ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
HOÀNG THỊ HƢƠNG
QUAN NIỆM CỦA THANH NIÊN
THEO ĐẠO TIN LÀNH TẠI HÀ NỘI VỀ
QUAN HỆ TÌNH DỤC TRƢỚC HÔN NHÂN
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60.31.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hoàng Thu Hương
Hà Nội - 2016
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn thạc sĩ ngành Xã hội học với đề
tài: “Quan niệm của thanh niên theo đạo Tin lành tại Hà Nội về quan hệ
tình dục trước hôn nhân” bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận
được sự giúp đỡ, động viên nhiệt tình, tâm huyết của các thầy cô, gia đình
và bạn bè.
Để hoàn thành nghiên cứu này, trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn
nhà trường cùng các thầy cô giáo trong khoa Xã hội học, trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội. Đặc biệt, tôi xin
bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo, PGS.TS. Hoàng Thu Hương đã trực
tiếp hướng dẫn, giúp đỡ và chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện
tình dục trước hôn nhân của thanh niên. ..................................................... 14
3. Ý nghĩa nghiên cứu ................................................................................ 20
3.1 Ý nghĩa lý luận ..................................................................................... 20
3.2 Ý nghĩa thực tiễn ................................................................................. 20
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu............................................................ 20
4.1 Mục đích nghiên cứu ........................................................................... 20
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................................... 21
5. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu .......................................... 21
5.1 Đối tƣợng nghiên cứu.......................................................................... 21
5.2 Khách thể nghiên cứu ......................................................................... 21
5.3 Phạm vi nghiên cứu ............................................................................. 21
6. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu ..................................... 22
6.1 Câu hỏi nghiên cứu ............................................................................. 22
6.2 Giả thuyết nghiên cứu ......................................................................... 22
7. Phƣơng pháp nghiên cứu ...................................................................... 22
7.1 Phân tích tài liệu .................................................................................. 22
7.2 Phỏng vấn sâu ...................................................................................... 23
7.3 Phƣơng pháp trƣng cầu ý kiến .......................................................... 23
NỘI DUNG CHÍNH................................................................................... 25
1
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI ............ 25
1.1 Khái niệm công cụ ............................................................................... 25
1.2 Các lý thuyết áp dụng ........................................................................... 27
1.2.1 Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý ............................................................. 27
1.2.2 Lý thuyết hành động xã hội................................................................ 29
1.2.3 Lý thuyết tương tác biểu trưng ........................................................... 33
1.4 Sơ lƣợc về địa bàn nghiên cứu ........................................................... 44
CHƢƠNG 2: THANH NIÊN THEO ĐẠO TIN LÀNH TẠI HÀ NỘI
Bảng 2.5: Thực trạng sống chung với gia đình của thanh niên theo đạo Tin
lành .............................................................................................................. 58
Bảng 2.6: Độ tuổi bắt đầu theo Tin lành ................................................. 59
Bảng 2.7: Số năm theo đạo Tin lành........................................................ 60
Bảng 2.8: Thống kê số năm theo đạo Tin lành của các tín đồ Lời sự
sống Việt Nam ............................................................................................ 61
Bảng 2.9: Sự tham gia các hoạt động tại Hội thánh .............................. 62
Bảng 3.1: Tỷ lệ ngƣời đồng ý, hoàn toàn đồng ý với các nhận định về
tình yêu của đạo Tin lành ......................................................................... 69
Bảng 3.2: Hiểu biết về các biện pháp tránh thai và sử dụng các biện
pháp tránh thai .......................................................................................... 76
Bảng 3.3: Mức độ đồng tình với các quan điểm về mối quan hệ giữa
tình yêu và tình dục ................................................................................... 79
Bảng 3.4: Mức độ đồng tình của thanh niên theo đạo Tin lành tại Hà
Nội với các nhận định về QHTD trƣớc hôn nhân. ................................. 83
Bảng 3.5: Mức độ đồng tình với hành vi QHTD trƣớc hôn nhân theo
nhóm đã từng có QHTD và chƣa từng có QHTD .................................. 86
Bảng 3.6: Thái độ về việc vợ/chồng đã có QHTD với ngƣời khác ........ 87
Bảng 3.7: Thái độ đối với vợ/chồng đã từng có QHTD theo tuổi và thực
trạng QHTD ............................................................................................... 88
Bảng 3.8: Thái độ đối với những ngƣời theo đạo Tin lành có QHTD
trƣớc hôn nhân .......................................................................................... 89
Bảng 3.9: Tỷ lệ QHTD trƣớc hôn nhân phân theo nhóm tuổi và tình
trạng việc làm ............................................................................................ 93
3
DANH MỤC BIỂU
1. Lý do chọn đề tài
Đạo Tin lành bắt đầu được truyền vào Việt Nam từ cuối những năm 80
của thế kỷ XIX bởi Tiến sĩ sĩ A.B.Simpson, người sáng lập HTGPALH
(C&MA) nhưng phải tới năm 1911 khi giáo sĩ R.A.Jaffray, P.M.Horler với sự
giúp đỡ của một Truyền đạo người Pháp là Bonnet (người của Thánh kinh
hội), đã mua được đất và dựng nhà thờ, làm trụ sở truyền giáo ở Đà Nẵng,
được coi là dấu mốc khởi đầu thực sự của đạo Tin lành ở Việt Nam [55]. Đến
nay, Tin lành đã được công nhận là một trong những tôn giáo chính thức tại
Việt Nam, với số lượng tín đồ lên tới 734.168 người [41]. Cùng với việc số
lượng tín đồ Tin lành ngày một tăng thì vai trò và ảnh hưởng của đạo Tin lành
đến những tín đồ Tin lành nói riêng và người dân Việt Nam nói chung cũng
ngày một mở rộng. Coi Kinh thánh là giáo lý chính thức duy nhất của đạo
mình, Tin lành hướng các tín đồ tuân thủ những điều được ghi trong Kinh
thánh, những lời mà Chúa Jesu đã răn dạy. Tình yêu, tình dục, hôn nhân, gia
đình là một trong số đó. Cụ thể, Kinh thánh đã nhấn mạnh rằng “Điều trước
nhất và quan trọng hơn hết là các tín đồ phải thánh khiết về mặt đạo đức và
tình dục” (IICôr 11:2; Tít 2:5; IPhi 3:2) và rằng, chỉ có tình dục trong hôn
nhân mới đẹp lòng Chúa và được Chúa ban phước còn tất cả những mối tình
dục ngoài hôn nhân đều là ô uế và tội lỗi.
Tuy nhiên, xét theo những khía cạnh thực tế, tình dục là phần không thể
thiếu trong trải nghiệm của con người, một hiện tượng phức tạp với những
khía cạnh thể chất, tình cảm, xã hội và tâm linh (Susan Wood, 2007). Bên
cạnh đó, môi trường xã hội hiện đại với các phương tiện truyền thông đại
chúng khuyến khích sự thử nghiệm tình dục khiến cho việc giữ được trinh tiết
đến khi cưới trở nên khó khăn hơn (Ngô Đức Anh, 2009) và rằng, “tình dục
6
đang có xu hướng tách khỏi hôn nhân thành một thực thể độc lập” (Khuất Thu
việc truyền đạo Tin lành cho người Việt Nam mới được bắt đầu và đến đầu
những năm 30 tên gọi đạo Tin Lành được phổ biến và trở thành tên gọi phổ
thông. Ngày nay, tên gọi đạo Tin lành trở thành tên riêng, phổ biến tại Việt
Nam.
Tin lành mặc dù đã được truyền vào Việt Nam và phát triển hơn 100
năm nhưng do đặc điểm nhạy cảm về chính trị, những nghiên cứu về Tin lành
không có nhiều và nếu có thì chủ yếu là những nghiên cứu, bài viết nhằm mục
đích giới thiệu về sự hình thành, lịch sử phát triển, giáo lý và quá trình truyền
đạo và phát triển của Tin lành ở Việt Nam hoặc là những công trình nghiên
cứu về mối quan hệ giữa Tin lành với các vấn đề chính trị hay văn hóa nói
chung của Việt Nam.
Viết về đạo Tin lành ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Thanh Xuân – chủ
biên hai cuốn sách “Bước đầu tìm hiểu đạo Tin lành trên thế giới và ở Việt
Nam” (2002) và “Đạo Tin lành ở Việt Nam” (2008) đã khái quát về quá trình
ra đời và phát triển của đạo Tin lành trên thế giới, các giáo lý, luật lệ, các lễ
nghi, tổ chức giáo hội, sự giống và khác nhau giữa Tin lành và Công giáo.
Trên cơ sở đó, tác giả đã trình bày quá trình du nhập, phát triển đạo Tin lành ở
Việt Nam. Đây là những cuốn sách tham khảo có giá trị, giúp cho người đọc
có cái nhìn đầy đủ về quá trình du nhập, phát triển của đạo Tin lành ở nước ta.
Bài viết “Mối quan hệ giữa Nhà nước Việt Nam với các tổ chức Tin
lành hiện nay” [10] của tác giả Nguyễn Hồng Dương trên cơ sở phân tích tính
đặc thù về lịch sử truyền giáo phát triển đạo Tin lành và đặc thù về sự đa dạng
tổ chức đạo Tin lành ở Việt Nam đã làm rõ mối quan hệ giữa Nhà nước Việt
Nam với các tổ chức đạo Tin lành, mối quan hệ này được thể hiện qua đường
lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta với đạo Tin lành. Theo tác giả, với
nguyên tắc tôn trọng tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân, đặc biệt là
những quy định tại Pháp lệnh Tín ngưỡng Tôn giáo và Chỉ thị 01 của Thủ
8
tách khỏi nhau; Tin lành, trên thực tế đã đưa đến những thay đổi trong tôn ty
trật tự của xã hội cổ truyền, tác động đến vai trò lãnh đạo của giới và tuổi tác
và quan trọng hơn nữa, Tin lành cũng đã làm thay đổi đức tin và thực hành
văn hóa thậm chí chia rẽ gia đình, bạn bè và dòng tộc thành các nhóm xã hội
có niềm tin tôn giáo khác nhau.
Cũng nghiên cứu tác động của Tin lành nhưng là tác động tới thiết chế
xã hội truyền thống, tác giả Nguyễn Văn Nam (2008) trong bài “Ảnh hưởng
của đạo Tin lành với thiết chế xã hội truyền thống của đồng bào các dân tộc
thiểu số ở Tây Nguyên” đã trình bày sự ảnh hưởng của đạo Tin lành đối với
thiết chế truyền thống xã hội như: sự phức tạp về chính trị với thiết chế xã hội
truyền thống; sự phức tạp về xã hội, tập quán văn hóa; với tín ngưỡng truyền
thống.
Dưới góc độ an ninh cũng có một số các công trình nghiên cứu về đạo
Tin lành như: Đạo Tin lành – những vấn đề liên quan đến an ninh trật tự ở
Việt Nam hiện nay do Lại Đức Hạnh thực hiện năm 2000; Thực trạng tình
hình phục hồi, phát triển đạo Tin lành ở các vùng dân tộc thiểu số miền núi
nước ta và những vấn đề đặt ra với công tác an ninh do Nông Văn Lưu thực
hiện năm 1995; Nguyên nhân tâm lý xã hội của sự phục hồi, phát triển đạo
Tin lành trong đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và những vấn đề
đặt ra đối với công tác an ninh do Vương Thị Kim Oanh thực hiện năm
2006… Các công trình nghiên cứu trên đã đi sâu khai thác, tìm hiểu quá trình
xâm nhập và chỉ ra những nguyên nhân phục hồi và phát triển đạo Tin lành
trong đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi cũng như trên phạm vi cả nước
để từ đó đưa ra được giải pháp cơ bản nhằm giải quyết những vấn đề phức tạp
về an ninh trật tự ở vùng có đạo Tin lành.
10
Tuy nhiên, với những ý nghĩa thực tiễn to lớn, những nghiên cứu về
tình dục đã được nhìn nhận một cách khách quan hơn và được nghiên cứu phổ
biến hơn, dưới nhiều góc độ khác nhau với những mục đích khác nhau.
Một nghiên cứu tổng hợp được tiến hành ở một số nước Châu Á, Châu
Phi (2002) nhằm thống kê về thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân đã
cho thấy tỷ lệ quan hệ tình dục trước hôn nhân cao: 23% (Triều Tiên); 49,5%
(Philippines); 81,4% (Thái Lan); 71% (Ni-Giê-Ria) và 14,8% (Việt Nam). Tỷ
lệ quan hệ tình dục trong 3 tháng trước điều tra ở vị thành niên học sinh trung
học phổ thông ở Trung Quốc (2009) là 4,5% và 1,8%. Cuộc điều tra về nhận
thức và hành vi tình dục tiến hành ở Nhật Bản (1974) cho thấy đang có sự gia
tăng các hành vi quan hệ tình dục của giới trẻ trước hôn nhân mà một trong số
các nguyên nhân là quan niệm tự do hóa tình dục trong xã hội Nhật Bản
(Kitazawa,1994).
Như vậy, có thể thấy rằng, quan hệ tình dục trước hôn nhân đang ngày
một trở nên phổ biến, và đang có sự gia tăng mức độ chấp nhận của xã hội đối
với các vấn đề tình dục (Kelly, 1999). Theo báo cáo của viện nghiên cứu
PEW dựa trên cuộc điều tra ở Mỹ qua đường điện thoại (2007) với dung
lượng mẫu là 2020 người trưởng thành, 60% những người được hỏi cho rằng
quan hệ tình dục trước hôn nhân không có gì sai trái. Tồn tại một khoảng cách
thế hệ trong thái độ và hành vi đối với việc mang thai và quan hệ trước hôn
nhân. Những người trẻ tuổi có thái độ và hành vi cởi mở hơn và ngày càng đi
xa so với những chuẩn mực đạo đức truyền thống. Những người đã từng trải
nghiệm qua việc sống chung có quan niệm dễ dãi hơn.
Về các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ đối với việc quan hệ tình dục
trước hôn nhân, nghiên cứu của Mohammadi, M.R. và cộng sự (2006) cho
thấy thái độ đồng tình với quan hệ tình dục trước hôn nhân ở thanh niên có
liên quan với việc thôi học, đi làm, tiếp cận internet, sống xa cha mẹ, sử dụng
13
Về lợi ích của quan hệ tình dục trước hôn nhân, nếu nghiên cứu ở
Uganda (2000) cho thấy phần lớn vị thành niên cho rằng tình dục đem lại lợi
ích về mặt xã hội và cá tính thì Ott và cộng sự (2006) thấy rằng thanh niên
nhận thức quan hệ tình dục đem lại sự gần gũi, thỏa mãn và vị thế xã hội của
họ. Với nữ thì quan hệ tình dục có ý nghĩa nhât là tăng cường sự gần gũi khác
với nam là quan hệ tình dục có ý nghĩa nhất là đem lại sự thỏa mãn.
Như vậy, trên thế giới đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu liên
quan đến quan hệ tình dục trước hôn nhân ở thanh niên nói chung. Hầu như
các góc độ, khía cạnh của quan hệ tình dục trước hôn nhân đều được xem xét
tới, qua đó cho thấy một cái nhìn toàn cảnh về thực trạng quan hệ tình dục
trước hôn nhân ở thanh niên, những yếu tố tác động đến hành vi và thái độ
của thanh niên về vấn đề này. Quan hệ tình dục trước hôn nhân tăng ở hầu hết
các quốc gia và thái độ của xã hội đối với vấn đề này cũng đang dần thay đổi.
2.2.2 Những nghiên cứu trong nước về vấn đề tình yêu, tình dục, quan
hệ tình dục trước hôn nhân của thanh niên.
Ở Việt Nam – một đất nước với nền văn hóa truyền thống chịu ảnh
hưởng nhiều của Nho giáo, những vấn đề về tình dục, tình yêu trước đó ít
được nói tới. Bắt đầu từ giữa những năm 80 của thế kỷ XX, Việt Nam bước
vào giai đoạn phát triển mới, đặc biệt là từ năm 1991, quá trình toàn cầu hóa
diễn ra nhanh và mạnh hơn bao giờ hết. Sự thay đổi về mặt chính sách dẫn
đến các thay đổi xã hội, hướng tới một xã hội đa dạng hơn. Tự do cá nhân và
địa vị của phụ nữ được nâng lên rõ rệt. Trong số đó có sự thay đổi trong quan
niệm về tình dục nói chung và quan hệ tình dục trước hôn nhân nói riêng,
khiến một số người đã nghĩ đến một cuộc “cách mạng tình dục” đang diễn ra
ở Việt Nam. So sánh với nước ngoài những nghiên cứu về tình dục và những
vấn đề có liên quan vẫn còn là hiện tượng hết sức mới mẻ ở Việt Nam. Nói
15
nghiên cứu về quan hệ tình dục ngoài hôn nhân nói chung hay nghiên cứu về
quan hệ tình dục trước hôn nhân của thanh niên nói riêng chưa phải là một
chủ đề nghiên cứu riêng biệt mà phần lớn được lồng trong các nghiên cứu
khác nhau ví dụ như: về bạo lực gia đình (Vũ Mạnh Lợi và cộng sự, 1999; Lê
thị Phương Mai, 2000; Hội liên hiệp phụ nữ Việt nam, 2001), người hành
nghề mại dâm (Khuất Thu Hồng và cộng sự, 1997; Population Council, 1997;
Nguyễn Thị Thanh Thúy, 1997; Hội kế hoạch hóa gia đình Việt Nam, 2004),
những người phải nạo hút thai (Gameltoft và Nguyễn Minh Thắng, 1999;
Khuất Thu Hồng và Belanger, 1996; Julian Hafner, 1998; Trần thị Minh Thi,
2002). Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng so với các thế hệ trước, giới trẻ hiện nay
cởi mở hơn với quan hệ tình dục trước hôn nhân, có xu hướng tự do hơn. Họ
hiểu biết khá sớm về các vấn đề giới tính, tình dục so với thế hệ trước và
những chuyện liên quan đến tình dục không còn là một lãnh địa cấm mà được
nói đến công khai, rộng rãi ở nhiều nơi (Khuất Thu Hồng, 2009; Khuất Thu
Hồng, 1998).
Đến những năm đầu của thế kỷ XXI đã có rất nhiều những nghiên cứu
chuyên biệt về tình dục ở những khía cạnh khác nhau mang nhiều ý nghĩa lý
luận cũng như thực tiễn.
Nghiên cứu về chủ đề tình dục được công bố vào ngày 6/10/2009 do
Viện nghiên cứu phát triển xã hội thực hiện đã chỉ ra sự thay đổi trong quan
niệm, thái độ, hành vi tình dục qua các thế hệ. Nghiên cứu này đã điều tra
trong 4 năm (2003-2007), với sự tham gia của gần 300 người từ 15 đến trên
65 tuổi, ở 4 tỉnh, thành phố là Hà Nội, Hà Tây cũ, TP HCM và Cần Thơ. Kết
quả của nghiên cứu này chỉ ra rằng có những quan điểm gần như bất biến
trong vòng hơn 50 năm qua, như vấn đề trinh tiết của phụ nữ luôn được xem
trọng. Tuy nhiên, nhìn chung quan điểm của giới trẻ đã cởi mở hơn rất nhiều
10044 thanh thiếu niên trong độ tuổi từ 14-25 và cũng tiến hành ở 42 tỉnh
thành. Kết quả của hai cuộc nghiên cứu này đã đề cập đến nhiều khía cạnh
17
trong cuộc sống của thanh thiếu niên . Trong đó có những vấ n đề liên quan
đến quan hệ tình dục của họ cũng như thái độ của họ trước hiện tượng quan
hê ̣ tiǹ h du ̣c trước hôn nhân.
So sánh một số kết quả của nghiên cứu SAVY 1 và SAVY 2 cho thấy,
ở điều tra SAVY 1, độ tuổi trung bình khi có quan hệ tình dục của thanh thiếu
niên Việt Nam là 19,6 tuổi. Trong tổ ng số mẫu điề u tra , 7.6% số người đươ ̣c
hỏi cho biết đã có quan hệ tình dục trước hôn nhân . Tới điều tra SAVY 2 thì
độ tuổi trung bình khi có quan hệ tình dục giảm xuống còn 18,1 và 9.5% tổng
số người được hỏi trả lời rằng đã có quan hệ tình dục trước hôn nhân. Các
chuyên gia cũng cho biết, nam thanh niên đã từng có quan hệ tình dục trước
hôn nhân là 13,6% cao gấp 2 lần so với nữ (5,2%) kết quả ở lần điều tra thứ 2.
Tuy nhiên, các nhà điều tra cũng cho rằng khó mà xác định được mức độ
chính xác của những con số trên khi nam giới thường có xu hướng phóng đại
còn phụ nữ lại có xu hướng giảm thiểu trong khi trả lời
các câu hỏi có liên
quan đế n tiǹ h du ̣c. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự khác biệt về giới trong tỷ lệ
này là do nữ thanh niên không dám trả lời đã có quan hệ tình dục vì các lý do
văn hóa cũng như sự kỳ thi ̣đố i với viê ̣c quan hê ̣ tin
̀ h du ̣c trước hôn nhân. Tuy
nhiên, đó là mô ̣t bằ ng chứng cho thấ y rằ ng trong thực tế có hành vi tình du ̣c
trước hôn nhân và xu hướng này sẽ tăng lên trong điề u kiê ̣n dư luâ ̣n xã hô ̣i
bớt nghiêm khắ c.
giác bị hấp dẫn bởi người khác giới và sự tiếp cận với tài liệu khiêu dâm.
Ngược lại, Lê Cự Linh và cộng sự (2009) lại cho rằng việc ít kết nối với cha
mẹ là một trong những yếu tố tác động tới quan niệm của thanh niên về vấn
đề này bên cạnh những yếu tố khác là do chơi với bạn hư hay đã từng bị lạm
dụng tình dục.
Tóm lại, trong vòng hơn 20 năm qua, có rất nhiều nghiên cứu khác
nhau về tình dục và những khía cạnh có liên quan được thực hiện. Các nghiên
cứu chủ yếu là định lượng, cắt ngang và vẫn chưa mang tính bao quát vấn đề
19
nhưng đã thể hiện sự quan tâm ngày một tăng của giới nghiên cứu đối với vấn
đề tình dục và tình dục ở thanh niên. Mặc dù vậy, việc nghiên cứu tình dục
mới chỉ gắn với yếu tố giới, độ tuổi, dân tộc chứ chưa có những nghiên cứu
chỉ ra mối liên hệ giữa quan hệ tình dục trước hôn nhân với yếu tố tôn giáo.
Do vậy, việc nghiên cứu “Quan niệm của thanh niên theo đạo Tin lành về
quan hệ tình dục trƣớc hôn nhân” có yếu tố gợi mở và rất cần thiết.
3. Ý nghĩa nghiên cứu
3.1 Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu trên cơ sở vận dụng một số khái niệm, lý thuyết xã hội học
như khái niệm hôn nhân, tình dục trước hôn nhân, lý thuyết hành động xã hội,
lý thuyết xã hội hóa, lý thuyết sự lựa chọn hợp lý, … để tìm hiểu và giải thích
những quan niệm của thanh niên theo đạo Tin lành: nhận thức của thanh niên
theo đạo Tin lành về giới, tình dục, tình dục an toàn; quan niệm của họ về
quan hệ tình dục trong giới trẻ nói chung và quan hệ tình dục trước hôn nhân
ở giới trẻ theo đạo Tin lành nói riêng. Đồng thời, đề tài cũng góp phần làm
sáng tỏ hơn những lý thuyết xã hội học đã áp dụng.
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu được thực hiện nhằm góp phần phác họa quan niệm của
sống Việt Nam tại Hà Nội.
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1/2016 – tháng 6/2016
- Nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung vào nghiên cứu, phân tích quan
điểm của thanh niên theo đạo Tin lành về quan hệ tình dục trước hôn nhân
của thanh niên theo đạo Tin lành ở một số chiều cạnh sau: Nhận thức của
thanh niên Tin lành về tình yêu, tình dục, mối quan hệ giữa tình dục và tình
yêu; thái độ và hành vi QHTD trước hôn nhân ở nhóm thanh niên theo đạo.
21
6. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
6.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Thanh niên theo đạo Tin lành tại Hà Nội có những đặc điểm cá nhân
và đặc điểm tôn giáo như thế nào?
- Thanh niên theo đạo Tin lành tại Hà Nội có nhận thức và thái độ như
thế nào về tình dục, QHTD trước hôn nhân?
- Hành vi QHTD trước hôn nhân trong nhóm thanh niên theo đạo Tin
lành?
- Có những yếu tố nào tác động tới nhận thức và hành vi của các tín đồ
là thanh niên theo đạo Tin lành về QHTD trước hôn nhân?
6.2 Giả thuyết nghiên cứu
- Đạo Tin Lành thu hút khá nhiều những thanh niên có học vấn cao tại
Hà Nội. Phần lớn trong số họ tuy mới biết tới Tin lành nhưng rất nhiệt tình
tham gia những hoạt động sinh hoạt tôn giáo của Hội thánh.
- Đa số thanh niên theo đạo Tin lành cho rằng tình dục là yếu tố cần
thiết để duy trì, củng cố tình yêu, song họ chưa có hiểu biết đầy đủ về QHTD
an toàn và vẫn có hành vi QHTD trước hôn nhân.
- Quan niệm của thanh niên theo đạo Tin lành tại Hà Nội về QHTD
trước hôn nhân chịu ảnh hưởng nhiều bởi nhiều yếu tố đặc biệt là yếu tố tôn
hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân để đối chiếu so sánh quan điểm về
quan hệ tình dục trước hôn nhân giữa những nam giới đã từng có hành vi này
với những nam giới chưa có hành vi, từ đó so sánh quan điểm của hai giới
khác nhau.
7.3 Phương pháp trưng cầu ý kiến
Phương pháp trưng cầu ý kiến là phương pháp định lượng tác giả sử
dụng nhằm thu thập những thông tin định lượng về vấn đề nghiên cứu. Bảng
hỏi được thiết kế gồm những câu hỏi liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Tác
giả sẽ sử dụng lại một số thang đo của SAVY để đo lường thái độ của thanh
23