Nghiên cứu thực trạng và một số yếu tố liên quan tới bệnh sán lá gan nhỏ ở người tại xã hữu bằng, kiến thụy, hải phòng năm 2014 - Pdf 37

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y - DƢỢC HẢI PHÒNG

VŨ THỊ NHƢ HOA

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ
LIÊN QUAN TỚI BỆNH SÁN LÁ GAN NHỎ Ở NGƢỜI
TẠI XÃ HỮU BẰNG, KIẾN THỤY, HẢI PHÒNG, NĂM 2014

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH Y TẾ CÔNG CỘNG

HẢI PHÒNG - 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y - DƢỢC HẢI PHÒNG

VŨ THỊ NHƢ HOA

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ
LIÊN QUAN TỚI BỆNH SÁN LÁ GAN NHỎ Ở NGƢỜI
TẠI XÃ HỮU BẰNG, KIẾN THỤY, HẢI PHÒNG, NĂM 2014

LUẬN VĂN THẠC SỸ

Các thầy cô trong Ban giám hiệu, các thầy cô của phòng Đào tạo
sau đại học, khoa Y tế công cộng trƣờng Đại học Y - Dƣợc Hải Phòng đã giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Ban Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng và khoa phòng nơi tôi
công tác đã tạo điều kiện cho tôi học tập và giúp đỡ tôi khi làm luận văn tốt
nghiệp.
Các thầy cô trong bộ môn Ký sinh trùng, lớp cử nhân kỹ thuật Y
học K3 trƣờng Đại học Y- Dƣợc Hải Phòng cùng các cán bộ trực tiếp tham
gia điều tra của Uỷ ban nhân dân, trạm y tế và nhân dân địa phƣơng xã Hữu
Bằng huyện Kiến Thuỵ, Hải Phòng đã tạo điều kiện thuận lợi nhất giúp tôi thu
thập số liệu để hoàn thành đƣợc luận văn này.
Tôi dành tình cảm thân yêu nhất tới gia đình, bố mẹ, chồng và các
con tôi, những ngƣời luôn luôn ở bên tôi, động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình học tập và hoàn thành luận văn.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới những ngƣời bạn,
đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Hải Phòng, ngày 28 tháng11 năm 2014
Ngƣời viết luận văn

Vũ Thị Nhƣ Hoa


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC HÌNH
DANH MỤC BẢNG
ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................................... 1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................... 3
1.1. Lịch sử nghiên cứu bệnh sán lá gan nhỏ: ................................................... 3

Hình 1.1.Clonorchis sinensis ......................................................................... 9
Hình 1.2. Opisthorchis felineus ....................................................................... 9
Hình 1.3. Nang trùng cá Metacercaria ......................................................... 9
Hình 1.4. Trứng Clonorchis sinensis ............................................................... 9
Hình 1.5. Chu kỳ của sán lá gan nhỏ ........................................................... 11
Hình 1.6. Ốc Bythinia sinensis ........................................................................ 11
Hình 1.7. Ốc Melanoides tuberculatu ........................................................... 11
Hình 1.8. Cá mè trắng Hypophthalmicthys harmandi .................................... 17
Hình 1.9. Cá trắm trắng Ctenopharyngodon idellus ....................................... 18
Hình 3.1 Tỷ lệ nhiễm sán lá gan nhỏ chung.................................................... 28
Hình 3.2. Tỷ lệ nhiễm sán lá gan nhỏ theo nhóm tuổi .................................... 29
Hình 3.3: Tỷ lệ ngƣời dân có kiến thức đúng về nguyên nhân mắc bệnh ...... 37
Hình 3.4: Tỷ lệ ngƣời dân có kiến thức đúng về các biện pháp phòng bệnh sán
lá gan nhỏ ....................................................................................................... 39
Hình 3.5. Loại nhà tiêu đang đƣợc sử dụng của các hộ gia đình .................... 46


DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Tỷ lệ nhiễm sán lá gan nhỏ theo giới tính ...................................... 28
Bảng 3.2. Tỷ lệ nhiễm sán lá gan nhỏ theo nghề nghiệp ................................ 30
Bảng 3.3. Tỷ lệ nhiễm sán lá gan nhỏ theo trình độ học vấn.......................... 31
Bảng 3.4. Cƣờng độ nhiễm sán lá gan tại địa điểm nghiên cứu .................... 32
Bảng 3.5: Cƣờng độ nhiễm sán lá gan nhỏ theo giới ...................................... 32
Bảng 3.6: Cƣờng độ nhiễm sán lá gan theo lứa tuổi ....................................... 33
Bảng 3.7. Cƣờng độ nhiễm sán lá gan theo trình độ học vấn ......................... 34
Bảng 3.8: Kiến thức của ngƣời dân về những loài sán gây bệnh trên ngƣời ............ 36

Bảng 3.9: Tỷ lệ ngƣời dân có kiến thức đúng về tác hại củaError! Bookmark not define
Bảng 3.9: Nguồn thông tin cung cấp kiến thức về bệnh sán lá gan nhỏ ......... 40
Bảng 3.10. Thái độ với bạn bè, ngƣời thân về ăn gỏi cá ............................... 41

O.felineus
PTTH
SKĐT
SL
SLGN
TB
TCYTTG
TH
THCS
TKĂ
TS
VSR-KST-CT
WHO
XN

: Cộng sự
Dƣơng tính
Clonorchis sinensis
Cán bộ y tế
Cao đẳng
Công nhân
Đại học
Điều tra
: Số trứng sán trong 1 gam phân
Giáo viên
: Hợp vệ sinh
: Kiến thức , thái độ, thực hành
(Knowledge - Attiude - Practice )
: Nghiên cứu
: Nhà xuất bản

Thanh Hóa, Phú Yên, Bình Định... Tỷ lệ nhiễm ở các tỉnh này 20 -37 %, thậm
chí tới 40% tại các xã có tập quán ăn gỏi cá và ngƣời dân vẫn sử dụng phân
tƣơi để nuôi cá. Tuy nhiên, việc chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh sán lá gan
nhỏ còn thấp. Do vậy, bệnh sán truyền qua thức ăn ngày càng đƣợc phát hiện
nhiều hơn [2].
Điều đáng chú ý là các bệnh nhân nhiễm sán lá gan nhỏ có thể bị xơ
gan ở nhiều mức độ khác nhau. Tuy vậy kể từ khi nhiễm sán lá gan nhỏ đến
khi xuất hiện các triệu chứng bệnh lý là một thời gian dài không có triệu
chứng lâm sàng, hoặc các triệu chứng không rõ ràng. kể cả khi triệu chứng
tổn thƣơng gan đã rõ, nhiều ngƣời vẫn không nghĩ nguyên nhân là do sán lá
gan nhỏ, vì thế bệnh ít đƣợc ngƣời dân quan tâm phòng chống.
Theo điều tra của Viên sốt rét - Ký sinh trùng và Côn trùng Trung
ƣơng từ năm 1976 – 2002 [31], tại Hải Phòng tỷ lệ nhiễm sán lá gan nhỏ
13,1%.
Việc xác định thực trạng nhiễm sán lá gan nhỏ cũng nhƣ kiến thức, thái
độ, thực hành của mỗi ngƣời dân đối với bệnh là hết sức cần thiết nhằm xây


2
dựng các hoạt động phòng chống nhiễm sán lá gan nhỏ tại địa phƣơng đạt
hiệu quả cao.
Xuất phát từ thực tế, huyện Kiến Thuỵ là một địa phƣơng có bênh sán
lá gan lƣu hành do dân ở khu vực này có thói quen ăn gỏi cá và các món cá
nấu chƣa chín, nhất là các xã nằm dọc hai bên sông Đa Độ. Cho đến nay, khu
vực này chƣa có đề tài nào nghiên cứu về vấn đề này. Vì vậy, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng nhiễm sán lá gan nhỏ ở ngƣời và một số
yếu tố liên quan tới bệnh tại xã Hữu Bằng, Kiến Thụy, Hải Phòng” với mục
tiêu:
1. Xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan nhỏ ở người dân xã
Hữu Bằng, năm 2014.

viverrini bị nhiễm tại những ngƣời lào ở Vientian là 15% và Thakhet 23%.


4
Năm 1955 Tổ chức Y tế thế giới cho rằng trên 7 triệu ngƣời Thái Lan,
Lào, Campuchia nhiễm sán lá gan Opisthorchis viverrini [31], [45], [46].
Năm 1992, Nguyễn Văn Chƣơng phát hiện ổ bệnh sán lá gan nhỏ tại
Phú Yên, đến năm 1996 Nguyễn Văn Đề và Nguyễn Văn Chƣơng đã xác định
loài bằng hình thái học và thẩm định bằng sinh học phân tử [21].
Opisthorchis felineus:
Sán lá gan nhỏ Opisthorchis felineus lần đầu tiên đƣợc Rivolta mô tả
năm 1884 tại Siberia (Nga). Sau đó tìm thấy ở Balan, Đức, Hà Lan, Pháp,
Thụy Sĩ, Thổ Nhĩ Kỳ, Ý và Tây Ban Nha [43], [44], [56].
1.2. Tình hình nhiễm sán lá gan nhỏ
1.2.1. Tình hình nhiễm sán lá gan nhỏ trên thế giới
Bệnh sán lá gan nhỏ phân bố trên thế giới rất đa dạng, ở nhiều quốc gia
khác nhau.
Tại Nhật Bản, ca bệnh đầu tiên phát hiện vào năm 1878. Sau đó có
nhiều nghiên cứu khác phát hiện bệnh sán lá gan nhỏ. Từ năm 1886- 1898, tỷ
lệ nhiễm sán lá gan nhỏ 30-67% dọc sông Ton, hồ Kasumigaura, đồng bằng
Nobi, Aichi và Gifu, vùng Biwa, sông Onga và sông Chiguga. Trong năm
1960, những khu vực này đều là ổ dịch tễ nặng nề của bệnh của bệnh [52].
Tại Triều Tiên, trƣờng hợp nhiễm C. sinensis đầu tiên đƣợc công bố
năm 1915 do tập quán ăn ăn gỏi cá. Năm 1958, tỷ lệ nhiễm 11,7%. Năm 1959,
có 4,5 triệu dân mắc chiếm tỷ lệ 15%. Năm 1969, tỷ lệ nhiễm 4,7% . Đặc biệt ở
khu vực sông Chu Kiang Pearl River, sông Han, tỷ lệ bệnh lƣu hành 6,4%
(1973-1983). Bệnh phân bố chủ yếu ở khu vực 7 sông lớn: Han, Kurm,
Nakdông, Mangyong, Yeongsan, Seomjin và Tamjin [3].
Tại Trung Quốc, sán lá gan nhỏ C. sinensis phân bố trên 24 tỉnh thành,
tỷ lệ 1-57%. Tỉnh Quảng Đông và vùng tự trị ở miền Nam, tỉnh Hắc Long

khí hậu nóng và ẩm quanh năm là điều kiện rất thuận lợi cho mầm bệnh giun


6
sán phát triển, tập quán ăn gỏi cá và thức ăn chƣa nấu chín có chứa ấu trùng sán
là nguyên nhân gây nhiễm sán lá gan nhỏ khá cao [2], [7].
Ở nƣớc ta hiện tại đã xác định đƣợc sự có mặt của 2 loại sán lá gan nhỏ:
C. sinensis và Opisthorchis viverrini. Tại 19 tỉnh thành trên cả nƣớc C. sinensis
phân bố ở đồng bằng Bắc Bộ. Opisthorchis viverrini phân bố ở các tỉnh miền
Trung Nam Bộ. Ở Việt Nam ca sán lá gan đầu tiên đƣợc phát hiện ở miền Bắc
Việt Nam bởi Grall [1].
Năm 1909 (Mathis và Liger) đã tìm thấy C. sinensis trên 1 công dân
Pháp ở Việt Nam [21]. Điều tra 300 ngƣời dân năm 1991, Mathis và Léger
thấy tỷ lệ nhiễm sán lá gan nhỏ là 20%.
Năm 1924, Railliet phát hiện đƣợc Opisthorchis felineus ở Hà Nội [34].
Năm 1965 Đặng Văng Ngữ và Đỗ Xuân Thái phát hiện 1 trƣờng hợp
nhiễm C. sinensis phối hợp với O.felineus [21].
Năm 1976 Viện sốt rét - Ký sinh trùng và Côn trùng Trung ƣơng (Viện
SR-KST & CT TƢ) đã phát hiện 1 số ca bệnh sán lá gan nhỏ đến từ Nam
Định, Ninh Bình, các địa phƣơng điều tra tình hình nhiễm sán lá gan nhỏ tại
huyện Nghĩa Hƣng, Nam Định tỷ lệ nhiễm 37,2% [20].
Kiều Tùng Lâm và CS đã hồi cứu một số xét nghiệm 4 bệnh viện lớn ở
Hà Nội, năm 1984 nhƣng chƣa thấy nhiễm sán lá gan [6].
Nguyễn Văn Chƣơng và cộng sự (CS) tại An Mỹ, Phú Yên năm 1992
tỷ lệ nhiễm sán lá gan nhỏ là 36,9% [20]. Có nơi bệnh phân bố trên toàn tỉnh
nhƣ Hòa Bình (Nguyễn Văn Đề và CS năm 1996, 1998, 2002, 2003)[9], [18].
Một nghiên cứu khác của Nguyễn Văn Chƣơng từ năm 1992 đến 1998
tại xã An Bình, An Mỹ, Phú Yên cho thấy tỷ lệ nhiễm sán lá gan nhỏ là 20,229,4%, lứa tuổi có tỷ lệ nhiễm cao nhất là 40-49, nam nhiễm cao gấp 2 lần nữ,
tỷ lệ ngƣời dân ăn gỏi cá là 74,8% [9], [11].



8
1.2.3. Tại Hải Phòng.
Hải Phòng là thành phố xen kẽ nông nghiệp, du lịch và các ngành nghề
nuôi trồng thủy sản nên có tỷ lệ nhiễm các bệnh giun sán khá cao, trong đó
nhiễm sán lá gan nhỏ cũng nằm trong vùng dịch tễ [21].
Năm 1976, Kiều Tùng Lâm điều tra tại Hải Phòng tỷ lệ nhiễm sán lá
gan nhỏ C. sinensis từ 3-30% [21], [33].
Năm 2013, theo nghiên cứu của Đỗ Mạnh Cƣờng tại quận Dƣơng Kinh,
Hải Phòng tỉ lệ nhiễm SLGN là 15,69% [5]
Theo điều tra của Viện sốt rét KST & CT TƢ từ năm 1976 - 2002 tại
Hải Phòng tỷ lệ nhiễm sán lá gan nhỏ là 13,1% [21].
Qua kết quả nghiên cứu thấy Hải Phòng nằm trong vùng dịch tễ của
bệnh sán lá gan nhỏ, do có nhiều ao hồ ở vùng nông thôn nuôi thả cá nƣớc
ngọt. Mặt khác, cũng nhƣ nhiều tỉnh vùng đồng bằng Bắc Bộ, ngƣời dân Hải
Phòng có thói quen ăn gỏi cá nhƣ cá chép, cá mè, cá trôi… bằng cách thái cá
sống thành lát mỏng, trộn thính và gia vị, ăn kèm nhiều loại rau thơm. Vì vậy
tỷ lệ nhiễm sán lá gan nhỏ cao cùng với bức tranh nhiễm bệnh chung của cả
nƣớc [11, [20], [32].
1.3. Đặc điểm sinh học của bệnh sán lá gan nhỏ
1.3.1. Đặc điểm hình thái học của sán lá gan nhỏ
Sán trƣởng thành:
Sán trƣởng thành có màu hồng hoặc đỏ, đầu phía trƣớc nhỏ có hấp
khẩu nằm gần tận cùng, một hấp khẩu 4 bụng hình chén nằm ở mặt bụng,
khoảng 1/5 về phía trƣớc của cơ thể. Kích thƣớc trung bình của sán trƣởng
thành 7,4 mm, rộng 1,47 mm. Trên cơ thể có cơ quan sinh dục cái là buồng
trứng, tử cung, cơ quan sinh dục đực là tinh hoàn chía nhánh [1].
Ấu trùng sán lá gan nhỏ:



Sán trƣởng thành ký sinh chủ yếu ở ống mật nhỏ, đôi khi gặp ở các ống
mật lớn, túi mật hoặc ống tụy.
Chu kỳ của sán lá gan nhỏ gồm 3 vật chủ là ốc, cá, ngƣời. Trong đó,
ngƣời là vật chủ chính, ốc và cá thích hợp là những vật chủ trung gian.
Trứng sán sau khi đƣợc bài xuất ra khỏi cơ thể cần phát triển dƣới nƣớc
mới hình thành ấu trùng lông trong trứng. ấu trùng lông ký sinh tiếp tục ở các
loài ốc thích hợp.
Sán đẻ trứng, trứng theo mật xuống ruột, rồi theo phân ra ngoài. Trứng
đƣợc rơi vào môi trƣờng nƣớc.
Trứng bị ốc nuốt rồi nở ra ấu trùng lông trong ốc để phát triền thành ấu
trùng đuôi.
Ấu trùng đuôi rời ốc bơi tự do trong nƣớc. Ấu trùng đuôi xâm nhập vào
cá nƣớc ngọt và phát triển thành ấu trùng nang ở trong thịt của cá nƣớc ngọt
thích hợp. Ngƣời hoặc động vật ăn phải cá có ấu trùng nang chƣa đƣợc nấu
chín[16]. Các loài cá có thể nhiễm trùng sán gồm cá chép, cá rô, cá giếc, cá
mè, cá trôi, cá trắm, ..v...v..
Sau khi ăn, ấu trùng nang vào dạ dày xuống tá tràng, rồi ngƣợc theo
đƣờng mật lên gan, sán lá gan trƣởng thành ký sinh và gây bệnh ở đó, thời
gian từ khi ăn phải ấu trùng nang đến khi thành sán trƣởng thành khoảng 26
ngày. Tuổi thọ của sán lá gan nhỏ từ 15- 25 năm [34].


11

Hình 1.5. Chu kỳ của sán lá gan nhỏ
(http://www.cdc.gov)

Hình 1.6. Ốc Bythinia sinensis
(http://www.cdc.gov)


1986, Sher 1989, Ona và Dytoc 1991) [1], [34].


13
Ngoài tổn thƣơng gan, tụy cũng có thể bị xơ hóa, tăng sinh và thoái
hóa.
Trứng sán lá gan nhỏ có vai trò rất nhỏ trong sinh bệnh học của bệnh
sán lá gan nhỏ. Tuy nhiên trứng và sự phân hủy của sán tạo nên sỏi mật trong
ống mật và túi mật ở những ngƣời nhiễm sán. Sỏi mật có thể hình thành xung
quanh trứng và những sán chết trong túi mật. Katsura (1898), ghi nhận có 02
trƣờng hợp hình thành sỏi mật trong 70 trƣờng hợp mổ tử [11].
Theo Nauck và Backiang Liang năm 1928, khi nhiễm sán lá gan nhỏ,
ngoài tổn thƣơng viêm gan, nhiễm trùng đƣờng mật tăng sản, còn gây ung thƣ
gan đƣờng mật với sự tràn vào tĩnh mạch cửa và các ổ di căn [34].
1.4.2. Biểu hiện lâm sàng của bệnh:
Ở giai đoạn đầu mới nhiễm thƣờng không có triệu chứng gì rõ rệt, một
số trƣờng hợp thỉnh thoảng có rối loạn tiêu hóa nhƣ: mệt mỏi, ăn chậm tiêu. Ở
giai đoạn sau, triệu chứng nổi bật là rối loạn tiêu hóa nhƣ: đi ngoài phân sống,
đầy bụng, khó tiêu, ậm ạch, cảm giác nhƣ đau dạ dày, ăn nhiều mỡ đau tăng
lên và rối loạn tiêu hóa nặng hơn. Thƣờng đau tức hạ sƣờn phải, đau tức
vùng gan xuất hiện nhiều khi lao động nặng hoặc đi lại. Đôi khi có cơn đau
điển hình, vàng da và nƣớc tiểu vàng xuất hiện từng đợt. Một số trƣờng hợp
bị sạm da. Gan có thể to vƣợt quá bờ sƣờn với mật độ mềm, mặt gan nhẵn và
tiến triển chậm. Càng về giai đoạn cuối, bệnh nhân càng gầy yếu, sút cân,
kém ăn, giảm sút lao động [34].
Hậu quả là phần lớn bệnh nhân sán lá gan nhỏ đều có thể bị xơ gan, ở
nhiều mức độ khác nhau. Nếu điểu trị sớm, gan có thể hồi phục. Những
trƣờng hợp không đƣợc điều trị, có thể dẫn tới xơ gan [77], [78], [79].
Phạm Song và Phan Trinh (1972), theo dõi 25 bệnh nhân ở thời kỳ mãn
tính của bệnh, có những nhận xét sau: 76% bệnh nhân đến điều trị là vì biến



15
Miền Bắc nƣớc ta, cá đƣợc rửa sạch đánh vẩy, lọc thịt, thịt cá đƣợc
thấm khô, thái nhỏ, rồi trộn với nƣớc chát của búp ổi. Sau đó thịt cá đƣợc trộn
thính cùng gia vị và ăn kèm cùng nhiều loại rau thơm. Loài cá thƣờng ăn gỏi
là cá mè, cá trắm, cá trôi, cá chày, cá chép... cũng chế biến tƣơng tự. Một số
nơi có bệnh lƣu hành sán lá gan nhỏ C. sinensis cao nhất: Nghĩa Hƣng (Nam
Định), Kim Sơn (Ninh Bình), Hà Bắc [21], [33].
Một số tỉnh miền Trung có phong tục ăn cá diếc sống dƣới hình thức ăn
sống cả con nhƣ Phú Yên, Quảng Nam, tập quán này đã có từ lâu đời trong
địa phƣơng. Do vậy tỷ lệ nhiễm sán lá gan nhỏ Opisthorchis viverrini cũng
khá phổ biến [12], [73], [74]. Một số trƣờng hợp trong vùng dịch tễ SLGN,
tuy không ăn gỏi cá nhƣng cũng vẫn bị nhiễm bệnh do ăn cá rán chƣa chín
(phần thịt còn sống).
Một số nơi nhủ Đắc Lắc, Kon Tum có tập quán ăn gỏi cá nhƣ miền Bắc
(thái nhỏ thịt cá), tỷ lệ nhiễm sán lá gan nhỏ ở Đắc Lắc là 74% [31].
1.6. Nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) của ngƣời dân về
bệnh sán lá gan nhỏ.
KAP (Knowledge Attitude Practice) là nghiên cứu về kiến thức, thái độ,
thực hành.
Kiến thức thƣờng bắt nguồn từ kinh nghiệm. Kiến thức có thể có đƣợc
qua những thông tin mà thầy cô, cha mẹ, bạn bè, sách vở và báo chí cung cấp.
Kiến thức thƣờng đƣợc kiểm tra lại xem có đúng hay không.
Thái độ phản ánh những gì mà một ngƣời thích hoặc không thích. Thái
độ bắt nguồn từ kinh nghiệm của bản thân hoặc của những ngƣời gần gũi
khiến ngƣời ta thích thú với điều này hoặc cảnh giác với điều kia.
Thực hành đúng hoặc không đúng. Trong nghiên cứu KAP cần tìm hiểu
những thực hành nào có lợi cho sức khỏe cần đƣợc phát huy và duy trì, những
thực hành xấu, ảnh hƣởng đến sức khỏe cần phải thay đổi.



17
Nguồn bệnh thứ hai là súc vật, chúng thải trứng sán ra môi trƣờng.
Nguồn trứng này không thể quản lý đƣợc.
1.7.2. Mầm bệnh
Cá nƣớc ngọt chứa mầm bệnh sán lá gan nhỏ là đƣờng lây truyền trực
tiếp vào ngƣời.
Ốc thích hợp chứa mầm bệnh sán lá gan nhỏ là vật chủ trung gian thứ 2
lây bệnh cho ngƣời.
1.7.3. Khối cảm thụ:
Con ngƣời là khối cảm thụ nhiễm bệnh sán lá gan nhỏ. Sự nhiễm bệnh
phụ thuộc các yếu tố nhƣ tập quán, thói quen ăn gỏi cá, nghề nghiệp, tuổi và
giới tính.
+ Tập quán ăn cá chưa nấu chín:
Ăn cá sống hoặc cá chƣa nấu chín là nguyên nhân gây nhiễm bệnh cho
ngƣời. Trong 7/10 loài cá nƣớc ngọt, tỷ lệ nhiễm ấu trùng có nơi là 90% [31].
Tại Phú Yên, tỷ lệ cá diếc nhiễm ấu trùng sán lá gan nhỏ là 10-29%. Tỷ lệ ấu
trùng còn sống trong gỏi cá là 93-95%. Vì vậy thói quen ăn gỏi cá là nguy cơ
nhiễm sán lá gan nhỏ khó tránh khỏi và là nguồn lây bệnh chủ yếu.

Hình 1.8. Cá mè trắng Hypophthalmicthys harmandi
(http://www.cdc.gov)



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status