ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm loét dạ dày hành tá tràng (DDHTT) là trạng thái bệnh lý thường
gặp trong các tổn thương của dạ dày tá tràng. Đây cũng là bệnh lý thường gặp ở
Việt Nam và trên thế giới. Tỷ lệ mắc bệnh rất cao chiếm khoảng 50% số người
có các triệu chứng đau thượng vị, đầy bụng, khó tiêu và 35% người tự nguyện
khoẻ mạnh đi soi dạ dày và được chẩn đoán viêm dạ dày mạn tính bằng mô bệnh
học [4]. Loét dạ dày hành tá tràng cũng chiếm một tỷ lệ khá cao trong cộng đồng
dân cư. Ở miền Bắc Việt Nam có khoảng 5-6% dân số có các triệu chứng của
loét dạ dày hành tá tràng. Tỷ lệ trên thế giới cũng nằm trong khoảng 5-10% dân
số mắc bệnh này [1], [10].
Viêm loét DDHTT là bệnh mạn tính, diễn biến bệnh kéo dài, hay tái phát
và thường có các biến chứng nguy hiểm như xuất huyết tiêu hoá, thủng dạ dày,
hẹp môn vị hay ung thư hoá…Viêm loét DDHTT gây ảnh hưởng không nhỏ đến
chất lượng cuộc sống và hiệu suất lao động của người bệnh.
Về cơ chế bệnh sinh của viêm loét dạ dày hành tá tràng là do sự mất cân
bằng giữa yếu tố bảo vệ niêm mạc và phá huỷ niêm mạc. Các chất nhầy do các
tế bào biểu mô niêm mạc dạ dày chế tiết đóng vai trò là yếu tố bảo vệ dạ dày,
còn yếu tố bảo vệ niêm mạc tá tràng là chất tiết của tuyến Brunner chỉ có ở tá
tràng. Yếu tố phá huỷ niêm mạc chung của cả dạ dày và tá tràng là dịch vị do
các tuyến có ở vùng đáy vị dạ dày chế tiết [4], [10].
Loét dạ dày chủ yếu là suy giảm các yếu tố bảo vệ, trong khi loét hành tá
tràng là do tăng yếu tố phá huỷ niêm mạc [4]. Tuy nhiên nguyên nhân nào dẫn
đến sự mất cân bằng giữa hai yếu tố trên vẫn còn tranh cãi và có khá nhiều giả
thuyết được đưa ra như giả thuyết về vai trò của thần kinh, vai trò thể dịch; đặc
biệt thời gian gần đây Helicobacter Pylori được xem là nguyên nhân chủ yếu
trong bệnh sinh của loét DDHTT [6], [17], [20].
Có khá nhiều phương pháp chẩn đoán viêm loét DDHTT, tuy nhiên nội
soi dạ dày bằng máy nội soi ống mềm là phương pháp được áp dụng khá rộng
1
1.1.1. Cấu trúc và chức năng của dạ dày [5]
Dạ dày thuộc ống tiêu hoá chính thức vừa có tác dụng chứa đựng nhào
trộn thức ăn vừa có chức năng tiêu hoá một phần thức ăn. Dạ dày là đoạn phình
to của ống tiêu hoá, nối thực quản với ruột, được chia làm 3 vùng dựa vào sự
xuất hiện các loại tuyến khác nhau trong tầng niêm mạc:
- Vùng tâm vị: là một vùng hẹp chung quanh tâm vị, trong vùng này có
những tuyến tâm vị.
- Vùng thân hay vùng đáy vị: chứa những tuyến đáy vị
- Vùng môn vị: chứa những tuyến môn vị.
Khi dạ dày căng, mặt niêm mạc nhẵn; khi rỗng có những nếp gấp dọc
xuất phát từ vùng tâm vị và tập trung về vùng môn vị.
Thực
quản
Phình vị
Nếp
gấp
NM
Tâm
vị
Thâ
n vị
Môn
vị
Tá
tràng
Hang vị
khả năng tiết ra chất nhầy, tạo thành
một lớp chất nhầy nằm trên mặt
biểu mô, có tác dụng bảo vệ biểu
5
mô chống tác động của axit HCl
thường xuyên có trong dịch dạ dày.
Chất nhầy do các tế bào biểu mô
Hình 1.2. Cấu tạo vi thể niêm mạc dạ
dày vùng đáy vị.
chế tiết đóng vai trò là yếu tố bảo vệ
niêm mạc. Nhân tế bào thường nằm
ở cực đáy. Trong bào tương của tế
1. Biểu mô lợp; 2. Lớp đệm; 3. Tuyến đáy vị; 4.
Phễu dạ dày; 5. Cơ niêm.
bào, phía gần nhân có những hạt sinh nhầy, những hạt này sẽ được tống ra khỏi
tế bào qua màng tế bào ở cực ngọn. Chất nhầy của tế bào biểu mô lợp niêm mạc
dạ dày phản ứng dương tính với P.A.S và âm tính với muci-carmin .
Những tế bào biểu mô lợp niêm mạc liên tục bị bong vào trong khoang dạ
dày và được thay thế bởi những tế bào mới được sinh từ cổ các tuyến.
4
Là lớp mô liên kết trong có chứa một số lượng lớn tuyến. Các tuyến trong
huỷ niêm mạc dạ dày.
44
44
44
- Tuyến đáy vị: Là những
tuyến nằm ở vùng thân và đáy dạ
9
dày. Những tuyến này là tuyến quan
trọng nhất trong việc chế tiết ra dịch
Hình 1.3. Tuyến đáy vị
vị. Tuyến đáy vị thuộc loại tuyến ống
1. Phễu dạ dày; 2. Eo tuyến; 3. Cổ tuyến; 4. Đáy
tuyến; 5. Biểu mô phủ niêm mạc; 6. Tế bào tiết
nhầy cổ tuyến; 7. Tế bào viền; 8. Tế bào nội tiết;
9. Tế bào chính.
thẳng chia nhánh. Mỗi tuyến chia làm
ba đoạn: đoạn ở trên cao nhất là eo, ở
đây có hai loại tế bào lợp thành tuyến: tế bào nhầy và tế bào viền. Đoạn ở giữa
là cổ tuyến, ở đây có tế bào nhầy, tế bào viền. Đoạn dưới cùng là đáy tuyến có tế
bào chính, tế bào ưa bạc (Hình 1.3). Như vậy, thành của tuyến đáy được lợp bởi
Chất tiết của tuyến Brunner đóng vai trò là yếu tố bảo vệ niêm mạc tá
tràng [5].
1.2 . Cơ chế bệnh sinh của loét dạ dày tá tràng
Cơ chế bệnh sinh của loét dạ dày hành tá tràng đã được hiểu rõ: đó là do
sự mất cân bằng giữa yếu tố bảo vệ niêm mạc và yếu tố phá huỷ niêm mạc dạ
dày tá tràng. Ở dạ dày chất nhầy do các tế bào biểu mô niêm mạc đóng vai trò là
yếu bảo vệ, còn ở tá tràng chất tiết do tuyến Brunner phân bố ở tầng niêm mạc
và tầng dưới niêm mạc của tá tràng là yếu tố bảo vệ niêm mạc tá tràng. Yếu tố
6
chung phá huỷ cả niêm mạc dạ dày và niêm mạc tá tràng là dịch vị; sản phẩm
của các tuyến nằm ở vùng đáy vị của dạ dày. Trong đó pepsin và acid HCl có
trong dịch vị là hai nhân tố chính cho quá trình hình thành loét dạ dày tá tràng,
đặc biệt quan trọng của acid đã được xác định trong hội chứng Zollinger- Ellion
với nhiều ổ loét ở dạ dày và tá tràng do chế tiết quá nhiều gastrin và sản xuất
quá nhiều HCL. Ở một số bệnh nhân loét dạ dày tá tràng có sự giải phóng
gastrin quá nhanh, niêm mạc bị tác động bởi một lượng acid nhiều quá mức sẽ bị
tổn thương hoại tử long và dẫn tới loét.
Nguyên nhân nào dẫn đến sự mất cân bằng giữa yếu tố bảo vệ niêm mạc
và phá huỷ niêm mạc dạ dày hành tá tràng vẫn còn khá nhiều giả thuyết được
đưa ra. Giả thuyết về yếu tố thần kinh, yếu tố thể dịch và đặc biệt là nguyên
nhân do vi khuẩn…
Giả thuyết về thần kinh, người ta cho rằng dây thần kinh số X chi phối
cho hoạt động của dạ dày có vai trò quan trọng trong việc điều khiển hoạt động
chế tiết của các tuyến nằm trong tầng niêm mạc của dạ dày. Vì vậy phẫu thuật
cắt dây X chọn lọc đã có một thời kỳ được sử dụng khá rộng rãi.
Về thể dịch, Các tuyến vùng môn vị của dạ dày ngoài các tế bào tiết nhầy
còn có tế bào ưa bạc. Tế bào ưa bạc của tuyến môn vị chế tiết gastrin; hormon
này có tác dụng điều hoà chế tiết của tuyến đáy vị. Vì vậy dư thừa dịch vị liên
Về yếu tố tinh thần như tình trạng căng thẳng kéo dài, những chấn thương
tâm lý sẽ gây co mạch và tăng tiết acid làm cho niêm mạc bị tổn thương dẫn tới
loét. Vết loét lại kích thích vỏ não và vỏ não lại kích thích dạ dày theo cơ chế
phản hồi.
Người ta nhận thấy rằng người bệnh loét dạ dày tá tràng có tiền sử gia
đình chiếm 60% ở những người liên quan ruột thịt.
Việc ăn uống các chất kích thích như rượu, thức ăn quá nóng hoặc quá
lạnh, thức ăn không đủ chất dinh dưỡng và vitamin hoặc ăn no không được nghỉ
ngơi đều có thể gây tác động không tốt tới niêm mạc dạ dày, từ đó góp phần vào
quá trình sinh bệnh.
Các thuốc uống như aspirin, kháng viêm không steroid, các thuốc này ức
chế tổng hợp prostaglandin (có vai trò phục hồi tế bào và sản sinh chất nhầy) do
đó làm giảm sức chống đỡ của niêm mạc dạ dày tá tràng. Uống corticoid liều
cao và dùng nhiều lần có liên quan trong việc thúc đẩy loét phát triển.
8
Hút thuốc lá làm hạn chế quá trình liền sẹo và làm thuận lợi cho bệnh tái
phát, có thể do nó làm cản trở quá trình tổng hợp prostaglandin.
1.3. Hình thái học của viêm niêm mạc dạ dày hành tá tràng
Phần lớn các trường hợp viêm dạ dày hành tá tràng thường chuyển sang
giai đoạn mạn tính,
1.3.1. Tổn thương nội soi (đại thể)
- Phù nề.
- Xung huyết.
- Xuất tiết.
- Trợt phẳng.
- Trợt nổi.
- Quá sản.
- Teo.
Tuyến:
+ Niêm mạc thân vị: các tuyến thân vị số lượng tế bào thành và tế bào
chính giảm và được thay thế bằng những tế bào kém biệt hoá, tế bào vuông, tế
bào thấp dẹt.
+ Niêm mạc hang vị: số lượng và thể tích tuyến giảm, tế bào tuyến được
thay thế bằng những tế bào kém biệt hoá, hoặc dị sản ruột. Dị sản ruột vùng
hang vị hay gặp hơn dị sản ruột vùng thân vị.
- Lớp đệm: lớp đệm tăng thể tích do sự xâm nhập các thành phần tế bào,
trong đó chủ yếu là lympho, tương bào, sợi liên kết và tế bào sợi.
Sự có mặt hay không có mặt của bạch cầu đa nhân sẽ cho phép đánh giá
tình trạng của viêm dạ dày mạn. Ở thể viêm hoạt động số lượng bạch cầu đa
nhân tăng. Ở giai đoạn cuối của viêm teo, số lượng bạch cầu đa nhân giảm và có
biểu hiện xơ hoá nhẹ.
- Dị sản ruột: Đây là sự biến đổi tế bào của niêm mạc dạ dày sang trạng thái
biểu mô ruột với sự xuất hiện tế bào hình đài tiết nhầy và tế bào hấp thu, có xu
hướng hình thành nhung mao và mâm khía ở phía ngọn tế bào. Có 2 loại dị sản
ruột chính: dị sản ruột non và dị sản ruột già.
10
- Loạn sản: là những thay đổi thứ phát của niêm mạc dạ dày do những thay
đổi về cấu trúc mô và tế bào ở các mức độ khác nhau.
+ Những bất thường của tế bào: nhân TB không đều nhau về kích thước,
hình dạng, tăng nhiễm sắc, tăng tỷ lệ nhân và bào tương.
+ Những bất thường của sự biệt hoá: giảm tiết nhầy một phần hay hoàn
toàn và tăng số lượng tế bào kém biệt hoá.
+ Những rối loạn về cấu trúc: các khe và tuyến ít nhiều bị biến dạng, bờ
không đều với những nụ lồi vào lòng tuyến.
1.3.3.2. Phân loại mô bệnh học
loại tế bào viêm không đặc hiệu với các bạch cầu đa nhân chiếm ưu thế.
+ Lớp mô hạt:
Được hình thành với những tế bào xơ non, sợi tạo keo, nhiều huyết quản
tân tạo và xâm nhiễm các tế bào viêm, trong đó chủ yếu là bạch cầu đơn nhân.
+ Lớp xơ hoá:
Mô hạt còn lại trên một sẹo xơ chắc hơn hoặc có chứa hạt tạo keo. Đặc
điểm của seo xơ là có hình quạt rộng và có thể phát triển tới sát thanh mạc. Các
mạch máu thành bị dày lên rõ rệt với sự xâm nhiễm viêm bao quanh và đôi khi
bị huyết khối. Các bó thần kinh phì đại. Cả hai thay đổi này có lẽ là thứ phát.
Bờ ổ loét và vùng kế cận của loét dạ dày tá tràng hầu hết có viêm niêm
mạc mạn tính.
+ Biểu mô phủ và khe ở vùng bờ loét và vùng lân cận có tổn thương
thoái hóa và tái tạo mạn tính. Tế bào thóai hóa trở nên dẹt thấp, giảm chế tiết, tế
bào tái tạo kiềm tính hơn. Sự tái tạo biểu mô có thể dẫn tới dị sản ruột, loạn sản
và phát triển thành ung thư. Các tuyến có thể bị teo, số lượng và thể tích đều
giảm. Tế bào viêm mạn tính xâm nhập khắp nơi ở khoảng kẽ. Ở thể hoạt động
có bạch cầu đa nhân và hầu hết thấy có vi khuẩn H. Pylori.
Sau khi loét đã lành, viêm vẫn tồn tại và việc không xẩy ra loét tái phát có
liên quan tới sự cải thiện của viêm dạ dày. Đặc điểm này giúp phân biệt giữa
loét dạ dày tá tràng với viêm trợt cấp tính hoặc loét do stress, vì cả hai trường
hợp sau không thấy viêm niêm mạc vùng kế cận .
+ Cơ niêm tăng sinh và khuyếch tán. Nói chung cơ niêm thường dầy
lên ở vùng gần bờ ổ loét thường tách ra thành những dải phát triển khuếch tán
12
vào mô liên kết ở niêm mạc hoặc hạ niêm mạc , nhưng có khi sợi cơ teo đét hoặc
biến hẳn và được thay thế bằng tổ chức xơ tân tạo.
+ Hạ niêm mạc xơ hoá. Các sợi tạo keo tăng sinh cùng với tế bào lẫn
vùng ranh giới giữa niêm mạc thân vị và hang vị, ở thành trước, thành sau hoặc
dọc bờ cong lớn ít gặp hơn.
- Số lượng:
Thông thường đa số bệnh nhân chỉ có một ổ loét đơn độc, rất hiếm khi có
hai ba ổ hoặc hơn. Nhưng có tới 10-20% số bệnh nhân loét dạ dày đồng thời với
loét tá tràng.
- Kích thước:
Những tổn thương nhỏ < 0.3cm hầu hết là các trợt nông, các tổn thương
>0.6cm thì hầu như chắc chắn là loét. Khoảng 50% các ổ loét dạ dày tá tràng có
đường kính < 2cm và 75% là < 3cm, nhưng cũng có khoảng 10% các ổ loét lành
tính lớn > 4cm. Tuy nhiên, có những loét ung thư có thể < 4cm đường kính, cho
nên về mặt kích thước khó phân biệt được giữa một ổ loét lành tính với một ổ
loét ác tính.
- Hình thái:
Ổ loét dạ dày tá tràng có hình tròn, bầu dục, bờ gọn, niêm mạc rìa ổ loét
có thể nhô về phía lòng ổ loét, đặc biệt là ở mép trên của chu vi ổ loét. Những
loét mới, niêm mạc vùng rìa thường bằng với niêm mạc xung quanh không có
riềm rõ. Bờ loét thoai thoải tạo cho ổ loét có hình nón hay hình lòng chảo, nắn
còn mềm mại do tổ chức xơ chưa phát triển. Niêm mạc vùng quanh ổ loét
thường hơi nề, xung huyết do viêm, chưa xuất hiện những nếp gấp qui tụ hướng
về phía ổ loét. Với những loét cũ tiến triển nhiều năm, niêm mạc rìa có thể gồ
cao một chút. Còn những loét có bờ gồ cao rõ thì ít khi là lành tính đó là đặc
trưng của các tổn thương ác tính. Bờ loét cũ thường thẳng đứng tạo cho ổ loét có
hình chiếc cốc, nắn chắc do tổ chức đã phát triển. Niêm mạc vùng xung quanh ổ
loét có ít biến đổi, thường có phù nề và xung huyết. Các nếp nhăn của niêm mạc
nhận biết rõ, nhưng có xu hướng qui tụ về phía ổ loét.
Những ổ loét cũ tiến triển nhiều năm với những giai đoạn hoại tử và xơ
hóa kế tiếp sẽ dấn đến loét trai. Miệng loét nhẵn hoặc méo mó không đều, nhiều
góc cạnh nhăn nhúm. Niêm mạc rìa loét có thể gồ cao và bị co kéo theo hướng
14
15
hàng tháng ổ loét mới được hàn gắn thậm chí liền sẹo với việc có hoặc không
được điều trị. Tuy nhiên xu hướng chung là các ổ loét vẫn còn tiến triển. Do vậy
một " bệnh nhân đã một lần bị loét dạ dày tá tràng thì luôn luôn là bệnh nhân
loét dạ dày tá tràng". Vì vậy rất khó xác định chính xác số liệu về tỷ lệ bệnh
đang hoạt động. Dựa vào những nghiên cứu giải phẫu bệnh ( khám nghiệm tử
vong) và những khảo sát về quần thể, số liệu ước đoán với một tỷ lệ 6 - 14% đối
với nam và 2- 6 % đối với nữ bị bệnh này. Tỷ lệ nam trên nữ đối với loét hành tá
tràng khoảng 3/1 và với loét dạ dày là khoảng 1,5- 2/1.
Những nghiên cứu hàng chục năm qua cho thấy không rõ vì sao có sự
giảm đáng kể về tỷ lệ loét tá tràng, song tỷ lệ loét dạ dày ít thay đổi. Ảnh hưởng
về mặt di truyền dường như ít hoặc không có vai trò trong loét dạ dày tá tràng.
Về chủng tộc cũng không có sự khác nhau đáng kể. Những điểm khác nhau về
mặt dịch tễ học giữa loét dạ dày và loét tá tràng gây lên sự hoài nghi rằng loét dạ
dày và loét tá tràng là những bệnh khác nhau. Tuy nhiên do việc thiếu hiểu biết
về bệnh sinh của bệnh loét dạ dày tá tràng đã hạn chế những cố gắng phân biệt
cặn kẽ giữa loét dạ dày và loét tá tràng.
1.5. Liên hệ lâm sàng [9]
1.5.1. Triệu chứng
Hầu hết các loét dạ dày tá tràng gây cắn rứt vùng thượng vị, nóng rát hoặc
đau. Đau có xu hướng vào ban đêm. Kinh điển thì đau thường giảm nhờ các chất
kiềm hoặc thức ăn. Đôi khi với những loét sâu, đau thường xuyên ra sau lưng,
lan lên trên bên trái hoặc lan lên ngực. Buồn nôn, nôn và sút cân là những biểu
hiện phụ thêm.
1.5.2. Chẩn đoán
Có nhiều phương pháp để chẩn đoán loét dạ dày tá tràng và việc phát hiện
sớm ung thư dạ dày là vô cùng quan trọng.
- Phương pháp nội soi: ngày nay nhờ sự ra đời và cải tiến không ngừng
tổn thương của dạ dày tá tràng có thể quan sát thấy các vết cản quang được tạo
nên do baryte chui vào vùng mặt tổn thương của dạ dày tá tràng trên các phim
chụp niêm mạc hay chụp đối quang kép. Tuy nhiên chụp dạ dày tá tràng khi cho
17
bệnh nhân uống baryte có thể bỏ sót khi các tổn thương thể hiện trên phim chụp
không điển hình.
Nội soi dạ dày bằng ống mềm là kỹ thuật được sử dụng khá rộng rãi. Kỹ
thuật này cho kết quả nhanh chóng và hiệu quả cao do tổn thương được quan sát
trực tiếp qua màn hình. Qua ống nội soi người ta có thể sinh thiết các tổn thương
nghi ngờ ác tính hoặc cũng có thể tiến hành sinh thiết chẩn đoán mô bệnh hoặc
một cách rộng rãi nhằm sàng lọc, chẩn đoán sớm các trường hợp ung thư giai
đoạn đầu. Vì thế có thể giảm chi phí điều trị và kéo dài cuộc sống cho người
bệnh. Tuy nhiên nội soi dạ dày bằng ống mềm cũng mang đến cảm giác khó
chịu và sợ hãi nhất định cho bệnh nhân [3], [7], [8], [19].
1.7. Những nghiên cứu về viêm loét dạ dày hành tá tràng
Có rất nhiều đề tài nghiên cứu về loét dạ dày hành tá tràng được tiến hành
trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Đặc biệt là nghiên cứu về ý nghĩa cũng như
vai trò của Helicobacter pylori trong quá trình bệnh lý dạ dày.
Các nghiên cứu chỉ ra rằng: tỷ lệ mắc bệnh trên thế giới chiếm khoảng 5%10% dân số. Ở Việt Nam tỷ lệ bệnh nhân mắc chứng bệnh loét dạ dày tá tràng
cũng nằm trong tỷ lệ chung của thế giới (5%-6%) [26], [27], [28].
Tỷ lệ nhiễm Helicobacter pylori tăng dần theo tuổi bệnh nhân và đạt
khoảng 50% ở những người trên 50 tuổi. Ở trẻ em viêm loét dạ dày tá tràng
nhiễm H.pylori cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể [11], [17], [30].
Điều tra hiện tượng nhiễm trùng H. pylori ở 336 trẻ em với các triệu
chứng tiêu hoá được nội soi dạ dày, Cục y tế , Trung tâm ung thư đại học
Howad, Hoa kỳ nhận thấy: Tỷ lệ nhiễm H. pylori là 44,9% (169/376) ở trẻ em
với các triệu chứng trên đường tiêu hóa. Không có khác biệt thống kê tỷ lệ
0,9827, p
Uống rượu
-
Thức mang tính kích thích
-
Sử dụng thuốc chống viêm corticoid và không phải corticoid
-
Tình trạng căng thẳng
-
Nuốt phải dị vật
-
Bị nhiễm khuẩn như nhiễm vi khuẩn H. pylor
S.M. Cazacu [54] cũng thấy sự có mặt của Ig kháng lại H. pylori có liên
quan đến VLDD-TT. Ngoài ra tác giả còn thấy có nhiều yếu tố liên quan đến
bệnh VLDD-TT trong nghiên cứu của mình. Các yếu tố đó là:
- Tuổi cao
- Sống ở nông thôn
- Thói quen hút thuốc lá
- Uống rượu
Các tác giả cũng đưa ra khuyến cáo để giảm tỷ lệ mắc VLDD-TT, nên từ
bỏ lối sống lạm dụng nhiều bia/rượu, hút thuốc, chế độ ăn kích thích, uống nhiều
trà/cà phê. Nên giảm cân, ăn thức ăn tươi, nhiều xơ, vitamin. Tăng cường truyền
thông giáo dục sức khoẻ để cộng đồng hiểu biết về bệnh VLDD-TT và tự họ
phòng bệnh tật cho mình.
22
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Là tất cả các bệnh nhân đến khám tiêu hóa và được nội soi dạ dày tại
Phòng khám nội khoa của Bệnh viện đa khoa Quốc tế Hải Phòng.
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Hải Phòng.
2.1.3. Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 4 đến tháng 11 năm 2013.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả .
2.2.1 Cỡ mẫu nghiên cứu
Chúng tôi áp dụng công thức tính cỡ mẫu:
n z12 /2 x
Trong đó:
px 1 p
hoặc các nếp niêm mạc phù nề trên có trợt (viêm dạ dày trợt nổi).
- Dạ dày có những đốm xuất huyết hoặc các đám bầm tím do chảy máu
trong niêm mạc, hoặc có thể chảy máu vào lòng dạ dày (viêm dạ dày xuất
huyết).
- Các nếp niêm mạc dạ dày mỏng khi không bơm hơi căng và nhìn thấy các
mạch máu. Có thể nhìn thấy hình ảnh dị sản ruột biểu hiện dưới dạng các mảng
trắng (viêm dạ dày teo).
- Niêm mạc dạ dày mất tính chất nhẵn bóng, nếp niêm mạc nổi to, không
xẹp khi bơm căng hơi, trên có các đốm giả mạc bám (viên dạ dày tăng sản).
- Niêm mạc dạ dày phù nề xung huyết, các nếp niêm mạc phù nề, có dịch
mật trong dạ dày (viêm trào ngược).
Nếu bệnh nhân có lâm sàng và tiêu chuẩn nội soi được coi là ca bệnh,
bệnh nhân không có tiêu chuẩn nội soi và các bệnh nhân khám nội khác được
coi là nhóm chứng.
24
2.2.2.2. Bệnh án nghiên cứu (chuẩn đoán, điều trị) và phiếu điều tra (bảng
hỏi) người bệnh
2.3. Nội dung nghiên cứu
Theo mục tiêu:
2.3.1. Đặc điểm dịch tễ
- Tuổi
- Giới
- Nghề nghiệp
- Địa dư.
- Thời gian mắc bệnh.
2.3.2. Một số yếu tố liên quan
- Tuổi cao