Nhận thức của sinh viên về quan hệ tình dục trước hôn nhân - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

TẠ THỊ HẰNG

NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN VỀ QUAN HỆ
TÌNH DỤC TRƯỚC HÔN NHÂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Mã số: 60 31 80

Hà Nội - 2011


BẢNG CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Chữ viết tắt

Xin đọc là

ĐHKHTN

Đại học Khoa học Tự nhiên

ĐHKHXH&NV

Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

QHTD


X2

Hệ số tương quan

AIDS

Acquired Immune Deficiency Syndrom (Hội chứng
suy giảm miễn dịch mắc phải)

HIV

Human Immune Deficiency Virus (Siêu vi khuẩn gây
suy giảm miễn dịch ở người)


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Đặc điểm của khách thể.
Bảng 3.1: Các nguồn thông tin của sinh viên về QHTDTHN.
Bảng 3.2: Sinh viên xem phim ảnh, sách báo khiêu dâm.
Bảng 3.3: Nhận thức của sinh viên về bệnh LTQĐTD và HIV-AIDS.
Bảng 3.4: Đánh giá của sinh viên về kiến thức sức khỏe sinh sản của bản thân.
Bảng 3.5: Nhận thức của sinh viên về mối quan hệ giữa tình yêu và tình dục.
Bảng 3.6 : Sinh viên hiểu về quan hệ tình dục.
Bảng 3.7: Nhận thức của sinh viên về QHTD trước khi hứa hôn.
Bảng 3.8: Nhận thức về QHTD sau khi hứa hôn.
Bảng 3.9: Nhận thức của sinh viên về QHTDTHN đối với nam.
Bảng 3.10: Nhận thức của sinh viên về QHTDTHN đối với nữ.
Bảng 3.11: Nhận thức của sinh viên về đạo đức của nữ giới.
Bảng 3.12: Nhận thức của sinh viên về sự cần thiết lên án của xã hội đối với
QHTDTHN.

CHƢƠNG 1: CỞ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ........................ 4
1.1. Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu quan hệ tình dục trƣớc hôn nhân của thanh
niên ...................................................................................................................... 4
1.1.1. Những công trình nghiên cứu về quan hệ tình dục trước hôn nhân của
thanh niên ở nước ngoài. ..................................................................... 4
1.1.2. Những công trình nghiên cứu về quan hệ tình dục trước hôn nhân của
thanh niên ở trong nước. ..................................................................... 6
1.2. Một số khái niệm cơ bản ........................................................................... 10
1.2.1. Nhận thức .......................................................................................... 10
1.2.2. Sinh viên ........................................................................................... 14
1.2.3. Quan hệ tình dục................................................................................ 19
1.2.4. Quan hệ tình dục trước hôn nhân ....................................................... 25
1.2.5. Nhận thức về quan hệ tình dục trước hôn nhân .................................. 30
CHƢƠNG 2: TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ..................................................... 36
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ....................................................................... 36
2.1. Nghiên cứu lý luận ..................................................................................... 36
2.2. Nghiên cứu thực tiễn.................................................................................. 36
2.2.1. Mẫu nghiên cứu ................................................................................. 36
2.2.2. Các phương pháp nghiên cứu ............................................................. 39
2.2.3. Các giai đoạn nghiên cứu ................................................................... 42
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................ 43
3.1. Nhận thức của sinh viên về QHTDTHN ................................................... 43
3.1.1. Các nguồn thông tin của sinh viên về QHTDTHN ............................. 43
3.1.2. Nhận thức của sinh viên về mối quan hệ tình yêu và tình dục ............ 50
3.1.3. Nhận thức của sinh viên về thực trạng QHTDTHN ............................ 63
3.2. Nhận thức của sinh viên về nguyên nhân và hậu quả QHTDTHN. ........ 79
3.2.1. Nhận thức của sinh viên về nguyên nhân QHTDTHN ....................... 79
3.2.2. Nhận thức của sinh viên về hậu quả QHTDTHN ............................... 90



Thế hệ trẻ, đặc biệt là lứa tuổi học sinh, sinh viên, đang có những cách nhìn
nhận sai lệch về sự hiện đại của những lối sống mới. Đây cũng là nhóm dễ chịu sự
ảnh hưởng, tác động của những biến đổi nhất định. Hiện nay, do có sự biến đổi
nhanh chóng về nhận thức và tư duy dẫn đến việc nảy sinh nhiều hiện tượng ở giới
trẻ như: Sống thử, quan hệ tình dục trước hôn nhân, hiện tượng nạo phá thai…
Quan hệ tình dục của học sinh, sinh viên hiện nay đang có xu hướng gia tăng
và trở thành vấn đề được xã hội hết sức quan tâm bởi những hậu quả mà nó gây ra
cho một bộ phận không nhỏ sinh viên. Một thực tế đang được chứng minh, đó là
giới trẻ hiện nay quan hệ tình dục khá sớm, có khi chỉ ở độ tuổi 15 - 16, các em đã
rất “sành điệu” trong lĩnh vực này. Quan hệ tình dục sớm dẫn đến cuộc sống không
an toàn, bỏ học, khép mình, dễ buồn chán, lo lắng, bất an, sức khỏe suy giảm, hung

1


bạo, có thai ngoài ý muốn, nạo phá thai, vô sinh… Đó là những hậu quả không tốt
để bản thân mỗi người bước vào ngưỡng cửa cuộc đời.
Những tác động khách quan bên ngoài của đời sống xã hội là nguyên nhân
chính dẫn đến nhiều sinh viên sớm có quan hệ tình dục với bạn khác giới. Ảnh
hưởng từ sách báo, phim ảnh và nhất là internet có nội dung đồi trụy đối với mọi
người là rất lớn. Việc xem những cảnh phim “nóng” không còn lén lút như trước mà
có thể xem công khai trên các website. Công tác giáo dục giới tính vào trong nhà
trường còn thiếu về sức khoẻ sinh sản của thanh thiếu niên.
Như vậy, quan hệ tình dục trước hôn nhân đang là vấn đề cần được quan tâm,
xem xét vì nó dẫn tới gia tăng hiện tượng có thai ngoài ý muốn và nạo phá thai, ảnh
hưởng đến sức khoẻ thể chất, gây ra lo âu, tổn thương tinh thần của thanh niên.
Những thông tin thu được từ việc tìm hiểu nhận thức của sinh viên về quan hệ tình
dục trước hôn nhân sẽ giúp nâng cao sự hiểu biết của họ về tình dục, giúp họ lựa
chọn lối sống lành mạnh trong tình yêu và có biện pháp phòng tránh các nguy cơ
quan hệ tình dục trước hôn nhân.

- Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước về quan hệ tình dục.
- Làm rõ các khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài: Nhận thức, quan hệ
tình dục trước hôn nhân, sinh viên, hôn nhân.
- Nghiên cứu thực trạng nhận thức của sinh viên về QHTDTHN và một số
yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng này.
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao nhận thức giúp sinh viên lựa chọn
lối sống lành mạnh trong tình yêu, biết cách phòng tránh QHTDTHN.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn phạm vi địa bàn: Quận Thanh Xuân – Hà Nội.
- Giới hạn phạm vi nội dung:
+ Nghiên cứu thực trạng QHTDTHN ở sinh viên.
+ Nhận thức về QHTDTHN.
+ Nhận thức về biểu hiện tâm lý của thanh niên sinh viên có QHTDTHN.
+ Nhận thức về hậu quả QHTDTHN.
+ Nhận thức về các yếu tố tác động đến QHTDTHN.
- Giới hạn phạm vi khách thể: Trong đề tài này chúng tôi nghiên cứu 368 sinh
viên thuộc 2 Trường Đại học: Trường Đại học KHXH & NV, Trường Đại học KHTN.
7 . Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
- Phương pháp phỏng vấn sâu.
- Phương pháp thống kê toán học.

3


CHƢƠNG 1: CỞ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu quan hệ tình dục trƣớc hôn nhân của thanh niên
Nguồn gốc của các nghiên cứu về hoạt động tình dục đã có từ xa xưa trong
lịch sử văn mình của loài người. Có thể kể đến các tác phẩm thần thoại, truyền

vấn đề QHTDTHN, điều mà các nước quan tâm trước nhất chính là vấn đề sức khoẻ
chứ không phải là các chuẩn mực, định kiến của xã hội. Các nghiên cứu gần đây
thường đề cập đến kiến thức, thái độ, hành vi tình dục của giới trẻ, các ảnh hưởng
tác hại của QHTD sớm, hiểu biết và việc sử dụng các biện pháp tránh thai, các bệnh
lây truyền qua đường tình dục, nhu cầu cung cấp thông tin về lĩnh vực giới tính, tình
dục cho giới trẻ…Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như:
- “Hành vi tình dục và sử dụng thuốc tránh thai trong độ tuổi 15 – 24 ở
Uganda” – 1992 của Agyei W.K.A và Elizabeth J. Epema.
- “Thái độ, hành vi tính dục và sử dụng thuốc tránh thai của nữ thanh niên ở
Bangkok”-1996 của Amara Soonthorndhada.
-“Tôn giáo, AIDS và kiến thức, thái độ, niềm tin và thói quen tình dục của
sinh viên đại học năm thứ nhất ở Nam phi” – 1995 của Lionel Nicholas và Kevin
Durrheim…
Từ đó hầu như các nước phát triển đều coi giáo dục tính dục là một vấn đề
lành mạnh, đem lại tự do cho con người, vì thế cần phải nói rõ cho mọi người hiểu
biết những quy luật hoạt động tình dục.
- Nghiên cứu “Giáo dục tình dục đạt tới sức khoẻ trong các trường công ở
Mêxicô” – 1994 của Field Briefings, nhấn mạnh vai trò của việc giáo dục giới tính
đối với sức khoẻ cộng đồng.
- “Giáo dục giới tính: Những khái niệm và chương trình giảng dạy”- 1970 của
John T.Burt và Linda Brower Meeks định hướng cho giáo dục giới tính và giáo dục
tình dục trong nhà trường, đề cập chủ yếu đến giới tính, quan hệ giới tính, định
hướng giá trị về tình dục.
Ngoài ra còn có một số sách viết về đề tài có liên quan, qua đó các tác giả thể
hiện quan điểm thái độ của mình.
- Khi hai người yêu nhau thực sự và tự nguyện trao thân cho nhau, họ không
có lỗi gì cả. Điều đó mang lại hạnh phúc cho cả hai, anh ấy và cô ấy. Nếu anh ấy
thương yêu săn sóc cô ta, tại sao lại lên án họ. Bởi vậy bản thân hoạt động sinh lý
không phải là xấu. Nó chỉ xấu và thiếu đạo đức khi là kết quả của những cuộc chia
lìa, yêu đương phóng túng. Nó nặng nề cho kẻ chiến bại và không vinh quang cho kẻ

Cho đến thời điểm này, nghiên cứu nhận thức về QHTDTHN hầu như rất ít.
Các đề tài nghiên cứu về nhận thức của sinh viên thường hướng vào nghiên cứu
nhận thức liên quan đến học tập, nghề nghiệp.

6


Riêng đối với việc nghiên cứu nhận thức của sinh viên về quan hệ tình dục
trước hôn nhân còn rất ít, thường chỉ là một phần nhỏ trong các nghiên cứu xã hội
học, tâm lý học.
Do bị ảnh hưởng của một số quan niệm Á Đông nào đó, những vấn đề liên
quan đến hoạt động tình dục, sức khoẻ tình dục, giáo dục giới tính theo đúng nghĩa
của nó trước đây hầu như bị né tránh hoặc thả nổi hoặc lãng quên hoặc có đề cập đến
nhưng rất sơ lược, qua loa.
Từ đầu thập niên 90, hoà nhập vào chương trình của Quỹ Dân Số Liên Hiệp
Quốc (UNFPA) về vấn đề dân số, sức khoẻ sinh sản, Đảng và Nhà nước ta đã xem
chiến lược dân số, giáo dục dân số là công tác thuộc chiến lược con người. Từ đó,
những vấn đề liên quan đến nhận thức, thái độ, hành vi tính dục được quan tâm
nghiên cứu nhiều hơn.
+ Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Quý Thanh “Về hiện tượng mang thai
ngoài hôn nhân” trên sinh viên Hà Nội năm 1994 (Tạp chí Khoa học về phụ nữ, số
1/1997) ghi nhận một tỷ lệ chấp nhận QHTDTHN lên đến 40 % trong đó khối sinh
viên ngành khoa học xã hội chiếm tỉ lệ cao hơn sinh viên khối ngành khoa học tự
nhiên (49,3% so với 34 %). Và nghiên cứu này cũng cho thấy tiêu chuẩn “chữ trinh”
trong vấn đề chọn bạn đời được đặt sau những tiêu chuẩn khác như thông minh,
khoẻ mạnh, hiền, đẹp, trung thực…
+ Nghiên cứu “Tình bạn, tình yêu và tình dục tuổi vị thành niên” của Nguyễn
Linh Khiếu (Trung tâm nghiên cứu khoa học về Gia đình và Phụ nữ) năm 1998 cho
thấy quan hệ tình dục vị thành niên nhìn chung là chưa phổ biến nhưng không phải
là hiện tượng hiếm như trước đây. Ở nông thôn thì đa số rơi vào nhóm thôi học, ở

cứu của bác sĩ ở Mỹ, đưa ra một vài lý thuyết về tỉ lệ hoạt động tình dục của thanh
thiếu niên Mỹ. Đáng lưu ý, những thanh thiếu niên đã trải qua quá trình giáo dục
tình dục ít có khả năng quan hệ tình dục hơn những người không được giáo dục tình
dục (17% so với 26%). Sự giáo dục ở nhà thờ, bởi cha mẹ và xã hội là những yếu tố
quyết định ảnh hưởng đến thanh thiếu niên nhiều hơn là nhà trường. Hầu hết thanh
thiếu niên QHTD chỉ nghĩ đến hậu quả thai kỳ, không chú ý nhiều đến hậu quả các
bệnh lây truyền qua đường tình dục trong khi những bệnh đó vẫn tang nhanh chưa
từng thấy.
+ Đặc biệt đáng chú ý còn có nghiên cứu “Tình yêu của chúng em không có
giới hạn” (năm 2000), là kết quả hợp tác nghiên cứu giữa Trung tâm Nghiên cứu
Thông tin Tư liệu Dân số (CPSI) thuộc Uỷ ban Quốc gia Dân số Kế hoạch hoá Gia
đình với trường Đại học Copenhagen, về những vấn đề liên quan tới nạo thai trước
hôn nhân. Những kết quả chính của nghiên cứu là:

8


- Nhiều cô gái trẻ chưa lập gia đình đã có quan hệ tình dục, mà lại không sử
dụng các biện pháp tránh thai có hiệu quả.
- Thanh niên chưa lập gia đình không được giúp đỡ, hướng dẫn về các vấn đề
liên quan đến tình dục và sinh sản.
- Để thanh niên Việt Nam có khả năng tiếp cận quan hệ tình dục an toàn và
có trách nhiệm mà họ cảm thấy đã đầy đủ điều kiện, thì cần phải có được thái độ tích
cực hơn về mặt đạo lý đối với quan hệ tình dục.
- Việc sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại không được khuyến khích do
quan niệm đạo đức chiếm ưu thế hiện nay đối với vấn đề tình dục.
- Các cô gái có nguy cơ gặp rủi ro do hoạt động tình dục trước hôn nhân gây
ra nhiều hơn.
+ Tài liệu “Tổ chức Y Tế thế giới thúc đẩy việc giáo dục giới tính trong nhà
trường nhằm ngăn chặn AIDS” của Tổ chức Y Tế thế giới (1998) đề cập đến mối

trẻ (90%) muốn học hỏi chính thức những thông tin về quan hệ lứa đôi.
Như vậy, các nghiên cứu trong và ngoài nước mới chỉ đề cập được một số
khía cạnh về QHTDTHN. Hầu hết các nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở phạm vi
khảo sát thực tiễn. Mặc dù số lượng chưa nhiều nhưng những công trình nghiên cứu
này đã có nhiều đóng góp trong giai đoạn bước đầu nghiên cứu tìm hiểu thực trạng
nhận thức về QHTDTHN của thanh niên, sinh viên ở Việt Nam. Vì vậy, việc tiếp tục
nghiên cứu vấn đề này là thực sự cần thiết, có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Nhận thức
Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người (nhận
thức, tình cảm và hành động). Nó quan hệ chặt chẽ với các mặt kia nhưng không
ngang bằng về nguyên tắc. Nó cũng có quan hệ mật thiết với các hiện với các hiện
tượng tâm lý khác của con người. Một đời sống tâm lý được coi là cân bằng khi có
sự thống nhất giữa nhận thức, tình cảm và hoạt động.
Theo quan điểm của Tâm lý học hoạt động thì hoạt động có đối tượng là khái
niệm cơ bản của Tâm lý học, và chính hoạt động có đối tượng cấu thành nên các quá
trình tâm lý trong đó có quá trình nhận thức. Nhận thức là một trong những yếu tố
cấu thành nên ý thức con người. Đó là quá trình khám phá, lĩnh hội, hiểu biết về
những đặc điểm của đối tượng và làm chủ hoạt động cũng như bản thân mình.
Platônôp cho rằng: “Nhận thức là quá trình thu nhận những tri thức chân thực từ thế
giới khách quan thông qua quá trình hoạt động xã hội”.

10


Theo từ điển Tiếng việt: “Nhận thức là sự hiểu biết sự vật ở bên ngoài hay
điều người ta nhận được ở ngoại giới”[16, Tr774].
Dưới góc độ Tâm lý học nhìn nhận khái niệm “nhận thức” như sau: Theo
quan điểm của K.K. Platônôp – nhà Tâm lý học Liên xô: “Nhận thức là quá trình thu
nhận những tri thức chân thực trong thế giới khách quan trong quá trình hoạt động

sự vật, hiện tượng khi chúng trực tiếp tác động vào các giác quan ta” [12, tr119].
Tri giác không phải là số cộng đơn giản các cảm giác, vì tri giác còn bị chế
ước bởi các kinh nghiệm đã có. Chính dựa vào các kinh nghiệm đã có mà người ta
mới có thể kết hợp các thuộc tính riêng lẻ đã cảm giác được thành hình ảnh hoàn
chỉnh. Từ đó, mới xác định được đối tượng hiện có là sự vật gì. Vì thế tri giác không
chỉ là quá trình tạo ra hình ảnh cảm tính về sự vật, hiện tượng mà còn là hoạt động
tích cực của con người. Tuy nhiên, tri giác cũng chỉ là cảm tính. Vì vậy, nó cũng
thiếu chính xác và không sâu sắc. Khi tri giác một sự vật, hiện tượng nào đó là ta tạo
ra trong đầu một hình ảnh về nó. Tuy nhiên, hình ảnh đó không phải là hoàn toàn
khách quan, mà nó được chụp thông qua lăng kính “đời sống tâm lý của ta”.
b. Nhận thức lý tính
Nhận thức lý tính phản ánh những thuộc tính bên trong những mối liên hệ
bản chất của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà con người chưa biết.
Do đó, nhận thức lý tính có vai trò quan trọng trong việc hiểu biết bản chất những
mối liên hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng tạo điều kiện để con người làm
chủ tự nhiên, xã hội và bản thân mình. Phương thức phản ánh của nhận thức lý tính
là phản ánh một cách gián tiếp. Đó không chỉ là sự phản ánh hiện tại mà còn cả quá
khứ và tương lai.
Nhận thức lý tính (tư duy, tưởng tượng) là mức độ nhận thức cao hơn nhận
thức cảm tính, bao gồm hai quá trình tư duy và tưởng tượng. Sản phẩm của nhận
thức lý tính là những khái niệm, những biểu tượng.
“Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những
mối liên hệ và quan hệ bên trong, có tính chất quy luật của sự vật và hiện tượng
trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết” [12, tr149. Tư duy là một mức
độ nhận thức mới về chất so với cảm giác và tri giác.
“Tưởng tượng là quá trình tâm lý phản ánh những cái chưa từng có trong kinh
nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu
tượng đã có” [12, tr167]
c. Mối quan hệ giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính
Hai giai đoạn nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính có quan hệ chặt chẽ và

tình cảm nảy sinh trên cơ sở nhận thức, nhưng khi đã nảy sinh, hình thành thì xúc
cảm, tình cảm lại tác động trở lại nhận thức, thậm chí có thể làm biến đổi nhận thức.
b. Mối quan hệ giữa nhận thức và hành vi
Trong mối quan hệ giữa nhận thức và hành vi, có thể nói rằng nhận thức có
vai trò quan trọng trong việc hình thành nên thái độ và thực hiện hành vi của con
người. Nhận thức là tiền đề, là sự định hướng và sự điều chỉnh hành vi của cá nhân
13


trong hoạt động thực tiễn. Giữa nhận thức và hành vi luôn luôn tồn tại một mối quan
hệ qua lại hai chiều. Thông thường, khi con người nhận thức đúng về một vấn đề,
một sự vật, hiện tượng nào đó thì nó sẽ định hướng điều chỉnh, thúc đẩy hành động
của con người theo hướng tích cực phù hợp với chuẩn mực của xã hội.
Nhận thức được biểu hiện ra hành vi. Nhận thức về quan hệ tình dục trước
hôn nhân có vai trò quan trọng trong việc định hướng và quy định hành vi của con
người. Nội dung, phương thức hành vi như thế nào là do hiểu biết về quan hệ tình
dục trước hôn nhân quy định. Trên cơ sở nhận thức và tỏ rõ thái độ đối với vấn đề
quan hệ tình dục trước hôn nhân mà con người có ý thức điều khiển, điều chỉnh hành
vi của con người cho phù hợp. Con người không chỉ có ý thức về thế giới mà còn có
khả năng tự ý thức, tự nhận thức về mình. Nhận thức có vai trò quan trọng trong quá
trình tự ý thức và hình thành tự ý thức. Nhận thức đúng về quan hệ tình dục trước
hôn nhân giúp con người có hiểu biết đúng và vận dụng nó, tác động vào tình cảm,
đến sự hình thành thái độ đúng. Từ đó, có khả năng tự đánh giá, tự điều khiển, điều
chỉnh hành vi của mình. Nhận thức sai lệch về quan hệ tình dục trước hôn nhân dẫn
đến hiểu sai lệch. Từ đó dễ có thái độ tiêu cực và hành vi sai lệch trong cuộc sống.
Ngược lại, hành vi cũng có sự tác động trở lại nhận thức. Khi con người thực hiện
nhiều lần hành vi đúng nó sẽ củng cố nhận thức của con người về các vấn đề nào đó
một cách đầy đủ, sâu sắc hơn.
1.2.2. Sinh viên
- Theo quan điểm của các nhà tâm lý học [8, tr113-114], [8 tr48] giai đoạn

+ Các công trình nghiên cứu về sinh viên đã chỉ ra rằng, hiệu quả của quá trình
giáo dục, đào tạo người chuyên gia tương lai không chỉ phụ thuộc vào khí chất, tính
cách, năng lực, động cơ mà còn phụ thuộc vào đặc điểm tự ý thức của nhân cách. Tự ý
thức giúp sinh viên có những hiểu biết và thái độ đúng đắn đối với bản thân để chủ
động tự rèn luyện, phấn đấu theo yêu cầu, đòi hỏi của cuộc sống và của nghề nghiệp sau
này. Những sinh viên có thành tích cao trong học tập là những sinh viên chủ động, tích
cực trong việc tự giáo dục, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo.
+ Đối với sinh viên, tự đánh giá có ảnh hưởng rất lớn đến lòng tự trọng và sự
tự tin. Chính khả năng tự đánh giá của mỗi cá nhân sẽ hình thành nên lòng tự trọng,
sự tự tin là những yếu tố phản ánh trạng thái tâm lý, đạo đức của con người và tạo
nên thái độ tốt đối với bản thân.
- Niềm tin, hứng thú nghề nghiệp và các năng lực cần thiết được hình thành
và phát triển
Qua số liệu nghiên cứu cụ thể trên hai nhóm sinh viên là nhóm sinh viên tài
năng và nhóm bình thường, tác giả Lê Hương, cũng đã khẳng định: Một trong những
15


điều kiện quan trọng để có thể đạt được kết quả tốt trong học tập là sinh viên phải có
niềm tin - niềm tin vào bản thân mình, vào xã hội và hứng thú, say mê với ngành
đang học. Chính niềm tin và hứng thú nghề nghiệp sẽ giúp sinh viên vượt qua mọi
khó khăn, trở ngại để học tập, rèn luyện, qua đó những năng lực cần thiết cho nghề
cũng sẽ được hình thành và phát triển.
- Xu hướng phát triển nhân cách của sinh viên hiện nay
Tác giả Lương Minh Cừ, trong một nghiên cứu của mình đã khẳng định: “Xét
trên nhiều phương diện, sinh viên ngày nay có những đặc điểm mới so với các thế hệ
sinh viên trước đây. Họ có kiến thức và hiểu biết rộng, có tính nhạy bén và năng
động do điều kiện khoa học công nghệ thời đại thông tin tạo ra…”[7, tr7-8].
Bên cạnh những mặt tích cực cũng có những mặt tiêu cực, lối sống thực dụng
sa đọa của Phương Tây đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển nhân cách của

bằng mọi cách lảng tránh các mặt đó. Tuy nhiên, tính dục ở lứa tuổi thanh niên có
một đặc điểm quan trọng là nó mang tính chất thử nghiệm. Khi phát hiện thấy mình
có năng lực tính dục, con người hay tò mò, nghiên cứu, thử nghiệm các năng lực ấy
từ mọi phía. Và điều này dẫn đến những hành vi tình dục của lứa tuổi này, họ bắt
đầu chú ý đến những kiến thức có liên quan đến giới tính, tình dục, sinh sản, họ trở
nên quan tâm hơn với những hiện tượng tính dục và có những hành vi tương ứng thể
hiện ra bên ngoài. Những thử nghiệm của thanh niên vào giai đoạn này là có thể có
quan hệ tình dục với người khác giới hoặc tự giải toả bằng “thủ dâm” - một hiện
tượng phổ biến đối với tuổi thanh niên.
Tóm lại, đối với lứa tuổi sinh viên, họ đã có khả năng và trình độ nhận thức
sâu sắc về thế giới xung quanh, họ có tính độc lập, có những suy nghĩ, quan điểm, sự
đánh giá và thái độ riêng. Bên cạnh đó “mỗi cá thể có một số tiềm tàng tình dục tự
nhiên nào đó, nhưng “kịch bản” hành vi tình dục của nó - tức là người đó yêu ai và
yêu như thế nào, thì bị quy định bởi toàn bộ tổ hợp các điều kiện đã hình thành nên
nhân cách người đó” [20, tr18]. Chính vì thế khi đánh giá và nhìn nhận đối với
những vấn đề của quan hệ tình dục trước hôn nhân chắc chắn lần đầu tiên họ phải
dựa trên sự hiểu biết, quan điểm riêng của mình để xem xét nó tích cực hay không
tích cực. Tuy nhiên, sinh viên vẫn còn bị chi phối bởi những yếu tố tâm lý xã hội và
bản thân tính tế nhị của vấn đề.
1.2.2.3. Hoạt động học tập của sinh viên
- Hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo của sinh viên
+ Để sinh viên nhận thức được hoạt động học tập là hoạt đông chủ đạo của
mình thì cần phải giáo dục, nâng cao nhận thức cho sinh viên. Bên cạnh đó cần tạo
mọi điều kiện để sinh viên tiến hành tốt hoạt động chủ đạo là hoạt động học tập.

17


Sinh viên cũng phải được tạo mọi cơ hội để phát huy năng lực và khuyến khích động
lực học tập trong các nhà trường cao đẳng, đại học.



+ Tác giả Lê Thị Bừng cho rằng: Yếu tố cơ bản đảm bảo cho tình yêu được
bền vững, đó là tình bạn “tình bạn là trường học giáo dục sự sẵn sàng về tâm hồn
cho tình yêu” [1, tr54].
+ Sinh viên, trước hết họ là những thanh niên, vì thế tình yêu của họ có
những đặc điểm cơ bản của tình yêu nam nữ nói chung. Nhưng là những trí thức,
chuyên gia tương lai của đất nước, họ có môi trường hoạt động, giao tiếp riêng, cũng
như có các đặc điểm tâm lý, nhân cách không giống với thanh niên công nhân, thanh
niên nông dân, thanh niên làm nghề buôn bán nhỏ…
+ Sinh viên là những người có tâm hồn lãng mạn, có nhu cầu được quan tâm,
chăm sóc rất cao, vì vậy đây cũng là yếu tố mà sinh viên rất quan tâm khi lựa chọn
người yêu. Tuy nhiên sinh viên là những người sống xa gia đình nên thiếu vắng sự quản
lý của cha mẹ nên yêu tương tương đối tự do. Nhìn chung, sinh viên là những người có
học vấn, có nhận thức rộng và rất nhạy cảm.
1.2.3. Quan hệ tình dục
Hoạt động tình dục cũng như các hoạt động sinh lý khác của con người (ăn,
uống, thở…) đã ra đời cùng lúc với sự khai sinh ra loài người. Theo bản năng, người
tiền sử đã tự do sinh hoạt tình dục với nhau để bảo tồn nòi giống, đó là “giai đoạn
tình dục truyền giống”, kéo dài cho đến cách đây khoảng mười ngàn năm trước công
nguyên. Nhưng không như các động vậy có vú khác, hoạt động tình dục ở con người
không đơn thuần là sự thể hiện của xu hướng thể xác nhằm thoả mãn các nhu cầu
sinh lý cơ bản và sự thèm khát liên quan đến vùng não động vật (não cũ) tương
đương với vùng dưới đồi, điều khiển các chức năng tự trị của cơ thể, mà nó còn
được xem là biểu hiện của cảm xúc tình yêu, bậc cao nhất trong các cảm xúc, được
chi phối bởi phần não biết suy nghĩ và lý luận gọi là vỏ não. Cùng với thể xác và
tinh thần, hoạt động tình dục là một trong yếu tố cơ bản nhất tạo nên con người.
Như vậy, khi nói đến hoạt động tình dục chúng ta cần xem nó như là một
cái lều bao kín các khía cạnh sinh học, sinh lý, tâm lý, văn hoá và cả đạo đức;
không chỉ xét về mặt cá nhân mà cả khía cạnh xã hội trong hành vi tính dục của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status