ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN PHAN THANH NGUYỆT
NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI CỦA THANH NIÊN
CÔNG NHÂN VỀ QUAN HỆ TÌNH DỤC TRƯỚC HÔN NHÂN
(QUA KHẢO SÁT TẠI KHU CÔNG NGHIỆP THĂNG LONG - HÀ NỘI)
LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC
Hà Nội - 2010
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang
MỞ ĐẦU
6
1. Đặt vấn đề
6
2. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
9
3. Mục đích nghiên cứu
9
4. Nội dung nghiên cứu
10
5. Đối tượng, khách thể, phạm vi, mẫu nghiên cứu
10
6. Phương pháp nghiên cứu
11
7. Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết
13
NỘI DUNG CHÍNH
15
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
15
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
15
1.2 Các lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu về hành vi tình dục trước hôn nhân
19
1.3 Một số khái niệm công cụ
26
Chương 2: Kết quả nghiên cứu
31
2.1. Một số nét về đặc điểm kinh tế- xã hội của địa bàn khảo sát và mẫu
2.3.2 Thái độ của thanh niên công nhân về những người đã từng quan hệ tình
dục trước hôn nhân.
51
2.4. Hành vi của thanh niên công nhân trong quan hệ tình dục trước hôn nhân.
54
2.4.1. Đánh giá chung về hành vi QHTD THN của thanh niên công nhân
54
2.4.2. Thực trạng QHTD THN trong thanh niên công nhân hiện nay
56
2.4.3. Hành vi sử dụng biện pháp tránh thai, phòng tránh các bệnh lây truyền
qua đường tình dục trong quan hệ tình dục.
58
2.4.4. Nguyên nhân dẫn đến hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân trong
thanh niên công nhân.
61
2.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức, thái độ và hành vi của thanh
niên công nhân về QHTD THN .
64
2.5.1. Các yếu tố mang tính đặc điểm nhân khẩu học
64
2.5.2. Yếu tố môi trường sống, phương tiện truyền thông đại chúng, và các mối
quan hệ xã hội.
67
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
73
1. Kết luận.
73
2. Khuyến nghị :
74
Danh mục tài liệu tham khảo
4
DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1:
Hiểu biết của thanh niên công nhân về tình dục, quan hệ tình dục,
quan hệ tình dục an toàn.
Bảng 2.2:
Bạn biết như thế nào về những biện pháp tránh thai dưới đây.
Bảng 2.3:
Nhận thức của thanh niên công nhân về hậu quả của nạo phá thai
Bảng 2.4:
Nhận thức của thanh niên công nhân về những con đường lây nhiễm
HIV
Bảng 2.5:
Nhận thức của thanh niên công nhân về cách thức để giảm nguy cơ lây
nhiễm HIV
Bảng 2.6:
Quan điểm chấp nhận, đồng tình của thanh niên công nhân về QHTD
THN
Bảng 2.7:
Nguồn cung cấp thông tin, kiến thức về SKSS, về bệnh LTQĐTD và
HIV/AIDS.
5
DANH MỤC CÁC BIỂU
Biểu 2.1:
Nhận thức về thời gian dễ thụ thai nhất ở người phụ nữ
Biểu 2.2:
Nhận thức của thanh niên công nhân về có thai trong lần quan hệ
tình dục đầu tiên
Biểu 2.3:
Những điểm bạn có thể có được cung cấp dịch vụ và biện pháp
phòng tránh thai?
Biểu 2.4:
Nhận thức của thanh niên công nhân về thời gian thích hợp nhất để
phá thai sớm
Biểu 2.5:
Những cách để giảm khả năng lây nhiễm các bệnh LTQDTD
Biểu 2.6:
Nhận thức về khả năng lây nhiễm HIV qua quan hệ tình dục không
sử dụng BCS
Biểu 2.7:
Quan điểm của thanh niên công nhân về QHTD THN .
Biểu 2.8:
Lý do không sử dụng các biện pháp trong quan hệ tình dục
đã giải quyết 5.000 trường hợp thai nhi từ 5 -12 tuần tuổi bằng phương pháp hút
chân không. Trong đó có 28% là số ca bệnh nhân dưới 24 tuổi. Bác sĩ Hồng Minh
cũng cho biết thêm, có tới 3% số ca vị thành niên có tiền sử từ 2 lần. Cũng trong
năm 2009, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội đã giải quyết 17.241 trường hợp trong đó có
31,3% bệnh nhân dưới 24 tuổi với 5.403 ca. Đặc biệt chỉ tính riêng trong tháng 3
7
năm nay, tại đây đã tiến hành thủ thuật cho 60/1.730 ca dưới 19 tuổi. Tuy nhiên,
theo một số bác sĩ theo dõi và tư vấn, con số này có thể lớn hơn vì các em cũng
thường đội tuổi lên để không phải nhờ người bảo lãnh. Con số trên tất cả chỉ là
tương đối rất khó để quản lý được một cách chính xác [51].
Theo số liệu chính thức điều tra quốc gia về thanh niên và vị thành niên thì
7.6 % số thanh thiếu niên có quan hệ tình dục trước hôn nhân. [47]. Tuổi quan hệ
tình dục lần đầu tiên của thanh niên Việt Nam là 19,6, gần 80% thanh niên chỉ quan
hệ tình dục khi đã lập gia đình [5]. Có tới 66,7% nam giới chấp nhận quan hệ tình
dục (QHTD) trước hôn nhân[48].
Theo báo cáo tình hình nhiễm HIV/AIDS quý I năm 2009 có 144.483 người
nhiễm HIV trong đó 30.996 bệnh nhân AIDS còn sống số người nhiễm HIV vẫn
chủ yếu ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Dịch HIV/AIDS ở Hà Nội ngày càng
trẻ hoá, 75% tổng số người nhiễm có tuổi đời dưới 30. Mà một con đường lây
nhiễm chủ yếu của HIV/AIDS là quan hệ tình dục không an toàn.
Thực trạng về vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân và những hậu quả của
nó đối với tầng lớp thanh thiếu niên đặt ra nhiều suy nghĩ và cho toàn xã hội và điều
đó khiến xã hội lo lắng về sự suy giảm sức khoẻ thể chất và sức khoẻ tinh thần của
một bộ phận không nhỏ dân số trẻ. Và đó cũng là vấn đề quan trọng của đất nước
trong quá trình hội nhập quốc tế cho bài toán lối sống, đạo đức và chất lượng cuộc
sống gia đình, những tế bào tương lai của xã hội. Đồng thời thực trạng và diễn biến
của nó đặt các nhà hoạch định chính sách về dân số và kế hoạch hóa gia đình, đứng
trước ngã ba đường: những biện pháp để nâng cao nhận thức cho vị thanh niên về
tình dục và quan hệ tình dục trước hôn nhân; nên hay không nên giáo dục hành vi
về vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân trong tầng lớp thanh niên công nhân hiện
nay, đồng thời tìm ra những giải pháp hiệu quả nhằm nâng cao nhận thức, hành vi,
thái độ của các tầng lớp thanh niên đối với vấn đề tình dục trước hôn nhân. Từ đó,
kiến nghị với các Bộ, Ban, Ngành của Đảng và Nhà nước, để có những biện pháp
kịp thời nhằm hạn chế thực trạng trên và nâng cao chất lượng cuộc sống, ổn định
dân số. 9
2. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI:
2.1. Ý nghĩa khoa học:
Thông qua việc phân tích thực trạng nhận thức, thái độ, hành vi của thanh
niên công nhân về quan hệ tình dục trước hôn nhân nhằm tìm hiểu nhận thức của
thanh niên công nhân trong kiến thức về tình dục, những hiểu biết về ảnh hưởng
tiêu cực trong quan hệ tình dục trước hôn nhân, những cách phòng tránh những hậu
quả trong quan hệ tình dục trước hôn nhân. Bên cạnh đó đề tài mong muốn sẽ làm
rõ một số khái niệm về nhận thức, thái độ, hành vi; khái niệm về tình dục, tình dục
an toàn. Đồng thời góp phần lý giải, làm sáng tỏ một số lý thuyết xã hội học như lý
thuyết về hành vi, lý thuyết hành vi lệch chuẩn, lý thuyết xã hội hóa, lý thuyết
truyền thông trong việc giải quyết vấn đề nghiên cứu.
2.2. Ý nghĩa thực tiễn:
Những nội dung được đề cập, phân tích và kết luận trong đề tài có thể góp
phần cung cấp những căn cứ thực tế để các ban, ngành, đoàn thể có liên quan đề ra
chủ trương, giải pháp nhằm nâng cao nhận thức, thái độ, hành vi cho thanh niên
công nhân trong việc phòng ngừa những hậu quả trong quan hệ tình dục trước hôn
nhân như giảm tình trạng nạo phá thai, giảm bệnh lây truyền qua đường tình dục,
giảm tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS ở nước ta. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của
đề tài cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho công tác tuyên truyền,
giáo dục việc sử dụng biện pháp phòng tránh thai khi quan hệ tình dục của thanh
niên, đồng thời góp phần định hướng quan hệ lành mạnh cho thanh niên.
niên công nhân từ đủ 16-30 tuổi về quan hệ tình dục trước hôn nhân trong khu công
nghiệp Thăng Long- Hà Nội.
5.4. Mẫu nghiên cứu:
Đề tài tiến hành khảo sát mẫu ngẫu nhiên đối với 282 thanh niên công nhân
trong độ tuổi từ đủ 16-30 tuổi, tại khu công nghiệp Thăng Long - Hà Nội.
Tổng số mẫu là 282 người, trong đó:
Giới tính :
- Nam : 124 người, chiếm 44,0%
- Nữ : 158 người, chiếm 56,0%
11
Độ tuổi :
- Từ 16-18 tuổi : 9 người, chiếm 3,2%
- Từ 19-24 tuổi : 204 người, chiếm 72,3%
- Từ 25-30 tuổi : 69 người, chiếm 24,5%
Trình độ học vấn :
- THCS : 3 người, chiếm 1.1%
- THPT : 167 người, chiếm 59.2%
-Trung cấp : 104 người, chiếm 36.9%
-Cao đẳng- Đại học : 8 người, chiếm 2.8%
Tình trạng hôn nhân :
- Đã lập gia đình : 35 người, chiếm 12.4%
- Chưa lập gia đình : 247 người, chiếm 87.6%
Thu nhập bình quân/tháng :
- 1 triệu – dưới 1,5 triệu: 133 người, chiếm 49.8%
hôn nhân phải được xem xét trong mối quan hệ với các yếu tố khác như điều kiện
kinh tế, văn hóa, xã hội
Việc nhận thức và giải quyết các hiện tượng xã hội phải khách quan, phải
xuất phát từ chính thực tế. Ở đây, khi tìm hiểu về nhận thức, thái độ, hành vi của
thanh niên công nhân về quan hệ tình dục trước hôn nhân chúng ta không thể áp đặt
những suy nghĩ chủ quan của riêng mình để kết luận một cách vội vã, mà phải tìm hiểu
các nguyên nhân chủ quan và khách quan tác động đến nhận thức nhận thức, thái độ,
hành vi của thanh niên công nhân, từ đó mới có thể nhìn nhận chính xác vấn đề này.
6.1.2. Phương pháp nghiên cứu xã hội học
Bên cạnh phương pháp luận triết học Mác-Lênin, đề tài còn sử dụng phương
pháp nghiên cứu xã hội học, cụ thể là thông qua việc vận dụng các lý thuyết xã hội
học như lý thuyết về hành vi, lý thuyết hành vi lệch chuẩn, lý thuyết xã hội hóa, lý
thuyết truyền thông trong việc giải quyết vấn đề nghiên cứu.
6.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
6.2.1. Phương pháp định lượng:
6.2.1.1. Phương pháp thu thập thông tin bằng bảng hỏi:
13
Đề tài được thực hiện dựa trên kết quả khảo sát bằng phương pháp bảng hỏi
đối với 282 người là thanh niên công nhân nhằm thu thập thông tin định lượng theo
yêu cầu và mục đích của đề tài.
6.2.1.1. Phương pháp thống kê xã hội học:
Với 282 bảng hỏi thu thập được, tác giả tiến hành xử lý kết quả điều tra bằng
phương pháp thống kê xã hội học. Chương trình thống kê SPSS 11.5 sẽ được sử
dụng để xử lý thông tin thu được từ các bảng hỏi đó.
6.2.2. Phương pháp định tính:
6.2.2.1. Phương pháp thu thập và phân tích thông tin, tư liệu:
Đề tài cũng được thực hiện dựa trên những số liệu, tư liệu sẵn có liên quan
đến vấn đề nghiên cứu. Các số liệu, tư liệu này được thu thập từ nhiều nguồn khác
nhau từ các đơn vị, ban, ngành, đoàn thể có liên quan, một số các đề tài nghiên cứu
ĐIỀU KIỆN KINH TẾ -VĂN HÓA- XÃ
HỘI
Môi trường xã
hội
Đặc điểm nhân
khẩu học
Phương tiện truyền
thông đại chúng
NHẬN THỨC CỦA THANH NIÊN CÔNG NHÂN VỀ QUAN HỆ
TÌNH DỤC TRƯỚC HÔN NHÂN
Nhận thức về
quan hệ tình dục
trước hôn nhân
Thái độ của thanh niên
công nhân về quan hệ
tình dục trước hôn nhân.
chắn sẽ lấy nhau. Bên cạnh 78,8% VTN cho rằng QHTD gắn với lương tâm, trách
nhiệm và cũng có 3,4% cho rằng QHTD là để mua vui, giải trí. 26% VTN cho rằng
đã có người yêu. 37,3% trong số ngày có người yêu ở tuổi 18, 28,5% ở tuổi 17 và
có đến 10,4% có người yêu ở tuổi 14.
Trong “Nghiên cứu tình dục ở Việt Nam – Những điều đã biết và chưa biết”
(Khuất Thu Hồng – 2001) đã chỉ ra sự biến đổi trong quan niệm, thái độ và hành vi
tình dục ở Việt Nam từ quá khứ đến hiện tại. Quan niệm về quan hệ tình dục và ý
nghĩa của nó trong lớp trẻ hiện nay đã thay đổi rất nhiều, những người càng trẻ càng
có xu hướng tự do hơn, không coi chuyện QHTD trước hôn nhân là điều kinh khủng
như thế hệ trước đã nghĩ.
16
Một nghiên cứu về “Nạo phá thai của nữ sinh viên qua nghiên cứu một số
trường hợp trên địa bàn Hà Nội hiện nay” (Trần Thị Minh Thi, 2001), nghiên cứu đã
chỉ ra nhiều sinh viên không coi trọng trinh tiết và gắn liền tình yêu và tình dục và một
nguyên nhân dẫn đến nạo hút thai trong sinh viên là do thay đổi về giá trị, chuẩn mực.
Trong nghiên cứu “Tìm hiểu nhu cầu thông tin về sức khỏe sinh sản VTN
qua nghiên cứu thư gửi về Chương trình “Cửa sổ tình yêu’, của Đài tiếng nói Việt
Nam” (Nguyễn Thị Tuyết Minh, 2002) đã chỉ ra hiện tượng QHTD THN ngày càng
trở nên phổ biến hơn, 70% sinh viên gọi điện xin tư vấn về tình dục, mang thai
ngoài ý muốn và các biện pháp tránh thai.
Đề tài “Thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh Trung học phổ thông
Hà Nội với giáo dục SKSS VTN những giải pháp trong thời gian tới” của Lê Thị
Ngọc Bích, 2003 cũng đã đề cập đến vấn đề tình dục, quan hệ tình dục an toàn, thái
độ của học sinh về hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân. Có tới 50.2% học sinh
được hỏi khẳng định có hiện tượng QHTD ở tuổi VTN, 18,3% cho rằng đây là hiện
tượng phổ biến, 31,9% cho rầng có nhưng không phổ biến.
Công trình về Quan điểm của sinh viên trường Đại học khoa học xã hội –
nhân văn và Đại học khoa học tự nhiên, Đại học quốc gia Hà Nội về quan hệ tình
dục trước hôn nhân, Khoa XHH 2B, 2006 cũng đề cập đến thực trạng quan hệ tình
được Trung tâm Tổng hợp TTN, do TS Trần Văn Miều làm chủ nhiệm, năm 2006
đã nghiên cứu nhiều khía cạnh khác nhau về vai trò của Đoàn trong công tác chăm
sóc SKSS VTN/TN, về quan hệ tình dục trước hôn nhân của VTN/TN;
Một nghiên cứu về “Thái độ của sinh viên về quan hệ tình dục trước hôn
nhân (nghiên cứu tại Đại học Quốc gia Hà Nội)” Mai Thanh Tú, Hà Nội 2007 đã đề
cập đến thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên có tới 22,6% số
người được hỏi trả lời đã từng quan hệ tình dục trong đó 31,4% nam sinh viên đã
từng QHTD, nữ là 14,1% tỷ lệ nam cao hơn 2,2 lần so với nữ, tuổi quan hệ lần đầu
tiên là 19,77 tuổi. Trong số người đã từng QHTD, có 73,9% đã từng sử dụng một
trong số các biện pháp tránh thai. Tỷ lệ sinh viên chấp nhận quan hệ tình dục trước
hôn nhân là 21,4%, tương đương 1/5 số sinh viên trong mẫu điều tra. Đề tài cũng
chỉ rất rõ những yếu tố tác động tới thái độ của sinh viên về vấn đề này;
18
Bài báo “Xu hướng sống thử của thanh niên Việt Nam (Nguyễn Thị Quỳnh
Hoa, 2007) dựa trên cuộc khảo sát trên Báo điện tử VnExpress.net và các ý kiến trên
diễn đàn cho thấy con số những người sống thử chỉ bằng một nửa số người ủng hộ.
Đề tài: Hành vi tình dục và kiến thức tình dục an toàn của học sinh phổ thông
trung học trên địa bàn hiện nay (nghiên cứu trường hợp trường phổ thông trung học
Phan Đình Phùng – Quận Ba Đình – Hà Nội) Nguyễn Thanh Vân , 2008 đề tài đã đề
cập đến về mức độ quan tâm, thái độ, những hiểu biết và hành vi của học sinh phổ
thông trung học về tình dục an toàn và hành vi tình dục. Trong đó 28,4% có quan
điểm có thể chấp nhận vấn đề QHTD THN, 13,2% cho là chuyện bình thường trong
xã hội. Tỷ lệ quan điểm của nam thoáng hơn nữ. Độ tuổi QHTD từ 19-25 chiếm tỷ
lệ đa số người lựa chọn. Lý do có QHTD của đối tượng nghiên cứu cao nhất chủ
yếu là do tò mò muốn thử nghiệm cảm giác. Đa số học sinh biết được mức độ ảnh
hưởng của QHTD không an toàn tuy nhiên các em bị ảnh hưởng bởi phim ảnh mang
tính kích dục và quan trọng hơn các em muốn thử nghiệm cảm giác, muốn khẳng
định bản thân với bạn bè, gia đình về sự trưởng thành của mình.
Đề tài “Nhận thức thái độ của sinh viên về quan hệ tình dục, tình yêu”
dưới góc độ xã hội học là vô cùng cần thiết nhằm góp phần bổ sung và làm rõ thêm
vấn đề nghiên cứu.
1.2. Các lý thuyết vận dụng để nghiên cứu:
1.2.1. Lý thuyết hành vi :
Xuất phát của thuyết này là từ hành vi của mỗi cá nhân. Những người theo
thuyết hành vi quan niệm rằng tất cả hay phần lớn các hành vi của con người đều
được giải thích theo mô hình kích thích và phản ứng. Đại biểu cho lý thuyết này là
hai nhà xã hội học người Mỹ : Moreno (1982 – 1974) và Hopmans (11 – 8 - 1910).
Theo thuyết hành vi, một là, ở mỗi con người đều có những động cơ riêng rẽ
nhất định, song nó không đóng vai trò gì quan trọng trong các hành vi của họ; hai là
những động cơ của con người thường mang tính chủ quan, và đã là chủ quan thì
không có tính quy luật…Do đó, chúng ta không thể nghiên cứu những động cơ chủ
quan của con người về mặt khoa học mà chỉ có thể tự biện về nó mà thôi. Chúng ta
20
không thể tái tạo được những gì đang diễn ra trong nội tâm con người, điều quan
trọng và cái duy nhất chúng ta có thể nắm bắt được là những hiện tượng bộc lộ ra
bên ngoài. Những người theo thuyết hành vi luôn coi hành vi là những phản ứng
theo tình huống, cứ cho một tác động hay một kính thích vào một cá thể nào đó thì
sẽ nhận một phản ứng nhất định, những phản ứng này độc lập với động cơ chủ quan
của con người.
Như vậy, ta có công thức nổi tiếng trong tâm lý học : S – R (kích thích –
phản ứng). Hành vi xuất phát từ mô hình kích thích – phản ứng. Còn hành động
diễn ra theo nguyên tắc hành động phản ứng có suy nghĩ. Trong hành vi không có
động cơ, người ta chỉ phản ứng thôi. Trong hành động có động cơ, người ta muốn
đạt được một cái gì đó.
Những người theo thuyết này kỳ vọng rằng người ta sẽ phản ứng như nhau
trước những kích thích giống nhau mặc dù động cơ trong họ khác nhau. Vì thế, ý
tưởng có liên quan đến cái hộp đen đã ra đời. Ở đây, con người là một cái hộp đen.
Điều đó có nghĩa là nhiều điều có thể diễn ra trong cái hộp đen đó. Điều quan trọng
tồn cho bản thân mình. Còn những kích thích không phù hợp và không có ích thì bị
khước từ, loại bỏ.
Luận điểm thứ hai về của thuyết biến cách là luận điểm về cái quyết định
hợp lý được dựa trên cơ sở lợi ích có tính mục đích của con người. Trong xã hội
phương Tây, cái hợp lý – có ích đóng một vai trò quan trọng trong hành vi chỉ mục
đích có nghĩa là toàn bộ sự nỗ lực hoạt động của người ta chỉ nhằm đạt được một
mục đích mà thôi.
Tuy có nhiều hạn chế, phương pháp sự lựa chọn hợp lý đã được sử dụng
rộng rãi trong nghiên cứu thị trường, trong quân sự, trong chính trị và kinh tế.
Tóm lại, thuyết hành vi là thuyết cho rằng sự phát triển hành vi của con
người phụ thuộc vào kích thích. Con người đóng vai trò là một cơ quan. Hành vi
của con người không phụ thuộc vào động cơ tình cảm của họ. Trong phạm vi của
luận văn này, tác giả sẽ xem xét nhận thức của thanh niên công nhân về quan hệ
tình dục trước hôn nhân như là các hộp đen. Khi đó, các phương tiện truyền thông
22
đại chúng, các cá nhân như bố/mẹ, anh/chị/em, bạn/bè, cán bộ tuyên truyền, môi
trường sống, điều kiện kinh tế…sẽ đóng vai trò là nguồn cung cấp kích thích tác
động đến hộp đen này. Từ đó, ta có thể đo được phản ứng của thanh niên công nhân
về các vấn đề nhận thức, thái độ, hành vi của thanh niên công nhân về quan hệ tình
dục trước hôn nhân.
1.2.2: Lý thuyết về hành vi lệch chuẩn
Cơ sở lý luận của đề tài là lý thuyết xã hội học về hành vi lệch chuẩn. Một
cách chung nhất, lệch chuẩn là sự vi phạm các chuẩn mực xã hội- đó là những
khuôn mẫu hành vi được chấp nhận rộng rãi trong xã hội và có chức năng kiểm soát
xã hội.
Theo G.Endruweit và G.Trommsdorff (1989) thì ứng xử cá nhân hay tập thể
được coi là sai lệch nếu phạm phải một trong các điều sau:
- Vi phạm những hi vọng đã được thể chế hóa
- Phạm vào các chuẩn mực của tập thể
ông cho rằng “xã hội hóa là một quá trình tương tác giữa người này và người khác,
kết quả là một sự chấp nhận những khuôn mẫu hành động đó”. G.Andreeva đã nêu
được cả hai mặt của quá trình xã hội hóa. Bà cho rằng “xã hội hóa là quá trình hai
mặt. Một mặt, cá nhân tiếp nhận kinh nghiệm xã hội bằng cách thâm nhập vào môi
trường xã hội, vào hệ thống các quan hệ xã hội. Mặt khác, cá nhân tái sản xuất một
cách chủ động các mối quan hệ xã hội thông qua chính việc họ tham gia vào các
hoạt động và thâm nhập vào các mối quan hệ xã hội”.
Như vậy, cá nhân trong quá trình xã hội hóa không đơn thuần thu nhận kinh
nghiệm xã hội, mà còn chuyển hóa nó thành những giá trị, xu hướng của cá nhân để
tham gia tái tạo, “tái sản xuất” chúng trong xã hội. Mặt thứ nhất của quá trình xã hội
hóa thu nhận kinh nghiệm xã hội thể hiện sự tác động của con người tới môi trường.
Mặt thứ hai của quá trình thể hiện sự tác động của con người trở lại môi trường
thông qua hoạt động của mình. [9, 257-259].
Áp dụng vào đề tài này cho thấy nhận thức, thái độ, hành vi của thanh niên
công nhân được hình thành trên cơ sở tiếp thu những kinh nghiệm, giá trị, chuẩn
mực của môi trường sống. Bản thân họ cũng có khả năng tác động trở lại làm biến