BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG QUÝ
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN HÀNH VI
QUAN HỆ TÌNH DỤC TRƯỚC HÔN NHÂN CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ THANH HÓA NĂM 2015
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y KHOA
Khóa 2011 – 2015
Hà Nội – 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG QUÝ
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN HÀNH
VI QUAN HỆ TÌNH DỤC TRƯỚC HÔN NHÂN CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ THANH HÓA NĂM 2015
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y TẾ CÔNG CỘNG
LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi:
Phòng đào tạo trường đại học Y Hà Nội
Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Bộ môn Dịch Tễ học trường Đại học Y Hà Nội
Em tên là Nguyễn Thị Phương Quý
Là sinh viên tổ 34 lớp Y4I khóa 2011-2015 chuyên ngành Cử nhân Y tế Công
Cộng, Viện Đào Tạo Y học dự phòng và Y tế Công Cộng, trường Đại học Y Hà
Nội.
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của em từ khâu xây dựng bộ câu hỏi,
thu thập số liệu, phân tích và xử lí số liệu.
Các số liệu và kết quả có được trong khóa luận là hoàn toàn trung thực và chưa từng
được công bố trên bất kỳ tài liệu nào.
Hà Nội, ngày 30 tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thi Phương Quý
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BCS
Bao sao su
BPTT
Biện pháp tránh thai
Thanh thiếu niên
VTN
Vị thành niên
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................................9
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN .....................................................................................3
1.1.
Một số khái niệm cơ bản trong nghiên cứu ................................................3
1.2. Thực trạng hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân của TTN và sinh viên ........ 4
1.2.1.
Thực trạng trên thế giới .......................................................................4
1.2.2.
Thực trạng tại Việt Nam ......................................................................5
1.3.
Các yếu tố liên quan đến hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân của
TTN và sinh viên ....................................................................................................8
1.3.1.
Yếu tố cá nhân .....................................................................................8
1.3.2.
Phương pháp nghiên cứu ..........................................................................16
2.4.1.
Thiết kế nghiên cứu ...........................................................................16
2.4.2.
Cỡ mẫu ..............................................................................................17
2.4.3.
Phương pháp chọn mẫu .....................................................................17
2.5.
Biến số nghiên cứu chính .........................................................................17
2.6.
Phương pháp và công cụ thu thập số liệu.................................................18
2.6.1.
Công cụ thu thập số liệu ....................................................................18
2.6.2.
Cách tiến hành thu thập thông tin ......................................................18
Xác định một số yếu tố liên quan đến hành vi QHTD của sinh viên 39
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN ......................................................................................43
4.1.
Bàn luận về một số đặc điểm đời sống sinh viên, kiến thức, thái độ và các
mối quan hệ gia đình bạn bè của sinh viên ...........................................................43
4.1.1.
Hành vi lối sống của sinh viên ..........................................................43
4.1.2.
Yếu tố gia đình, bạn bè ......................................................................45
4.1.3.
Kiến thức cúa sinh viên về SKSS và TD...........................................46
4.1.4.
Thái độ của sinh viên về SKSS và TD ..............................................48
4.2.
Bàn luận về thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên . 50
4.2.1.
Tỷ lệ sinh viên đã QHTD trước hôn nhân .........................................50
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1.
Đặc điểm về cá nhân của sinh viên
Bảng 3.2.
Đặc điểm về hành vi lối sống của sinh viên
Bảng 3.3.
Đặc điểm yếu tố gia đình, bạn bè của sinh viên
Bảng 3.4
Thái độ đồng ý/rất đồng ý các quan điểm về SKSS và TD của sinh
viên
Bảng 3.5.
Đặc điểm có người yêu và hành vi QHTD trước hôn nhân
Bảng 3.6.
Đặc điểm về sử dụng BPTT trong QHTD trước hôn nhân
Bảng 3.7.
điểm) của sinh viên
Biểu đồ 3.2.
Kiến thức về SKSS và TD của sinh viên
Biểu đồ 3.3.
Nguồn cung cấp thông tin kiến thức về SKSS và TD
Biểu đồ 3.4.
Điểm trung bình thái độ và tỷ lệ % thái độ truyền thống (≥ 10
điểm) của sinh viên
Biểu đồ 3.5.
Tuổi TB có người yêu lần đầu và có QHTD trước hôn nhân lần
đầu theo giới
ĐẶT VẤN ĐỀ
Xã hội ngày càng hiện đại, thanh thiếu niên (TTN) Việt Nam càng hiểu nhiều
hơn về lối sống của người phương Tây vốn có nhìn nhận việc quan hệ tình dục
(QHTD) trước hôn nhân khá cởi mở [26]. Đối với các hành vi sức khỏe ảnh hưởng
đến TTN và sinh viên thì QHTD trước hôn nhân ngày càng trở thành mối quan tâm
lớn của xã hội.
So với các quốc gia trên thế giới, Việt nam là quốc gia có tỉ lệ quan hệ tình
dục (QHTD) trước hôn nhân thấp hơn. Nghiên cứu năm 2004 của các nhà nghiên
chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố nào? Chưa có nghiên cứu nào tiến hành điều tra
về vấn đề này tại trường, vì vậy nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố liên quan
đến hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên trường Cao đẳng Y tế
Thanh Hóa năm 2015” được tiến hành góp phần giải đáp các vấn đề sức khỏe trên.
Từ đó góp phần giúp cải thiện, nâng cao sức khỏe của sinh viên trong trường.
Nghiên cứu thực hiện với các mục tiêu cụ thể sau:
1. Mô tả một số đặc điểm đời sống cá nhân, kiến thức, thái độ và các mối
quan hệ với gia đình, bạn bè liên quan đến hành vi QHTD trước hôn nhân
của sinh viên trường Cao đẳng Y tế Thanh Hóa năm 2015.
2. Mô tả thực trạng hành vi QHTD trước hôn nhân và một số yếu tố liên
quan của sinh viên tại trường Cao đẳng Y tế Thanh Hóa năm 2015.
3
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN
1.1. Một số khái niệm cơ bản trong nghiên cứu
Theo tổ chức Y Tế thế giới (1998), VTN là những người trong độ tuổi 10-19,
TTN là những người trong độ tuổi 15-24. Tại Việt Nam, đối tượng sinh viên của các
trường trung cấp, cao đẳng, đại học thường có độ tuổi từ 18-24 [46]. Một số ít có
thểở độ tuổi 17 do đi học sớm so với tuổi quy định hoặc trên 24 tuổi với một lí do
nào đó mà học muộn. Do vậy đối tượng sinh viên là một bộ phận của nhóm đổi
tượng TTN.
Một số khái niệm có đề cập đến trong nghiên cứu:
Hành vi là một hay nhiều hành động phức tạp, mà các hành động này lại chịu
ảnh hưởng của nhiều yêu tố bên trong và bên ngoài, chủ quan và khách quan. Mỗi
hành vi của một người là biểu hiện của các yếu tố cấu thành nên nó, đó là kiến thức,
niềm tin, thái độ, cách thực hành hay kỹ năng của người đó trong một hoàn cảnh
hay tình huống cụ thể [44].
Quan điểm là cách nhìn nhận, cách suy nghĩ về một vấn đề nào đó. Quan điểm
4 nước vực cận Sahara cho thấy 3/4 nước này đều có trên 50% TTN trong độ tuổi từ
18-19 đã từng QHTD trước hôn nhân [18]. Còn tại các nước phương Tây như Mỹ tỷ
lệ QHTD trước hôn nhân ở TTN là 75% [19]. Tương tự tại các quốc gia như Anh và
Pháp tỷ lệ TTN dưới 20 tuổi có QHTD là 79% và 67% [6]. Còn một nghiên cứu
khác của Singh S và cộng sự (2000) khi so sánh tình hình TTN tại 14 nước trên Thế
giới, nữ TTN chưa lập gia đình nhóm tuổi 15-19 tại Thái Lan và Philippin trả lời có
QHTD rất thấp (1-3%) trong khi nam giới ở cùng độ tuổilại cao hơn nhiều (tương
ứng 27% và 12%) [42].
Không chỉ tỷ lệ QHTD trước hôn nhân mà tuổi QHTD lần đầu cũng có sự
khác biệt. Nhìn chung ngày nay TTN bắt đầu QHTD từ khá sớm. Tại Nigeria theo
nghiên cứu tiến hànhở 3 bang vùng Đông Bắc, nam TTN có tuổi QHTD dao động
từ 10-24 tuổi và tuổi trung bình QHTD lần đầu là 15,7 tuổi. Đối với nữ, tuổi bắt đầu
QHTD dao động từ 10-18 tuổi và tuổi QHTD lần đầu trung bình là 16,1 tuổi [31].
Tại Bangladesh tuổi trung bình bắt đầu có QHTD ở TTN là 15 tuổi. Ngoài ra, 1/5 số
5
trẻ dưới 15 tuổi có QHTD trước hôn nhân, thậm chí tuổi bắt đầu có QHTD là 13
tuổi [53]. Như vậy việc xuất hiện tuổi QHTD có nơi rất sớm (13 tuổi) khi cơ thể còn
chưa phát triển toàn diện có thể tiềm ẩn những nguy cơ gây hại đến sức khỏe cho trẻ
như mắc các bệnh LTQĐTD, ảnh hưởng đến tâm sinh lí... [46].
Bên cạnh vấn đề tuổi QHTD sớm, việc sử dụng các BPTT cũng được xem xét
thực trạng ra sao ở đối tượng TTN. Bao cao su và thuốc uống tránh thai là 2 biện
pháp được biết đến với tỷ lệ cao nhất. Theo các nghiên cứu cho thấy, ở Colombia có
94,5% đối tượng biết thuốc uống tránh thai và 96,2% đối tượng biết đến BCS. Tỷ lệ
này ở Gana lần lượt là 64,5% và 75,7%, ở Philippin là 88,5% và 85%, còn ở
Indonesia là 91,5% và 52,7%. Ở Indonesia các BPTT truyền thống được biết đến
với tỷ lệ thấp hơn như tính vòng kinh 5,4% và xuất tinh ngoài âm đạo là 7% [6].
QHTD trước hôn nhân không sử dụng các BPTT, ngoài việc có nguy cơ cao
thành thị là 9%. Thanh niên ở nông thôn có tuổi QHTD lần đầu sớm hơn thanh niên
đô thị (18 tuổi ở nông thôn và 18,4 tuổi ở thành thị)[17][48].
Một nghiên cứu khác của Vũ Mạnh Lợi, Ghuman và cộng sự (2006) đã tiến
hành nghiên cứu so sánh trên những phụ nữ ở miền Bắc và Nam của Việt Nam đã
lập gia đình trong 3 khoảng thời gian 1963-1971 (giai đoạn 1); 1977-1985 (giai
đoạn 2) và 1992-2000 (giai đoạn 3). Kết quả cho thấy đối tượng trong nghiên cứu
thuần tập trên ở giai đoạn 3 có QHTD trước hôn nhân cao hơn những đối tượng
nghiên cứu ở giai đoạn 1 và 2 [8].
Khảo sát về đối tượng QHTD trước hôn nhân, theo SAVY1 chỉ có 15% nam
TTN có QHTD trước hôn nhân với những người mà họ không có dự định kết hôn,
70% nam TTN có QHTD trước hôn nhân với vợ chưa cưới và 23,4% QHTD trước
hôn nhân với bạn gái, trong khi đó có 91% nữ TTN có QHTD lần đầu với chồng
chưa cưới [17].
Ở Việt nam cũng có nhiều nghiên cứu về QHTD trước hôn nhân của TTN.
Nghiên cứu của Lê Cự Linh tiến hành ở Gia Lâm với mẫu nghiên cứu là 2394 TTN
độ tuổi từ 15-24 phân chia ngẫu nhiên các đối tượng vào 3 nhóm sử dụng 3 phương
pháp phỏng vấn khác nhau: phỏng vấn trực tiếp bộ câu hỏi, đối tượng tự điền bộ câu
hỏi và phương pháp thu thập thông tin có sự trợ giúp của máy tính. Kết quả cho
thấy tỷ lệ TTN có QHTD trước hôn nhân thu thập theo các phương pháp khác nhau
7
có sự sai chệch đáng kể: dùng bộ câu hỏi tự điền tỷ lệ TTN có QHTD trước hôn
nhân ở nam, nữ lần lượt là 10% và 6,3%; phỏng vấn trực tiếp bộ câu hỏi cho tỷ lệ
15,2% nam và 5,2% nữ; ở nhóm thu thập thông tin dưới sự trợ giúp của máy tính tỷ
lệ này là 18,3% nam và 7,4% nữ [21]. Nghiên cứu này cho thấy hạn chế do việc ảnh
hưởng từ tính nhạy cảm của nghiên cứu đến việc thu thập thông tin và số liệu khiến
đối tượng nghiên cứu không thoải mái chia sẻ thông tin chính xác của mình.
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Nghị ở Chí Linh, Hải Dương năm 2006-2009
trong đó 20% thuộc lứa tuổi VTN, chưa kể những trường hợp phá thai “chui” tại cơ
sở y tế tư nhân không thể kiểm soát và thống kê được [1].
Theo Vụ Sức khỏe Bà mẹ-Trẻ em (Bộ Y tế), tỷ lệ vị thành niên có thai trong
tổng số người mang thai tăng liên tục qua các năm: Năm 2010: 2,9%; năm
2011: 3,1%; năm 2012: 3,2%, tương ứng tỷ lệ phá thai ở lứa tuổi này là 2,2%
(2010), 2,4% (2011) và 2,3% (2012). Đây không chỉ là một gánh nặng, thách thức
lớn cho công tác dân số, mà đáng lưu tâm hơn là nó để lại những hậu quả nghiêm
trọng cho thế hệ trẻ [35].
1.3. Các yếu tố liên quan đến hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân của
TTN và sinh viên
1.3.1. Yếu tố cá nhân
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hành vi QHTD trước hôn nhân của TTN.
Trong số các yếu tố đó, đầu tiên phải kể đến các đặc điểm cá nhân của bản thân
TTN. Một số yếu tố cá nhân đó là yếu tố tuổi, giới của bản thân, hành vi lối sống,
kiến thức, thái độ của TTN về sức khỏe sinh sản (SKSS) và QHTD.
Yếu tố giới
Yếu tố đề cập ở đây là sự khác biệt về giới ở TTN có QHTD trước hôn nhân.
Các nghiên cứu chỉ ra rằng, ở những người cùng độ tuổi, nam giới thường có
QHTD trước hôn nhân phổ biến hơn nữ. Các kết quả nghiên cứu ở SAVY2 cũng chỉ
ra rằng nam thanh niên có tỷ lệ từng QHTD trước hôn nhân (kể cả những người
hiện đã lập gia đình) là 13,6% cao hơn hẳn 2 lần so với nữ là 5,2%. Ở SAVY1 con
số này cũng có sự chênh lệch khá lớn, ở nam đã từng có QHTD là 11,1% và ở nữ là
9
4%. Còn ở những đối tượng chưa lập gia đình, qua các cuộc khảo sát SAVY1 và
SAVY2 tỷ lệ nam giới đã từng có QHTD cao hơn rất nhiều so với nữ[17][48].
Các nghiên cứu tại các nước trên thế giới cũng chỉ ra sự khác biệt về giới
trong hành vi QHTD trước hôn nhân. Theo một nghiên cứu tiến hành ở 14 quốc gia
phẩm đồi trụy đến hành vi QHTD trước hôn nhân (OR=10,5; p
12
đến hành vi QHTD trước hôn nhân. Đặc biệt khi so sánh nhóm TTN ít chịu tác động
từ bạn bè với nhóm TTN chịu tác động tiêu cực từ bạn bè ở mức độ trung bình và
cao thì TTN có xu hướng QHTD cao hơn là 4 và 7,5 lần [21].
1.3.3. Yếu tố gia đình
TTN từ 18-24 tuổi ở Việt Nam là độ tuổi bắt đầu bước vào ngưỡng cửa đại
học, cao đẳng. TTN phải tự lập với cuộc sống của bản thân, họ có thể tự do trải
nghiệm, mở rộng các mối quan hệ bạn bè, xã hội. Nếu như trước đó, gia đình và nhà
trường không có những định hướng đúng đắn về nhận thức, trang bị kiến thức, hiểu
biết SKSS và TD thì TTN rất dễ dàng chấp nhận hành vi QHTD trước hôn nhân
một cách dề dãi và tiềm ẩn những nguy cơ gây hại như lây bệnh qua đường TD,
HIV/AIDS, có thai ngoài ý muốn… Vì vậy, gia đình, nhà trường là các yếu tố tác
động lớn đến hành vi QHTD của TTN.
Xét về ảnh hưởng của gia đình, tình trạng sống với gia đình của TTN đã
đượcmột số nghiên cứu đánh giá dự đoán về QHTD trước hôn nhân của TTN sau
này. Trong một nghiên cứu tiến hành tại Philippin đánh giá yếu tố về tuổi bắt đầu
sống xa gia đình. Nghiên cứu chỉ ra rằng, những nữ TTN sống xa gia đình càng sớm
thì tỷ lệ có QHTD trước hôn nhân càng cao. Tỷ lệ TTN xa gia đình khi 21 tuổi có
QHTD trước hôn nhân là 13% thấp hơn tỷ lệ này ở những người xa gia đình từ năm
13 tuổi là 18%. Đối với nam giới Philippin việc sống cùng gia đình có tác động làm
giảm nguy cơ QHTD trước hôn nhân ở nam. Như vậy, việc sống xa cả bố mẹ làm
tăng nguy cơ QHTD trước hôn nhân của TTN Philippin lên 50% với nam và 30%
với nữ.
Cũng với một nghiên cứu tương tự ở Thái Lan, việc sống với gia đình có cả bố
lẫn mẹ là yếu tố bảo vệ đối với hành vi QHTD trước hôn nhân của TTN. Kết quả
cho thấy, ở nữ TTN nếu không sống cùng bố hoặc mẹ dẫn đến nguy cơ QHTD
trước hôn nhân tăng lên 1,5 lần và không sống với cả bố và mẹ làm nguy cơ này
Trường Cao đẳng Y tế Thanh Hóa là trường cao đẳng trực thuộc sự quản lý
trực tiếp của Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa. Địa điểm trường tại số 177 đường
Hải Thượng Lãn Ông, phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa.Trường Cao đẳng Y
tế Thanh Hoá có nhiệm vụ đào tạo và bồi dưỡng cán bộ có trình độ cao đẳng về y,
dược khoa bằng các hình thức tập trung dài hạn, bổ túc ngắn hạn và tại chức, đáp
ứng nhu cầu của tỉnh Thanh Hóa về cán bộ y tế. Đến nay nhà trường đã có 11
chuyên ngành đào tạo bậc cao đẳng, trung cấp với quy mô 4 000 học sinh, sinh viên
chính quy và không chính quy. Đến nay, nhà trường đã đào tạo được 38 560 cán bộ
y tế, cung cấp gần 80% nguồn nhân lực cho y tế tỉnh nhà, trong đó có HSSV của 22
tỉnh, thành trong cả nước theo học tại trường. Nhà trường còn đào tạo nguồn cán bộ
y tế cho nước bạn Lào.
15
1.4.
Khung lí thuyết
Yếu tố kinh tế - xã hội, hội
nhập văn hoá quốc tế
Tuổi, giới,
năm học,
trình độ học
vấn, khu vưc
sống
Kiến thức,
thái độ về
SKSS và
K, SKSS,
giáo dục giới
tính, truyền
thông…)
Tình dục không
an toàn
Bệnh lây
truyền qua
đường tình dục
Nạo phá thai
Có thai ngoài
ý muốn
16
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là sinh viên năm thứ nhất, năm thứ 2 hệ cao đẳng và năm thứ
nhất hệ trung cấp đang theo học tại trường cao đẳng Y tế Thanh Hóa. Vì sinh viên
năm cuối từng hệ đang đi thực tế cộng đồng tại tuyến huyện không có ở trường.
Tiêu chuẩn lựa chọn
Là sinh viên đang theo học tại trường CĐ Y tế Thanh Hóa.
n: cỡ mẫu tối thiểu cần có.
Z2(1-α/2): là hệ số tin cậy, ứng với độ tin cậy 95% (α= 0,05) thì Z1-α/2= 1,96,
chọn =0,25.
p: tỷ lệ sinh viên có QHTD trước hôn nhân từ nghiên cứu trước, p=0,1 (tỷ lệ
thanh niên trong độ tuổi từ 18-24 đã từng quan hệ tình dục theo Điều tra về
VTN và TTN Việt Nam lần thứ 2 năm 2010 (SAVY2). Từ những giá trị trên
thay vào công thức ta được N= 553.
Với dự trù thêm 10% số sinh viên từ chối và không đạt yêu cầu nên cỡ mẫu
cuối cùng cần thu thập là N=610 sinh viên.
2.4.3. Phương pháp chọn mẫu
Bước 1: Phân bố 610 sinh viên cần lấy theo tỷ lệ từng khoa/hệ(phụ lục 2).
Bước 2: Lập danh sách sinh viên từng khoa hệ. Tiến hành chọn mẫu ngẫu nhiên
đơn từ danh sách đó theo tỷ lệ sinh viên cần lấy đã phân ở bước 1.
Cách làm: sử dung hàm random trên excel để trộn danh sách sinh viên ở mỗi
khoa/hệ. Kết thúc trộn, khi bảng danh sách đã được sắp xếp ngẫu nhiên, lấy bất
kì 1 khoảng trong danh sách đó cho đến khi đủ số lượng cần lấy.
Bước 3: lập danh sách sinh viên được chọn theo lớp để tiến hành thu thập số
liệu.
2.5. Biến số nghiên cứu chính