
hợp tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn).
8 2. Câu hỏi nghiên cứu:
Sinh viên Nhân văn có nhận thức và nhu cầu như thế nào về vấn đề GDGT?
Yếu tố nào có tác động lớn nhất đến nhận thức và nhu cầu của SV về GDGT?
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:
3.1.Ý nghĩa khoa học:
Vận dụng một số khái niệm, phương pháp nghiên cứu nhận thức, nhu cầu của sinh
viên về GDGT. Kết quả của nghiên cứu có thể bổ sung, hoàn chỉnh hoặc làm sáng tỏ
những luận điểm của lý thuyết đã sử dụng trong đề tài này.
3.2.Ý nghĩa thực tiễn:
Đề tài làm rõ thực trạng về nhận thức của sinh viên trong việc GDGT hiện nay tại
địa bàn nghiên cứu và tác động của những nhận thức đó tới nhu cầu và hành vi của các
đối tượng nghiên cứu.
Trên cơ sở phân tích nhận thức của sinh viên về GDGT ta thấy được việc GDGT
góp phần quan trọng và ảnh hưởng rất nhiều tới hành vi, cách ứng xử của HS-SV. Hoạt
động giáo dục giới tính giúp cho trẻ VTN- TN, đặc biệt sinh viên, có nhận thức đúng đắn
về vấn đề giới tính, QHTD, tình yêu,tình bạn,

viên trường ĐH KHXH và NV, cũng cần xem xét trên nhiều khía cạnh, đặt đối tượng
nghiên cứu trong mối quan hệ với các yếu tố khác. Để biết được hiệu quả của giáo dục
giới tính, những nhận thức và nhu cầu về GDGT trong sinh viên, cần phải xem xét thực
trạng của vấn đề giới tính và giáo dục giới tính trong phạm vi đối tượng trên.
7.1.2. Phương pháp luận chuyên biệt.
Đề tài đã sử dụng lý thuyết: lựa chọn hành vi hợp lý của Peter Blau.
7.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể.
7.2.1. Phương pháp định lượng:
Sử dụng phương pháp thu thập thông tin bằng phiếu trưng cầu ý kiến:
Nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp điều tra khảo sát qua bảng hỏi với kích
thước mẫu là 120, nghiên cứu được tiến hành đối với sinh viên thuộc trường ĐH KHXH
và NV- ĐHQG Hà Nội. Tìm hiểu nhận thức và nhu cầu của sinh viên về GDGT. Hơn nữa
10

tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của sinh viên hiện nay và ảnh hưởng như
thế nào đến nhận thức về giới tính của SV( chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống).
Cơ cấu mẫu:

7.2.2 Phương pháp định tính:
7.2.2.1. Phương pháp phân tích tài liệu:
Đề tài đã sử dụng phương pháp phân tích tài liệu những và những thông tin thu
thập được từ phiếu trưng cầu ý kiến, phỏng vấn sâu.
Trước hết là nghiên cứu “ Báo cáo kết qủa cuộc khảo sát tìm hiểu kiens thức, thái
độ và SKSS tuổi VTN”do Khuất Thu Hồng thực hiện theo yêu cầu của UNFPA và sở
Giáo dục Khánh Hòa.
Đề tài nghiên cứu “hành vi tình dục và kiến thức TDAT của học sinh THPT trên
địa bàn Hà Nội hiện nay” (nghiên cứu trường hợp tại trường PTTH Phan Đình Phùng-
Quận Ba Đình- Hà Nội). Nguyễn Thanh Vân. Luận văn Thạc Sỹ Xã hội học.2008.
Cuốn sách “ Giáo dục giới tính cho thanh thiểu niên” của Nguyễn Thành Công
(Nxb trẻ, năm 1997).

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NHẬN THỨC VÀ
NHU CẦU CỦA SINH VIÊN ĐHKHXH và NV VỀ GDGT.

1.1 . Cơ sở Triết học:
Phương pháp luận Marxist về CNDVBC: xem xét, lý giải các hiện tượng của đời
sống xã hội trong mối quan hệ phụ thuộc, tác động qua lại lẫn nhau. Nghĩa là khi xem xét
về nhận thức, thái độ và nhu cầu của SV về GDGT cần xem xét trong mối quan hệ với
các yếu tố khác: điều kiện KT, VH, XH….
1.2.Lý thuyết áp dụng.
Sử dụng lý thuyết Lựa chọn hành vi hợp lí vào đề tài nghiên cứu.
Lý thuyết này cho rằng, con người luôn hành động một cách có chủ đích, có suy
nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được kết quả tối đa
và chi phí tối thiểu. Hành động có xu hướng lặp lại nếu nó từng được thưởng trong quá
khứ, ngược lại không có xu hướng lặp lại những gì được phát hiện không có phần
thưởng. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, việc áp dụng các định đề cũng có phần hạn
chế, định đề được áp dụng để giải thích đó là sự lựa chọn giữa phần thưởng và chi phí.
Áp dụng lý thuyết vào đề tài nghiên cứu: Cá nhân luôn luôn có sự tính toán giữa
phần thưởng và chi phí. Mỗi một cá nhân khi lựa chọn một hành động luôn có sự tính
toán giữa chi phí mình bỏ ra và phần thưởng mình đạt được. Họ luôn hướng đến việc
thực hiện hành động sao cho đạt được phần thưởng tối đa và chi phí tối thiểu. Bởi vậy,
nếu cá nhân ý thức rõ ràng về những lợi ích của việc GDGT cao hơn so với những “chi
phí” mà họ phải bỏ ra để có được những kiến thức đó thì sẽ có sự thay đổi trong nhận
thức của họ về GDGT. Từ đó sẽ có những thay đổi trong hành động để có được những
kiến thức về GDGT. Và ngược lại, khi cá nhân thấy rằng lợi ích của việc GDGT ít hơn
những “chi phí” mà họ phải bỏ ra thì họ sẽ có xu hướng bàng quan với vấn đề GDGT.
1.3.Khái niệm công cụ:
1.3.1.Giáo dục:
Giáo dục là quá trình truyền lại kinh nghiệm từ thế hệ trước cho thế hệ sau, thế hệ

khoa Việt Nam 2, NXB từ điển Bách khoa Hà Nội, 2002).
14

Như vậy, Giáo dục giới tính nhằm giáo dục mối quan hệ nhân văn và có trách
nhiệm giữa nam và nữ trên các khía cạnh sinh học, sức khỏe sinh sản và tình dục. GDGT
là một khoa học liên ngành (tâm lý, y học, xã hội học).
Giáo dục giới tính là sự chuẩn bị cho thanh thiếu niên những hiểu biết để bước vào
đời để biết ứng xử với nhau một cách tôn trọng và có trách nhiệm và cũng để biết tự bảo
vệ sức khỏe sinh sản.
1.3.4.Nhu cầu:
Theo từ điển xã hội học Oxford: nhu cầu là cái gì đó được cho là cần thiết, đặc biệt
khi nó được cho là thiết yếu cho sự sinh tồn của một con người, tổ chức hay bất kì thứ gì
khác. Khái niệm này được sử dụng rộng rãi trong các khoa học xã hội, với sự chú ý đặc
biệt dành cho cái gọi là những nhu cầu con người. Nhu cầu thường được đối lập với
muốn, hay ước muốn, nhu cầu nói đến những thứ cần thiết, còn muốn nói đến những thứ
người ta ao ước muốn có.
Các nhà xã hội học, đặc biệt là những nhà chức năng luận, cũng thường dùng thuật
ngữ nhu cầu khi nghiên cứu sự vận hành của xã hội. Chẳng hạn, Talcott Parsons giải
thích những tiền đề chức năng của hệ thống xã hội- những cái cần thiết cho sự tồn tại của
xã hội- sự hẫu thuẫn về mặt động cơ thúc đẩy thích hợp cho bản thân hệ thống. Theo
mạch tư duy tương tự, những nhà Marxist nói đến những nhu cầu của chủ nghĩa tư bản,
nhắc nhiều nhất đến những nhu cầu cho sản xuất, tái sản xuất và hợp pháp hóa hệ thống.

1.3.5.Nhận thức:
Theo nghĩa triết học, nhận thức là quá trình phản ánh và tái tạo lại hiện thực ở
trong tư duy của con người, được quy định bởi những quy luật phát triển xã hội và không
thể tách rời với thực tiễn. Mục tiêu của nhận thức là đạt đến chân lý khách quan. Quá
trình nhận thức: thu thập kiến thức, hình thành khái niệm về hiện tượng thực tế giúp con
người hiểu biết về thế giới xung quanh. Quá trình nhận thức là để tích lũy kinh nghiệm từ
đó cải tạo thế giới.


Chương 2. THỰC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ NHẬN THỨC VÀ NHU CẦU CỦA SINH
VIÊN ĐHKHXH và NV VỀ VẤN ĐỀ GDGT.
2.1. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu:
Tổ chức tiền thân của trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học
Quốc gia Hà Nội là trường Đại học văn khoa Hà Nội (sắc lệnh số 45 do chủ tịch Hồ Chí
Minh kí 10- 10- 1945). Tiếp đó là trường Đại học tổng hợp Hà Nội ( 5-6-1956). Ngày
10-12-1993 Thủ tướng Chính Phủ ban hành nghị đinh 97/CP thành lập Đại học quốc gia
Hà Nội trong đó có trường Đại Học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Hằng năm nhà trường
tiếp nhận một lượng lớn sinh viên trong cả nước, năm 2012 tổng số sinh viên là 13.959
sinh viên, trong đó có 5472 sinh viên hệ chính quy, 4571 sinh viên không chính quy,
3057 học viên cao học, 297 nghiên cứu sinh, 562 sinh viên nước ngoài (26 sinh viên đại
học, 21 học viên cao học, 8 nghiên cứu sinh và 507 sinh viên học tiếng việt), đa số là nữ
sinh viên. Với đội ngũ cán bộ đông đảo các nhà khoa học trong đó có 332 giảng viên
chính thức và 156 thỉnh giảng.
Nhà trường thường xuyên tổ chức nhiều hội thảo với sự tham gia của các trường Đại học
và các nước bạn trên thế giới: kí thỏa thuận hợp tác với Đại học kinh tế Budapest, Đại
học tổng hợp Bungaria… Ngoài ra sinh viên trong trường thường xuyên tổ chức nhiều
hoạt động, thông qua các tổ, đội, nhóm: Đội Tuyên truyền sức khỏe sinh sản, CLB hoa
đá, Đội xung kích…
2.2.Tổng quan đề tài nghiên cứu:
Với lối sống hiện nay, một bộ phận không nhỏ vị thành niên, thanh niên đã có
QHTD trước hôn nhân, tăng tình trạng nạo phá thai… những vấn đề này đe dọa trực tiếp
đến SKSS của lớp trẻ Việt Nam. Đã có rất nhiều những nghiên cứu cũng như những đề
tài liên quan đến vấn đề TD và SKSS của thế hệ trẻ.
“ Báo cáo kết qủa cuộc khảo sát tìm hiểu kiến thức, thái độ và SKSS tuổi VTN”do Khuất
Thu Hồng thực hiện theo yêu cầu của UNFPA và sở Giáo dục Khánh Hòa. Cuộc khảo sát
được thực hiện tại sáu trường THCS và THPT, thời gian thu thập thông tin từ 4-1999 đến
17


(Nxb trẻ, năm 1997) cung cấp những kiến thức căn bản, chỉ dẫn thông tin cần thiết, nhằm
giúp cho các bạn trẻ trải qua các giai đoạn phát triển và giáo dục họ có được lối sống tình
dục lành mạnh trong tương lai, cách phòng chống sự lạm dụng tình dục, giải quyết những
xung đột ở lứa tuổi vị thành niên. Qua những thông tin trong cuốn sách này giúp ta nhận
thức rõ vai trò của giáo dục giới tính trong việc góp phần hình thành nhân cách của thanh
thiểu niên.
Qua bài viết : “giáo dục giới tính cho vị thành niên- nhìn từ một điểm trường”của
Ngọc Duyệt. Tác giả đã chỉ ra vai trò quan trọng của giáo dục giới tính. Trong bài viết
này tác giả đã tiến hành khảo sát tại một trường Trung Học Phổ Thông ở Bắc Ninh và kết
quả thu được là đa số học sinh không quan tâm đến vấn đề giáo dục giới tính: có 72,23%
mới chỉ nghe nói về quan hệ tình dục, 26,77% là chưa nghe nói. Không có kiến thức về
biện pháp tránh thai ở học sinh nam là 17,31%, học sinh nữ là 31,88%. Không có kiến
thức về các bệnh lây truyền qua đường tình dục nam là 28,81%, nữ là 38,41%. Nhu cầu
cần biết về kiến thức về giáo dục giới tính nam là 94,12% nữ là 95,42% mong muốn
được tiếp cận các thông tin về giáo dục giới tính.
Tên đề tài: “tìm hiểu nhận thức về giáo dục giới tính tại cấp trung học cơ sở ở khu
vực nông thôn” (trường hợp nghiên cứu là Trường Hợp Hòa- Tam Dương –Vĩnh Phúc)
trong bài viết này tác giả cũng đề cập đến đặc điểm tâm sinh lý của vị thành niên và thực
trạng đáng lo ngại về nạo phá thai ở lứa tuổi này ở Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu là
điều tra bảng hỏi Anket, phương pháp thu thập thông tin thứ cấp và sơ cấp (phỏng vấn
sâu và thảo luận nhóm) với 20 mẫu điều tra ngẫu nhiên ở mỗi lớp học từ lớp 6 đến lớp 9.
Kết quả thu được: thực trạng nhận thức về giới tính: 60 phiếu hỏi đưa ra thì 60% trong đó
đã được tiếp xúc với những thông tin về giáo dục giới tính. Tuy nhiên mối quan tâm về
giáo dục giới tính thì có sự khác nhau: 35,5% chọn về phát triển thể chất tâm sinh lý, 9%
chọn quan hệ giữa con trai và con gái có thể có thai, 6% chọn tác động xấu của việc nạo
phá thai tới sức khỏe, 5% chọn những hành vi thủ dâm, 3% chia đều cho hai phương án là
các bệnh lây lan qua đường tình dục và biện pháp tránh thai. Về nhu cầu được trang bị
19

đầy đủ kiến thức giáo dục giới tính là 88,3% đồng ý, trong đó 68,3% đông ý với nội dung

kiến thức về
QHTD AT
85%
Biểu đồ thể hiện mức độ nhận
thức đầy đủ kiến thức về QHTD AT

2.2. Biểu đồ thể hiện mức độ nhận thức đầy đủ kiến thức về QHTD AT.

Qua biểu đồ trên ta thấy, tuy số SV biết đến khái niệm liên quan đến khái niệm
GDGT có tỉ lệ cao, song con số thể hiện mức độ hiểu biết đầy đủ về một trong
những khía cạnh của GDGT- QHTD AT lại rất hạn chế. Chỉ có 15.4% SV có
nhận thức đầy đủ, trong khi số SV có nhận thức không đầy đủ là 84,6%. Qua số
liệu trên ta thấy công tác GDGT vẫn chưa mang lại hiệu quả cao. Kiến thức về
GDGT của SV còn nhiều hạn chế.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến nhận thức chưa đầy đủ ở SV, một trong số đó
xuất phát từ: nhà trường và gia đình chưa thực sự phát huy hết vai trò của mình
trong việc GDGT cho con em họ. Ngoài ra do bản thân mỗi cá nhân chưa có thái
độ tích cực trong việc tìm hiểu những kiến thức liên quan đến GDGT. Việc nhận
thức không đầy đủ về GDGT nói chung và QHTD AT nói riêng đã dẫn đến một số
hệ quả:
- Tỉ lệ nạo phá thai đặc biệt trong lứa tuổi VTN TN ngày càng có xu hướng gia
tăng.
- Gia tăng các bệnh qua đường tình dục.
Vì vậy ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và quá trình học tập của SV nói
riêng và ảnh hưởng đến quá trình phát triển của toàn xã hội nói chung.

21

2.1. Bảng số liệu thể hiện mức độ hiểu biết đầy đủ kiến thức về QHTD AT giữa sinh viên
các khóa thuộc trường KHXH & NV (đơn vị %).

sinh viên và nữ sinh viên trường KHXH &NV (đơn vị %).

Qua biểu đồ ta thấy, tương quan nam nữ về mức độ hiểu biết đầy đủ kiến thức
QHTD AT giữa SV các năm. Nữ có nhận thức đầy đủ với tỉ lệ 17,9%, cao hơn so
với 12,5% số nam có nhận thức đầy đủ kiến thức về QHTD AT. Bên cạnh đó, có
đến 87,5% số nam SV có nhận thức không đầy đủ về kiến thức QHTD AT.
Qua số liệu trên ta thấy được mối tương quan trong nhận thức giữa nam và nữ về
kiến thức về QHTD AT. Cả SV nam và nữ đều chưa có hiểu biết đầy đủ về QHTD
22

AT. Có tới 87,5% nam SV có nhận thức không đầy đủ và 82,1% nữ SV có nhận
thức không đầy đủ về kiến thức QHTD AT.

2.3.2. Kiến thức của SV về con đường lây nhiễm HIV/AIDS. 63%
37%
Hiểu biết đầy đủ Hiểu biết chưa đầy đủ

2.4. Biểu đồ thể hiện mức độ hiểu biết đầy đủ về con đường lây lan HIV/AIDS của
sinh viên trường KHXH &NV.

Số SV có hiểu biết đầy đủ về các con đường lây truyền HIV/AIDS có tỉ lệ cao hơn
so với số SV có nhận thức không đầy đủ về các con đường trên. Số SV nhận thức
đầy đủ chiếm 63,3% lí do của thực trạng trên là do qua các phương tiện thông tin
đại chúng, các môi trường như nhà trường, bạn bè…
Tuy nhiên tỉ lệ nhận thức không đầy đủ là 36.5%, con số này còn khá cao và nó
dẫn đến những hậu quả như tệ nạn xã hội ngày một gia tăng, đặc biệt là gia tăng
số người nhiễm HIV/AIDS, ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội.

60%
80%
100%
Nam Nữ
70.8
57.1
29.2
42.9
Hiểu biết đầy đủ
Hiểu biết chưa đầy đủ

2.6. Biểu đồ thế hiện tương quan nam- nữ về mức độ hiểu biết các con đường lây
nhiễm HIV/ AIDS giữa sinh viên các khoa (đơn vị %).

24

Nhận xét: Biểu đồ trên cho thấy mức độ hiểu biết của sinh viên nam về các con
đường lây nhiễm HIV/AIDS là cao hơn nữ giới, tới 1,2 lần. Tỉ lệ sinh viên nam
nhận thức chưa đầy đủ là 29,2% trong khi đó tỉ lệ sinh viên nữ nhận thức chưa đầy
đủ tới 42,9%.

Không có nhu
cầu
72%
Có nhu cầu
28%
Biểu đồ thể hiện nhu cầu tham
gia các CLB, tổ, đội, nhóm có
liên quan đến kiến thức
GDGT, CS SKSS trong nhà

19,0

Không có nhu c
ầu

66,7

69,2

73,1

81,025

0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
100
Sinh viên năm I
Sinh viên năm II
Sinh viên năm III


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status