hôn nhân đồng giới nhu cầu thực tiễn và quy định của pháp luật - Pdf 31

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT TƢ PHÁP

----------

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NIÊN KHÓA 2009–2013
Đề tài:

HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI
NHU CẦU THỰC TIỄN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

Giảng viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

HUỲNH THỊ TRÚC GIANG

LÂM THANH TRƢỜNG
MSSV: 5095580
Lớp: Luật Thƣơng Mại 3 – K35

Cần Thơ – 4/2013



Hôn nhân đồng giới – Nhu cầu thực tiễn và quy định của pháp luật

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

đầu tiên với các Bộ ngành hữu quan về việc dự thảo góp ý, sửa đổi, bổ sung Luật Hôn

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

1

SVTH: Lâm Thanh Trường


Hôn nhân đồng giới – Nhu cầu thực tiễn và quy định của pháp luật

nhân và Gia đình; trong đó có đề xuất cho phép kết hôn đồng giới, nhiều người đồng tính
ở Việt Nam bắt đầu có hy vọng vào những sự thay đổi tích cực.
Tuy nhiên để có thể đưa ra những nhận định chính xác nhất về mối quan hệ của
người đồng tính; cũng như đánh giá đúng các quy định hiện hành của pháp luật về hôn
nhân đồng giới và những hệ quả mà nó đem lại cho xã hội lại là một vấn đề đòi hỏi phải
có sự nghiên cứu, tìm hiểu khách quan trên nhiều phương diện.
Xuất phát từ chính những lí do vừa nêu, người viết chọn “Hôn nhân đồng giới –
nhu cầu thực tiễn và quy định của pháp luật” để làm đề tài cho luận văn này. Do chưa
có nhiều quy định cụ thể về quan hệ đồng giới, nguồn tài liệu phong phú nhưng liên quan
đến luật pháp thí lại hạn chế, cũng như tầm hiểu biết còn ít ỏi nên bài viết chỉ phân tích
được phần nào những khía cạnh nhỏ về mặt xã hội và pháp luật liên quan đến hôn nhân
đồng giới; từ đó chỉ ra một số điểm bất cập của luật Việt Nam, đồng thời kiến nghị
những giải pháp với mục đích góp phần hoàn thiện chế độ pháp lý trong vấn đề bảo vệ
quyền của người đồng tính nói chung và xác lập quan hệ hôn nhân giữa họ nói riêng.
2. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở pháp lý về hôn nhân và gia đình, từ đó đối chiếu,
phân tích đưa ra những nhận định về mặt luật học đối với vấn đề hôn nhân đồng giới.
Nghiên cứu quá trình hợp pháp hoá hôn nhân đồng giới trên phạm vi toàn thế giới và so
sánh với tình hình thực tiễn tại Việt Nam. Nguồn tài liệu chủ yếu phục vụ cho việc

thời tham chiếu với quy định pháp lý của các quốc gia trên thế giới về hôn nhân đồng
giới, nhằm đánh giá vần đề khách quan và toàn diện.
5. Bố cục đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn nhu cầu và vấn đề pháp lý đối với hôn nhân đồng
giới. Luận văn được xây dựng ngoài Lời nói đầu và phần Kết luận, có kết cấu bao gồm
hai chương.
Chương 1: Tìm hiểu chung về Hôn nhân đồng giới
Ở chương này người viết tập trung làm rõ khái niệm và đặc điểm của hôn nhân đồng
giới. Cuối chương là ý nghĩa của việc công nhận hoặc không công nhận hôn nhân đồng
giới đối với bản thân người đồng tính và cộng đồng.
Chương 2: Tình hình thực tiễn và vấn đề pháp lý về hôn nhân đồng giới. Một số giải
pháp
Chương này tìm hiểu chủ yếu về các quy định của pháp luật đối với hôn nhân đồng
giới, những bất cập và vấn đề pháp lý phát sinh. Bên cạnh việc trình bày những vấn đề
liên quan đến nhu cầu về hôn nhân, quan điểm của xã hội dành cho người đồng tính và
hôn nhân đồng giới. Cuối chương, người viết đề xuất những giải pháp nhằm giải quyết
các hạn chế và nhằm làm hoàn thiện hệ thống pháp luật.

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

3

SVTH: Lâm Thanh Trường


Hôn nhân đồng giới – Nhu cầu thực tiễn và quy định của pháp luật

CHƢƠNG 1
TÌM HIỂU CHUNG VỀ HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI
Trước khi đi sâu vào nghiên cứu dưới góc độ pháp lý, chúng ta nên tìm hiểu khái

1
2

Đoàn Văn Chúc, Văn Hóa Học, Nxb. Lao Động, Hà Nội, năm 2004.
Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển tiếng việt, Nxb. Khoa học xã hội, năm 1998.

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

4

SVTH: Lâm Thanh Trường


Hôn nhân đồng giới – Nhu cầu thực tiễn và quy định của pháp luật

Ở các nước theo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ (Common law), phổ biến những khái
niệm như: “Hôn nhân là sự liên kết pháp lý giữa một người nam và một người nữ với tư
cách là vợ chồng”, hoặc: “Hôn nhân là hành vi hoặc tình trạng chung sống giữa một
người nam và một người nữ với tư cách là vợ chồng”3.
Ở Việt Nam, theo quy định tại điều 6, khoản 8, Luật Hôn nhân và Gia đình năm
2000 (sửa đổi bổ sung năm 2010), thì: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi
đã kết hôn”. Các tác giả trong quyển “Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học” của trường
Đại học Luật Hà Nội cho rằng hôn nhân là: “Sự liên kết giữa người nam và người nữ dựa
trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, theo điều kiện và trình tự nhất định, nhằm chung
sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc và hoà thuận”4. Bản chất pháp
lý của hôn nhân ở nước ta đã khẳng định hôn nhân không phải là một hợp đồng mà là
một sự liên kết đặc biệt; sự liên kết này không phụ thuộc vào tính toán vật chất, mà dựa
trên cơ sở tình yêu giữa hai cá thể.
Quan hệ hôn nhân là một quan hệ dân sự đặc biệt hình thành dựa vào nền tảng của
đời sống hôn nhân. Để một mối quan hệ hôn nhân được xác lập trên cơ sở quy định của


1.1.2 Khái niệm hôn nhân đồng giới
Hôn nhân đồng đồng giới là một hình thức hôn nhân đặc biệt, được hình thành và
phát triển bên cạnh hôn nhân dị giới truyền thống - vốn là một biểu tượng mẫu mực cho
sự phát triển của xã hội loài người. Nhưng để có thể hiểu rõ thế nào là hôn nhân đồng
giới, chúng ta cần làm sáng tỏ một số khái niệm liên quan đến việc hình thành của quan
hệ hôn nhân này là: người đồng tính và xu hướng tính dục đồng giới.
Trước hết, người viết sẽ trình bày về vấn đề tính dục và xu hướng tính dục của các
đối tượng trong quan hệ hôn nhân đồng giới. Theo như quan điểm của Uỷ ban Giáo dục
và Thông tin về Tình dục (Hoa Kỳ) đưa ra năm 1970, “tính dục” dược hiểu là tổng thể
con người bao gồm mọi khía cạnh và đặc trưng của giới tính, có sự biến động không
ngừng trong suốt quãng đời; “xu hướng tính dục” là một trong những yếu tố tạo nên tính
dục của một con người, nó được hiểu là sự hấp dẫn về mặt tình cảm và thể chất đối với
một đối tượng thuộc giới nào đó. Xu hướng tính dục không phải là một sự lựa chọn mà
nó đã hình thành ngay từ lúc nhỏ bởi những tác động qua lại phức tạp giữa các yếu tố
sinh học, tâm lý và xã hội. Có ba xu hướng tính dục thường gặp là: xu hướng tính dục
đồng giới, xu hướng tính dục khác giới, xu hướng lưỡng tính dục. Những người phát
triển một xu hướng tính dục nào đó thường có hành vi tính dục ổn định; ví dụ: những
người có xu hướng tính dục khác giới thì thà sống một mình hoặc tìm bạn tình khác giới
chứ không thể chấp nhận thực hành tình dục với người cùng giới, còn những người có xu
hướng tính dục đồng giới thì cũng chỉ tìm bạn tình đồng giới hoặc đành chịu sống một
mình. Có người biểu lộ và cũng có người giấu kín xu hướng tính dục trong hành vi
thường nhật của mình. Một số người đã cố gắng trong nhiều năm để thay đổi xu hướng
tính dục từ đồng giới sang dị giới nhưng mọi sự thay đổi đều không mang lại kết quả như
mong đợi5.
Tiếp đến, người viết xin trình bày về người đồng tính – những chủ thể của quan hệ
hôn nhân đồng giới. Xét về bản chất người đồng tính là một con người bình thường trong
xã hội, có cấu tạo cơ thể hoàn toàn giống với người dị tính. Nhưng từ khi sinh ra họ đã
mang sẵn xu hướng tính dục đồng giới hoặc nhận thức xu hướng tính dục đồng giới được
hình thành dựa trên sự thích nghi với môi trường sống; điều đó khiến họ suy nghĩ, hành

mặt giới tính. Chủ thể của mối quan hệ hôn nhân này là những người đồng tính mang
trong mình xu hướng tính dục đồng giới. Việc xây dựng tình cảm giữa họ cũng tuân theo
một quy luật bất dịch của tự nhiên là: từ cảm xúc giới tính ban đầu, đi đến tình yêu, để
sau đó đạt đến kết tinh cuối cùng là hôn nhân và gia đình. Hôn nhân đồng giới được nhìn
nhận như một xu hướng của sự đa dạng hình thái hôn nhân trong thời đại mới bên cạnh
hôn nhân dị giới.
Nghiên cứu trên thực tiễn các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành ở Việt
Nam từ trước đến nay, dễ dàng nhận thấy chưa có một cơ sở pháp lý nào làm rõ khái
niệm hôn nhân đồng giới. Nhà nước chỉ công nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp được xác
lập bởi hai chủ thể là nam và nữ. Đồng thời khoản 5, điều 10, Luật Hôn nhân và Gia đình
năm 2000 đã nhấn mạnh: “Cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính”. Gói gọn
trong một câu văn chín từ, dễ dàng nhận thấy tinh thần chung là không cho phép người
đồng tính được thực hiện việc kết hôn với nhau. Như vậy, nếu căn cứ theo quy định của
pháp luật hiện hành để định nghĩa thì chỉ có thể nói: “Hôn nhân đồng đồng giới là một
hình thức hôn nhân vi phạm nguyên tắc pháp lý về chế độ hôn nhân gia đình, nếu có xảy
ra việc kết hôn thì đây là hành vi trái pháp luật và cần phải có những chế tài cần thiết để
cản trở hành vi đó” .

6

Lê Trần Huy Phú: Các nhà tâm thần học bảo vệ cho “bệnh” đồng tính luyến ái,
[truy cập ngày 02/02/2013].

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

7

SVTH: Lâm Thanh Trường



hôn nhân dị giới. Tức là một người đồng tính nam vẫn sẽ trở thành chủ thể pháp luật nếu
như họ kết hôn với một người nữ, và ngược lại người đồng tính nữ cũng vậy. Chính từ
những lí do vừa nêu; nên có thể dễ dàng nhận thấy mặc dù hai người đồng tính có yêu
nhau và đã trải qua thời gian tìm hiểu đủ sâu để đi đến quyết định cuối cùng là hôn nhân

7

Khoản 2, điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000(sửa đổi bổ sung năm 2010)

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

8

SVTH: Lâm Thanh Trường


Hôn nhân đồng giới – Nhu cầu thực tiễn và quy định của pháp luật

thì mối quan hệ của họ vẫn không có giá trị pháp lý, quyền chủ thể trong hôn nhân cũng
đương nhiên không được thừa nhận.
Sự khác biệt về giới tính luôn là yếu tố được đề cao hàng đầu trong việc xác lập
quan hệ hôn nhân khi căn cứ theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000
(sửa đổi bổ sung năm 2010). Xu hướng phối ngẫu dị tính trong hôn nhân vẫn là nguyên
tắc cơ bản. Chính yếu tố đó là rào cản lớn nhất cho việc trở thành chủ thể trong quan hệ
hôn nhân đồng giới của người đồng tính.
Quan hệ hôn nhân đồng giới không được sự thừa nhận của pháp luật Việt Nam
Tình yêu thuộc phạm trù xã hội, nhưng hôn nhân lại là một vấn đề liên quan đến yếu
tố pháp lý. Quan hệ hôn nhân được xem là một quan hệ dân sự đặc biệt, nên nó chỉ được
xác lập khi các chủ thể kết hôn với nhau theo quy định của pháp luật về điều kiện, thủ
tục đăng ký kết hôn. Nếu không xảy ra sự kiện kết hôn thì sẽ không đủ tiêu chuẩn để hai


sống và coi nhau như vợ chồng (trường hợp này phổ biến khi hai đối tượng không muốn
công khai về xu hướng giới tính thật sự của mình với gia đình). Luật Hôn nhân và Gia
đình năm 2000 chỉ cấm người đồng tính kết hôn, nhưng không cấm họ chung sống với
nhau. Tức là trong phạm vi điều chỉnh của mình, pháp luật không thể can thiệp sâu vào
đời sống tình cảm riêng tư của mỗi cá nhân. Đồng thời luật cũng không thừa nhận việc
chung sống như vợ chồng mà không có đăng ký (ngay cả với quan hệ giữa những người
dị giới). Do không được phép kết hôn nên dù có yêu thương, gắn bó, chung sống với
nhau lâu dài như thế nào đi nữa; thì trước pháp luật hai người đồng tính vẫn chỉ được
xem là hai thực thể hoàn toàn tách biệt và đương nhiên sẽ không có bất kì một ràng buộc
pháp lý nào cho mối quan hệ giữa họ.
Bên cạnh hai nhận định vừa nêu ở trên, thì Quyền kết hôn cũng được xem là đặc
điểm quan trọng để giúp chúng ta có thể đưa ra nhận định chính xác về quan hệ hôn nhân
đồng giới. Xin được nhắc lại, quyền kết hôn là một trong những quyền nhân thân cơ bản
và tự nhiên nhất mà xã hội cũng như bất kỳ Nhà nước nào cũng phải thừa nhận. Mỗi cá
nhân đều có quyền được sống với người mà mình yêu thương thông qua sự kiện quan
trọng là kết hôn. Dưới góc độ pháp luật, quyền kết hôn là một quyền dân sự đặc biệt gắn
liền với cá nhân, thuộc nhóm quyền nhân thân có điều kiện; nên chỉ những ai có đủ năng
lực pháp luật, năng lực hành vi và tuân thủ nghiêm túc những quy định pháp lý về điều
kiện kết hôn thì mới có thể trở thành chủ thể trong quan hệ hôn nhân. Ghi nhận theo
nguyên tắc bình đẳng về mặt pháp luật dân sự thì mỗi cá nhân đều có quyền kết hôn mà
không bị phân biệt đối xử.
Người đồng tính cũng được xem là thực thể của xã hội, công dân của một đất nước;
vì vậy họ cũng có quyền được kết hôn. Quyền kết hôn luôn được nhận định là một thành
phần thiết yếu trong nhóm các quyền cơ bản cần được bảo vệ của người đồng tính. Theo
quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy
định có quyền tự do kết hôn”8. Luật pháp Việt Nam chỉ nhìn nhận hai giới tính cơ bản là
nam và nữ trong phạm vi điều chỉnh của mình; nghĩa là ở trường hợp này người đồng
tính nam sẽ được ghi nhận với giới tính được minh thị trên giấy tờ hộ tịch hợp pháp là
“nam” và một người đồng tính nữ sẽ được nhìn nhận với giới tính “nữ” trong các vấn đề

tính chỉ tồn tại trên thực tế, mà không nhận được bất kỳ sự điều chỉnh nào từ các chế
định hôn nhân gia đình. Khi phân tích đặc điểm của hình thức hôn nhân đồng giới, chúng
ta chỉ có thể triển khai từ sự phủ nhận của pháp luật, và từ chính mối quan hệ của hai
người đồng tính; chứ không thể dựa vào những cơ sở pháp lý cụ thể giống như đối với
các quan hệ pháp luật khác.
1.3 Pháp luật một số quốc gia về hôn nhân đồng giới
Tùy theo tình hình về kinh tế, văn hóa, chính trị mà mỗi quốc gia sẽ có những
chuẩn mực riêng về nhận thức giới tính; người đồng tính và quan hệ hôn nhân đồng giới
có thể sẽ được quốc gia này ủng hộ nhưng đồng thời bị quốc gia khác phản đối. Ở những
nơi hôn nhân đồng giới được công nhận, người ta xem vấn đề đồng tính như một xu
hướng phát triển hành vi tính dục bình thường; còn ở những nơi đồng tính bị phản đối,
xã hội coi quan hệ đồng giới là bệnh hoạn, tội lỗi, thậm chí bị pháp luật cấm đoán. Căn
cứ vào cục diện thế giới hiện nay, có thể phân loại thành các nhóm quốc gia sau:
1.3.1 Những quốc gia công nhận hôn nhân đồng giới 9
Hà lan: Hà lan có thể được xem là quốc gia đầu tiên trên thế giới hợp pháp hóa hôn
nhân đồng giới. Hôn nhân đồng giới được công nhận ở quốc gia này kể từ ngày
01/04/2001, sau khi Chính phủ đã tiến hành các hoạt động cần thiết nhằm thông qua một
đạo luật không chỉ cho phép những cặp vợ chồng đồng tính được phép kết hôn mà còn
cho họ nhận con nuôi. Ngoài ra luật Hôn nhân của quốc gia này cũng có một số thay đổi
về phạm vi điều chỉnh trong quan hệ hôn nhân, theo đó: “Hôn nhân có thể được ký kết
9

Tường Linh (theo Foreign Policy), Hôn nhân đồng giới nhìn từ Thế giới, Thể Thao và Văn Hóa
[truy cập
ngày 3/02/2013].

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

11


mặt pháp lý tối đa và được Chính phủ hỗ trợ tài chính trong một số vấn đề liên quan,
giống như những cặp vợ chồng dị giới khác.
Nam Phi: Hôn nhân đồng giới được hợp pháp hóa chính thức tại Nam Phi kể từ khi
Liên minh Luật Dân sự có hiệu lực ngày 30/11/2006. Nam Phi trở thành quốc gia thứ
năm trên thế giới và đầu tiên ở châu Phi công nhận hôn nhân đồng giới. Hành động của
Nam Phi hết sức đặc biệt và cũng đóng vai trò như ngọn lửa tiếp thêm sức mạnh tinh
thần cho phong trào đòi quyền bình đẳng của hôn nhân đồng giới trên toàn thế giới, nếu
biết rằng đây là một quốc gia mà tình dục đồng giới gần như là bị cấm kị và đặt ra ngoài
vòng pháp lý. Pháp luật cũng cấm những hành vi phân biệt đối xử dành cho các cặp vợ
chồng đồng tính, thể hiện tại phần 9 của Hiến pháp Nam Phi và Đạo luật phân biệt đối
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

12

SVTH: Lâm Thanh Trường


Hôn nhân đồng giới – Nhu cầu thực tiễn và quy định của pháp luật

xử không lành mạnh. Tòa án Hiến pháp ra phán quyết có sự đồng ý của Bộ trưởng Bộ
phúc lợi và phát triển dân số cho phép các cặp vợ chồng đồng giới được nhận con nuôi
chung và con nuôi của nhau nếu như họ kết hôn, Tòa cũng ra phán quyết quy định về chế
độ hưởng thừa kế lẫn nhau của các cặp vợ chồng đồng giới.
Na Uy: Hôn nhân đồng giới đã trở thành quy phạm pháp luật được điều chỉnh trong
luật của Na Uy kể từ khi Đạo luật trung lập hóa giới tính kết hôn được ban hành ngày
01/01/2009, sau khi việc kết hôn đồng giới được cho phép chính thức kể từ tháng
06/2008. Na Uy trở thành quốc gia thứ sáu trên thế giới hợp thức hóa hôn nhân đồng
giới. Pháp luật cho phép các cặp vợ chồng đồng giới được nhận nuôi con nuôi và thụ tinh
nhân tạo.
Thụy Điển: Dù là một trong những nước đầu tiên trên thế giới cho phép các cặp đồng

1.3.2 Những quốc gia không công nhận hôn nhân đồng giới
Bên cạnh những quốc gia có cái nhìn cởi mở và thể hiện thái độ chấp nhận cùng
những hành động bảo vệ tích cực; vẫn còn một số Nhà nước thẳng thắn thể hiện quan
điểm không chấp nhận hôn nhân đồng giới, hoặc thậm chí không thừa nhận quyền của
người đồng tính trong luật pháp.
Ở Iran, dựa trên các quan điểm bảo thủ từ đạo Hồi; nên Nhà nước cho rằng ngoài
quan hệ tình dục của những cặp vợ chồng dị giới đã kết hôn, những quan hệ tình dục
khác là bất hợp pháp. Luật pháp Iran không cho phép quan hệ tình dục đồng tính, các
hành vi này bị coi là phạm tội kê gian và bị phạt rất nặng, có thể bị tử hình. Ở Cộng hòa
Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Chính phủ một mặt công nhận sự tồn tại trên thực tế của
người đồng tính và yêu cầu xã hội tôn trọng những người này; mặt khác phản đối các đặc
điểm thuộc văn hóa đồng tính phương Tây, cho đây là sự ủng hộ chủ nghĩa hưởng thụ,
phân chia giai cấp và tình dục bừa bãi. Pháp luật nước này không có quy định về chống
phân biệt đối xử, kỳ thị dựa trên xu hướng tình dục. Quan hệ đồng tính luyến ái không bị
xem là vi phạm pháp luật nhưng cũng không được bàn tán công khai ở đất nước này. Với
quan điểm hôn nhân nam nữ là nền tảng vững cho xã hội, luật pháp Triều Tiên không
thừa nhận kết hôn đồng giới, kết hợp dân sự hay đối tác dân sự 10. Ở một quốc gia Hồi
giáo khác như Pakistan, điều 377 của Bộ luật Hình sự nước này xem quan hệ đồng tính
là tội trái tự nhiên11. Tại Singapore, điều 377A bộ luật Hình sự (sửa đổi năm 2007) coi
việc quan hệ tình dục đồng thuận giữa hai người đàn ông là phạm tội hình sự, có mức án
tù tối đa đến 2 năm. Tháng 3/2010 ông Tan Eng Hong bị bắt quả tang khi đang quan hệ
tình dục với một người đàn ông khác và bị gán tội “Có hành vi ô uế nơi công cộng” và
bị phạt 3000 SGD12...
Theo báo cáo của Tổ chức ILGA (International Lesbian, Gay, Bisexual, Trans and
Intersex Association) có hơn 30 quốc gia trên thế giới chấp nhận đồng tính nữ nhưng
không chấp nhận đồng tính nam. Cũng theo báo cáo này, quan hệ đồng tính bị cấm tại 44
quốc gia trên thế giới, trong đó có một số quốc gia như Iran, Mauritania, Saudi Arabia,
Sudan, Yemen và một phần của Nigeria và Somalia có thể xử phạt đến chết nếu phát
hiện quan hệ đồng tính.
Có thể thấy, dù đã có những tiến bộ trong việc giảm kì thị và từng bước tôn trọng

Hôn nhân đồng giới là một hình thức hôn nhân đặc biệt, về cơ bản nó đáp ứng đủ
những tính chất cần thiết của một mối quan hệ hôn nhân, để có thể được xã hội và pháp
luật công nhận. Công nhận hôn nhân đồng giới không chỉ có ý nghĩa rất lớn đối với bản
thân những người đồng tính mà mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng.
Đối với bản thân những người đồng tính
Thứ nhất: Hôn nhân đồng giới thật sự là một vấn đề nhạy cảm, nó liên quan trực
tiếp đến quyền lợi của con người. Việc công nhận thể hiện sự bảo vệ của Nhà nước và
pháp luật, lẫn cộng đồng dành cho người đồng tính nói chung và đối với mối quan hệ mà
họ đóng vai trò là chủ thể nói riêng. Về nguyên tắc khi đã công nhận hôn nhân đồng giới
có nghĩa là đã ghi nhận quyền kết hôn bình đẳng của người đồng tính, như vậy ở một góc
cạnh nào đó thì quyền con người của họ cũng đã được nhìn nhận một cách khách quan và
toàn diện.
Như chúng ta đã biết, con người luôn được xem là một thiết chế quan trọng của
xã hội và chủ thể đặc biệt pháp luật. Hiến pháp của bất kỳ quốc gia nào cũng đều thể
hiện khát vọng bảo vệ quyền con người, tạo điều kiện cho công dân phát triển một cách
công bằng và bình đẳng. Điều này có nghĩa là mọi người dân không phân biệt giới tính,
tôn giáo, sắc tộc, tình trạng cơ thể, xu hướng tính dục...đều có quyền bình đẳng như
nhau, và quyền của họ được bảo vệ bởi Hiến pháp và pháp luật. Ở Việt Nam, trong Hiến
pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung 2001) có các quy định rất rõ ràng và cụ thể về quyền của
công dân: các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

15

SVTH: Lâm Thanh Trường


Hôn nhân đồng giới – Nhu cầu thực tiễn và quy định của pháp luật


người khác giới. Ngoài ra việc cam kết hành vi chung thủy khi sống chung trong quan hệ
hôn nhân dựa vào Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn hợp pháp sẽ làm giảm thiểu đáng kể
khả năng lây truyền các bệnh qua đường tình dục do quan hệ một cách bừa bãi, mang
13

Điều 50, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001)
Điều 52, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001)
15
Điều 52, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001)
14

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

16

SVTH: Lâm Thanh Trường


Hôn nhân đồng giới – Nhu cầu thực tiễn và quy định của pháp luật

đến những lợi ích rất tích cực cho sự phát triển của sức khỏe cộng đồng và chi phí hiệu
quả đối với các vấn đề liên quan đến y tế, phúc lợi xã hội. Pháp luật buộc người đồng
tính phải có trách nhiệm với bản thân và với người hôn phối trong hôn nhân. Tạo một
hành lang pháp lý vững chắc cho mối quan hệ đó trở nên lâu bền, hạn chế tối đa những
vấn nạn đáng tiếc như khi chưa được pháp luật và xã hội công nhận như: dễ yêu, dễ sống
chung, dễ chia tay. Điều đó mang lại cho từng cá nhân cảm giác an toàn về mọi khía
cạnh của cuộc sống chung, các cá nhân sẽ cảm nhận về mối quan hệ đồng tính là thực tế,
có trách nhiệm và thực hiện việc cam kết, nỗ lực đầu tư cho cuộc sống chung; cải thiện
chất lượng cuộc sống, chất lượng mối quan hệ giữa hai cá thể trong xã hội. Ngoài ra khi
đã công nhận hôn nhân đồng giới, mọi quyền lợi của vợ chồng, con cái và những người



Hôn nhân đồng giới – Nhu cầu thực tiễn và quy định của pháp luật

Thứ ba: Mỗi con người, dù với những bản dạng tình dục khác nhau, đều có quyền
kiếm tìm hạnh phúc. Nếu thừa nhận tính dục đồng giới không phải là bệnh mà là một xu
hướng tự nhiên, không thể khuyến khích hay ngăn cản; thì việc hợp pháp hóa nhu cầu
cam kết hôn nhân giữa những người đồng tính một mặt giúp nâng cao ý thức về trách
nhiệm và bổn phận của người trong cuộc, mặt khác giúp Nhà nước phát huy rõ nét vai
trò bảo vệ, điều chỉnh, kiểm soát đảm bảo cho các quan hệ dân sự phát sinh giữa những
cá thể được phát triển một cách ổn định. Khi cá nhân không phân biệt là dị tính hay đồng
tính thực sự tìm thấy hạnh phúc cho riêng mình; họ sẽ có điều kiện để sống tốt hơn, làm
việc tốt hơn, và tất yếu đẩy mạnh sự phát triển của cả xã hội. Đó sẽ là một xã hội tôn
trọng sự đa dạng và khác biệt một cách thực tế mà con người luôn muốn hướng tới.
Ngoài ra nếu pháp luật đã công nhận hôn nhân đồng giới, chắc hẳn sẽ không còn tiếp tục
tồn tại những bản án ly hôn từ kết hôn giả tạo (do một người đồng tính dưới vỏ bọc dị
tính kết hôn với một người khác giới nhằm che đậy). Như vậy việc xác lập quan hệ hôn
nhân cũng sẽ ổn định một cách có trật tự; giá trị của những cuộc hôn nhân cũng vì thế mà
không bị đe dọa.
Quan điểm xã hội đôi khi có sức tác động mạnh mẽ đến những nhà làm luật để hình
thành nên luật pháp, và ngược lại pháp luật góp phần quan trọng trong việc điều chỉnh
quan điểm xã hội. Để nâng cao vai trò và phát triển ý thức trong quan điểm xã hội; ngoài
các biện pháp tích cực khác, thì không thể thiếu vai trò của pháp luật và ý thức pháp
quyển. Vì vậy việc pháp luật thừa nhận quan hệ hôn nhân đồng giới, cũng chính là hành
động tích cực nhằm giảm thiểu cái nhìn kì thị, thiếu thiện cảm vốn đã tồn tại từ lâu trong
suy nghĩ của mọi người; từ đó tạo điều kiện để những người đồng tính mạnh dạn sống
thật với bản thân và dũng cảm đứng lên đấu tranh cho quyền lợi của chính mình. Đưa
hôn nhân đồng giới từ một hình thức hôn nhân đặc biệt chịu nhiều thiệt thòi, từng bước
bình thường hóa và được sự công nhận rộng rãi của xã hội.
1.4.2 Ý nghĩa của việc không công nhận hôn nhân đồng giới

thách riêng. Từ đó, việc phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của mỗi gia
đình Việt Nam là một yêu cầu bức thiết cho toàn xã hội. Một trong những động lực quan
trọng thúc đẩy sự phát triển đất nước, chính là sự vững mạnh từ bên trong của mỗi gia
đình. Chính vì những lí do đó, việc không công nhận hôn nhân đồng giới sẽ góp phần
bảo vệ hệ giá trị gia đình truyền thống trước những thử thách của xã hội hiện đại.
Nhiều ý kiến lại cho rằng nên kịch liệt phản đối hôn nhân đồng giới dưới mọi hình
thức, vì nếu hợp pháp hóa hình thức hôn nhân này, thì sẽ tạo điều kiện cho một bộ phận
giới trẻ ăn chơi đua đòi, dẫn đến hệ lụy xấu khôn lường. Và trên thực tế, đã xuất hiện
những cặp đôi “đồng tính bệnh lý” từ lối sống lệch lạc, chứ không phải đồng tính bẩm
sinh.. Tâm lý học đòi và bị bạn bè rủ rê đã khiến số lượng thanh thiếu niên sa chân vào
lối sống buông thả ngày càng nhiều, một số chỉ do đua đòi rồi trở thành đồng tính. Hầu
hết các đối tượng này đều thừa nhận, khi gia nhập thế giới thứ ba, bản thân họ luôn bị
thôi thúc, không cưỡng lại được cho dù biết trước hậu quả. Đáng buồn là có không ít em
gái chỉ vì bế tắc có tính nhất thời như bị điểm kém, giận dỗi với bạn bè, gia đình đã thay
đổi hình dáng bên ngoài như cắt tóc, mặc quần áo con trai, để gia nhập các nhóm đồng
tính. Có người từ chỗ giả đồng tính đã thành đồng tính thật và việc muốn thoát ra khỏi
mối tình giả đồng tính là điều không hề dễ dàng. Vì vậy nếu công nhận hôn nhân đồng
giới đôi khi sẽ góp phần tạo nên những hệ lụy, làm cho giới trẻ dễ bị lôi kéo và dần càng
xuất hiện nhiều cặp đôi đồng tính xác lập quan hệ hôn nhân hơn. Như vậy giá trị của hôn
nhân dị giới sẽ không được đảm bảo.
Công nhận hay không công nhận việc kết hôn giữa những người cùng giới tính hiện
là vấn đề gây nhiều tranh cãi. Theo người viết, nếu nhìn nhận hôn nhân đồng giới dưới
góc độ là một hiện tượng không thể tránh khỏi; thì xã hội và pháp luật cần có thái độ
đồng cảm đối những người đồng tính, tạo điều kiện cho họ tham gia bình thường vào
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

19

SVTH: Lâm Thanh Trường


nghĩ tiêu cực của xã hội về người đồng tính nói chung và hôn nhân đồng giới nói riêng.
Từ việc đưa ra những nguyên tắc cơ bản để bảo vệ cho quan hệ hôn nhân đồng giới và
các chủ thể trong mối quan hệ hôn nhân đó sẽ góp phần xây dựng một xã hội công bằng,
văn minh đảm bảo tất cả mọi người đều được thụ hưởng các về quyền nhân thân triệt để.
Từng bước hoàn thiện nền pháp luật, nâng cao vị trị pháp lý của Việt Nam trên bản đồ
pháp luật quốc tế. Chính vì lẽ đó, người viết ủng hộ quan điểm nên công nhận hôn nhân
đồng giới hoặc cho phép chung sống có đăng ký đối với các cặp đôi đồng giới; và sẽ
hướng bài viết của mình theo quan điểm này.

GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang

20

SVTH: Lâm Thanh Trường


Hôn nhân đồng giới – Nhu cầu thực tiễn và quy định của pháp luật

CHƢƠNG 2
TÌNH HÌNH THỰC TIỄN VÀ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ
HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI. MỘT SỐ GIẢI PHÁP
Bất kì một quan hệ nào trong xã hội cũng cần có sự điều chỉnh từ phát luật. Đối với
những mối quan hệ phát sinh trên cơ sở tình cảm như quan hệ hôn nhân thì vai trò của
pháp luật lại càng chứng tỏ được tầm quan trọng. Ở chương này, người viết sẽ tập trung
phân tích các chế định pháp lý liên quan đến hôn nhân và gia đình. Đối chiếu với nhu cầu
cũng như thực trạng về quan hệ đồng giới, từ đó chỉ ra những ưu khuyết điểm trong quy
định của luật. Đồng thời kiến nghị các giải pháp nhằm bảo đảm cho quyền và lợi ích của
người đồng tính trong vấn đề hôn nhân.
2.1 Nhu cầu thực tiễn về hôn nhân đồng giới trong giai đoạn hiện nay
Theo cách lí giải về mặt ngôn ngữ thì nhu cầu được xem là một hiện tượng tâm lý; là

Hôn nhân đồng giới – Nhu cầu thực tiễn và quy định của pháp luật

cứu khác do Tổ chức phi chính phủ CARE thực hiện cũng chỉ ra con số dao động từ
khoàng 50.000 đến 125.000 người16. Do đồng tính không được ghi nhận như một loại
giới tính theo quy định của pháp luật nên sẽ khó khăn trong việc đưa ra con số thống kê
chính xác nhất từ những cuộc điều tra về nhân khẩu. Tuy nhiên qua những số liệu vừa
nêu, có thể thấy một điều là số người đồng tính công khai trong xã hội đang ngày càng
gia tăng; khi đó nhu cầu về hôn nhân của họ cũng có sự thay đổi tương ứng. Theo kết
quả điều tra được thực hiện trên nhóm khoảng 2.400 người đồng tính nữ được Viện
nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE) thực hiện vào năm 2012 đã cho kết quả
có 92% số người được hỏi (tương ứng với khoảng 2.200 người) mong muốn pháp luật
cho phép kết hôn đồng giới. Cũng trong năm 2012 một cuộc khảo sát trên mạng Internet
được thực hiện bởi Trung tâm bảo vệ quyền của người đồng tính, song tính và chuyển
giới tại Việt Nam (ICS) từ ngày 6/6/2012 đến ngày 12/6/2012 thông qua việc tổng hợp ý
kiến từ 5.000 người đồng tính nam và nữ tham gia. Nghiên cứu từ những người đồng
tính nam đã chỉ ra kết quả: khoảng 71% số người mong muốn được pháp luật cho phép
kết hôn đồng giới, 25% muốn được chung sống như vợ chồng có đăng ký, khoảng 4%
muốn được chung sống nhưng không đăng ký. Nghiên cứu từ đồng tính nữ cho thấy:
77% trong số người được khảo sát mong muốn được kết hôn với nhau, 16% nhìn nhận
việc kết hôn là quan trọng, 3% không muốn kết hôn vì sợ sự ràng buộc hoặc muốn che
giấu xu hướng tính dục, số còn lại không phản hồi17. Những cuộc khảo sát trên chỉ thể
hiện một cách tương đối về nhu cầu hôn nhân của người đồng tính trong xã hội. Tuy
nhiên thông qua những con số này đã phản ánh phần nào mong muốn của người đồng
tính đối với việc chung sống và được pháp luật thừa nhận về quan hệ hôn nhân. Điều đó
chứng tỏ nhu cầu về hôn nhân là có thật, nó hiện hữu từng ngày và được xem là mục tiêu
đấu tranh quan trọng hàng đầu của cộng đồng người đồng tính tại Việt Nam.
Trong phạm vi nghiên cứu về nhu cầu hôn nhân của người đồng tính hiện nay, mở
rộng ra nhu cầu đó không chỉ là của riêng hai người trong một mối quan hệ; mà nó còn
mang giá trị nhân văn rất lớn, là mục tiêu chung của cả cộng đồng. Đối với người dị tính,
do mối quan hệ của họ được sự nhìn nhận và bảo vệ từ pháp luật, nên “trai lớn dựng vợ,

chính đáng, thể hiện khát vọng bình đẳng trong mọi mặt cuộc sống. Nhu cầu đó không
chỉ nhận được sự quan tâm của những người đồng tính mà còn của toàn xã hội. Vì vậy
pháp luật không công nhận kết hôn đồng giới nhưng không thể nào phủ nhận hoặc cấm
đoán người đồng tính bày tỏ nhu cầu về hôn nhân.
2.2 Tình hình thực tế về quan hệ đồng giới ở Việt Nam
Trong giai đoạn hiện nay, nhu cầu về hôn nhân như đã trình bày không chỉ tồn tại
trên mặt lý thuyết, những người đồng tính đã mạnh dạn đưa nhu cầu đó vào thực tiễn đời
sống. Từng bước biến những khát vọng của bản thân thành hiện thực. Bất chấp dư luận
xã hội và pháp luật chưa cho phép kết hôn đồng giới, những cặp đồng tính nam hoặc nữ
vẫn tổ chức lễ cưới một cách công khai và đúng với phong tục cưới hỏi truyền thống.
Một vài trường hợp điển hình được báo chí đưa tin, có thể kể đến như: đám cưới của cặp
đôi Nguyễn Thái N. và Đinh Công K. được tổ chức vào ngày 30/12/2006 tại Canada –
thường được đề cập như một ví dụ tiêu biểu khi nói đến hôn nhân đồng giới; đám cưới
đồng tính nữ của Quang M. Và Thùy L. diễn ra ở Hà Nội vào cuối năm 2010; đám cưới
của cặp đồng tính nam N. và P. diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh vào đầu năm 2012;
đám cưới giữa hai chàng trai Quốc B. và Văn H. được tổ chức ở Hà Tiên, Kiên Giang
vào tháng 5/2012...18
Song song với việc tổ chức đám cưới, tình trạng những cặp đồng tính chung sống
với nhau tiếp diễn ngày càng nhiều. Mặc dù pháp luật không thừa nhận quan hệ hôn nhân
đồng giới, nhưng chuyện tình yêu và nhu cầu chung sống vẫn tồn tại như một điều không
thể tránh khỏi. Nhiều cặp đôi cùng là nam hoặc cùng là nữ đã sinh hoạt với nhau như gia
đình dưới một mái nhà. Thực tế cho thấy nhiều cặp đồng tính sống bên nhau rất bền bỉ.
Có thể kể đến trường hợp cặp đồng tính nữ Hồng L. và Thị C. được hãng Thông tấn A.P
đăng loạt ảnh để ca ngợi về tình cảm chân thành và chung thủy trong suốt hơn 2 năm
18

Bảo Nam (tổng hợp), Những đám cưới đồng tính gây xôn xao ở Việt Nam, Cổng thông tin Zing.vn
[truy cập ngày
5/12/2012].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status