Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến bệnh tăng huyết áp trong độ tuổi từ 15 59 tại huyện tứ kỳ hải dương năm 2013 - Pdf 34

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Tăng huyết áp (THA) là một trong những bệnh lý tim mạch phổ biến
mãn tính, tăng dần và

nguy hiểm gây ra khoảng 4,5 % gánh nặng bệnh tật

toàn cầu, bệnh thường gặp ở các nước phát triển, cũng như các nước đang
phát triển [1], [2]. Tỷ lệ tăng huyết áp trên thế giới năm 2000 là 26,4% (1 tỷ
người mắc) sẽ tăng lên 29,2% vào năm 2025 (1,5 tỷ người bị bệnh). Qua các
cuộc điều tra dịch tễ học THA tại các tỉnh cũng như khu vực ở Việt Nam cho
thấy tỷ lệ mắc bệnh xu hướng tăng lên, tỷ lệ THA trên cộng đồng người Kinh
năm 1992 là 11,7% và trên cộng đồng miền Bắc Việt Nam năm 2002 là
16,3%, ở Thành phố Hà Nội năm 2002 là 23,2% [27], [28], ở Thành phố Hồ
Chí Minh năm 2004 là 20,5%. Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ chính của
nhồi máu cơ tim, suy tim, đột quỵ, sa sút trí tuệ, các thử nghiệm lâm sàng
cũng như thực tế lâm sàng đã chứng minh việc điều trị THA làm giảm bệnh
tật và giảm nguy cơ do bệnh tim mạch rất đáng kể. Tuy nhiên dù biện pháp
điều trị hữu hiệu bằng thuốc cùng cách thức thay đổi lối sống có hiệu quả
trong THA nhẹ, tình trạng kiểm soát THA vẫn chưa đạt yêu cầu, tại Việt Nam
các nghiên cứu và thống kê y tế cho thấy gánh nặng bệnh tật (biến chứng) do
THA gây ra rất đáng lưu tâm (62% do đột quỵ và 49% đau thắt ngực do THA)
và gây ra chết đột ngột hoặc từ từ. Người ta gọi THA là kẻ giết người thầm
lặng (THA gây giảm tuổi thọ từ 10 - 20 năm), còn về mặt tài chính thì tăng
chi phí, về mặt sức khoẻ làm bệnh tăng dần, tàn tật nhiều [1], [2].
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng của bệnh tăng huyết áp các
nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp liên quan đến tuổi giới, thói quen hút
thuốc lá, uống rượu, lười vận động, béo phì và các yếu tố kinh tế xã hội, lối
sống cũng là yếu tố ảnh hưởng đến THA [13], [18].
Người mắc bệnh THA phải điều trị kiên trì, liên tục, tránh xa các yếu tố

máu từ thất trái vào hệ động mạch, đồng thời cũng do ảnh hưởng của lực cản
thành động mạch. Kết quả làm cho máu được lưu thông đến các tế bào để
cung cấp ôxy và các chất dinh dưỡng cho nhu cầu cơ thể. HA mà người ta
thường gọi là áp lực máu trong động mạch thường được đo ở động mạch cánh
tay [1], [9],[18].
Khi tim co bóp tống máu, áp lực động mạch tăng lên đạt mức cao nhất
gọi là HA tâm thu (HATT). Khi tim nghỉ, áp lực đó xuống đến mức thấp nhất
gọi là HA tâm trương (HA TTr) [22], [35], [59].
1.1.2. Khái niệm về tăng huyết áp
Cho đến nay, Tổ chức Y tế thế giới và Hội Tăng huyết áp quốc tế (World
Health Organization - WHO và International Society of Hypertension - ISH)
đã thống nhất gọi là THA khi HATT  140 mmHg và/hoặc HATTr  90
mmHg. Con số này có được là do dựa trên những nghiên cứu lớn về dịch tễ
học cho thấy có sự gia tăng đặc biệt nguy cơ tai biến mạch não (TBMN) ở
người lớn khi HA  140/90 mmHg. Tỷ lệ TBMN ở người có số HA < 140/90
mmHg giảm rõ rệt [58].
THA là khi trị số HA đo được ở trên mức bình thường, THA có thể là
tăng cả tâm thu và tâm trương hoặc chỉ tăng 1 trong 2 dạng đó [13], [26].
1.1.3. Chẩn đoán tăng huyết áp
Chẩn đoán tăng huyết áp: dựa vào chỉ số huyết áp đo được sau khi đo
huyết áp đúng quy trình [10],[4],[35].


4
- Người bệnh nghỉ ngơi trong phòng yên tĩnh ít nhất 5 - 10 phút trước khi
đo huyết áp.
- Không dùng chất kích thích (cà phê, hút thuốc, rượu bia) trước đo 2 giờ.
- Tư thế đo chuẩn: Người được đo huyết áp ngồi ghế tựa, cánh tay duỗi
thẳng trên bàn, nếp khửyu ngang mức với tim. Ngoài ra có thể đo ở các tư thế
nằm, đứng. Đối với người cao tuổi hoặc có bệnh đái tháo đường nên đo thêm


tâm thu

tâm trương

1. Cán bộ y tế đo theo đúng quy  140 mmHg
trình

Và/hoặc

90 mmHg

2. Đo bằng máy đo huyết áp tự  130 mmHg
động 24giờ

80 mmHg

 135 mmHg

85 mmHg

3. Tự đo tại nhà (đo nhiều lần)
1.1.4. Phân loại tăng huyết áp

Hiện nay Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) đã có nhiều khuyến cáo và
chỉ dẫn về việc phân loại, theo dõi và điều trị THA. Hội đồng chuyên viên của
TCYTTG năm 1978 chia THA thành các giai đoạn, căn cứ vào các mức độ
tổn thương các cơ quan đích. Năm 1993 TCYTTG chia THA thành các mức
độ nặng vừa và nhẹ. Tuy nhiên các khuyến cáo trên chưa thật hoàn chỉnh vì
không đề cập đến các yếu tố nguy cơ cũng như các chỉ dẫn điều trị THA sao


< 130

< 85

HA bình thường cao

130 - 139

85 - 89

THA độ 1

140 - 159

90 - 99

THA độ 2

160 - 179

100 - 109

THA độ 3

 180

 110

Tăng HATT đơn độc

THA giai đoạn 1

140- 159

90- 99

THA giai đoạn 2

≥ 160

≥ 100

HA bình thường

Tiền tăng huyết áp đã được JNC VII đề cập để chỉ những người có nguy
cơ cao bị THA trong tương lai.
- Theo phân loại HA mới nhất của JNC VII thì: Con số HA bình thường
trước kia là
Renin (từ thận)

Angiotensinogen I

Men converting
(từ phổi)

Ức
chế
ngược

Angiotensinogen II

Angiotensiasa
(tổ chức)

Tăng Aldosteron

AngiotensinIII
Thụ cảm thể AT 1
tiếp nhận gây co mạch

Tăng giữ nước và Na+

Tăng hoạt tính thần kinh
giao cảm gây co mạch

Tăng huyết áp hệ
thống động mạch.




10
+ THA là một bệnh mãn tính nên cần theo dõi đều, điều trị đúng và đủ
hàng ngày, điều trị lâu dài.
+ “Huyết áp mục tiêu” cần đạt là
12
+ Tối ưu hoá phác đồ điều trị THA: dựa vào các chỉ định bắt buộc hoặc
ưu tiên của từng nhóm thuốc hạ HA trong các thể bệnh cụ thể. Phối hợp nhiều
thuốc để tăng khả năng kiểm soát HA thành công, giảm tác dụng phụ và tăng
việc tuân thủ điều trị của người bệnh.
+ Điều trị các bệnh phối hợp và điều trị dự phòng ở nhóm có nguy cơ tim
mạch cao hoặc rất cao.
+ Sử dụng các thuốc hạ HA đường tĩnh mạch trong các tình huống khẩn
cấp như THA ác tính, tách thành động mạch chủ, suy thận tiến triển nhanh,
sản giật, THA có kèm nhồi máu cơ tim cấp, hoặc suy tim trái cấp.
1.1.7. Tiến triển bệnh tăng huyết áp
THA không được điều trị và kiểm soát tốt sẽ dẫn đến tổn thương nặng
các cơ quan đích và gây các biến chứng nguy hiểm như tai biến mạch máu
não, nhồi máu cơ tim, phình tách thành động mạch chủ, suy tim, suy
thận…thậm chí dẫn đến tử vong [4],[35].
1.1. 8. Các biện pháp dự phòng tăng huyết áp
Các biện pháp tích cực thay đổi lối sống là những biện pháp để phòng
ngừa THA ở người trưởng thành, phối hợp với việc giáo dục truyền thông
nâng cao nhận thức và hiểu biết về bệnh tăng huyết áp cũng như các biến
chứng của THA và các yếu tố nguy cơ tim mạch khác đó là [1],[2],[4]:
- Có chế độ ăn lành mạnh nhiều rau quả và ngũ cốc nguyên cám, hạn chế
mỡ và giảm muối trong bữa ăn.
- Duy trì cân nặng bình thường.
- Tăng cường hoạt động thể lực.
- Hạn chế rượu, không hút thuốc lá.
- Giảm các Stress.
1.2. Các yếu tố liên quan đến tăng huyết áp


13

14
động thần kinh giao cảm có thể do giảm tính nhạy cảm của các thụ thể , vì
vậy có xu hướng gây ra co mạch làm THA [65].
Hầu hết các nguy cơ tim mạch tăng nhanh theo tuổi. Tại Anh, phái nam từ
45-74 tuổi có sự gia tăng từ 3-4 lần tử vong do TBMN và bệnh mạch vành ở mỗi
nhóm cách nhau 10 tuổi. Ảnh hưởng của tuổi lên nguy cơ bệnh làm mạnh thêm
ảnh hưởng của HA và yếu tố nguy cơ khác lên sự xuất hiện bệnh [60].
Khả năng mắc bệnh tim mạch gia tăng, trước khi mãn kinh phụ nữ ít bị
mắc các bệnh tim mạch hơn đàn ông. Nhưng khi nồng độ Oestrogen bắt đầu hạ
thấp vào lúc mãn kinh thì nguy cơ mắc bệnh tim mạch ở phụ nữ tăng lên rõ rệt.
Vì thế tăng triglyceric(TG), tăng cholesterol toàn phần(CT), THA, đau thắt ngực
và nhồi máu cơ tim thường xảy ra nhiều ở phụ nữ tuổi 50 trở lên [8].
Người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên) có nguy cơ cao đối với bệnh THA, tỷ
lệ mắc, tỷ lệ biến chứng gây tử vong, tàn tật đều cao hơn những người trẻ
tuổi. Mặc dù sự tăng HATTr sẽ giảm nhẹ dần khi vượt qua 65-70 tuổi nhưng
HATT lại tiếp tục tăng theo tuổi đời, có thể gây chứng tăng HATT đơn độc.
Trước đây đã có ý kiến cho rằng HATTr là quan trọng hơn, năm 1984,
TCYTTG đã khẳng định HATT cũng là một yếu tố nguy cơ quan trọng tương
đương với HATTr vì dễ gây nên TBMMN [4], [13], [26]. THA là bệnh
thường gặp ở người cao tuổi, nhưng nếu kiểm soát tốt sẽ giảm được tỷ lệ đột
quỵ 35 - 40%, nhồi máu cơ tim 20 - 25% và suy tim trên 50%[40].
Điều tra của Viện Tim mạch 1989-1992 cho thấy tỷ lệ THA là 6% ở
lứa tuổi 16-39, tăng lên 21,5% ở tuổi 50-59, 30,6% ở tuổi 60-69 tuổi, ở lứa
tuổi 70 trở lên là 47,5%[13].
Nghiên cứu của Phạm Gia Khải và CS năm 1999 cho thấy tuổi càng
cao tỷ lệ THA càng tăng. Ở độ tuổi 16-24 tỷ lệ này là 2,78%, độ tuổi 45-54 tỷ
lệ này là 22,95%, trên 75 tuổi thì tỷ lệ này là 65,46%[27].


15

16
tim làm việc mạnh hơn và huyết áp tăng lên nhanh hơn. Trong ngày, huyết
áp giao động nhẹ và tăng cao hơn vào khoảng 9 - 12 giờ trưa và cuối buổi
chiều. Ban đêm huyết áp lại hạ thấp xuống vào khoảng 3 giờ sáng, hiện
tượng này gặp cả ở người bình thường và người THA. Ở người THA thì có
tỷ lệ huyết áp ban ngày cũng như huyết áp ban đêm hoặc đảo ngược ban
đêm cao hơn ban ngày [13], [23].
Huyết áp tăng giảm theo thời tiết: Khi thời tiết thay đổi huyết áp cũng
dao động theo. Khi trời lạnh các mạch máu ngoại vi co lại để làm giảm sự thải
nhiệt, giữ nhiệt cho cơ thể, huyết áp tăng lên, ngược lại khi trời nắng nóng,
mạch máu ngoại vi dãn ra nhằm tăng sự thải nhiệt, để điều hoà nhiệt độ cho
cơ thể thì huyết áp lại hạ xuống [13], [35].
Huyết áp thay đổi tuỳ theo sự hoạt động của cơ thể, cả lao động trí óc
lẫn lao động chân tay. Khi cơ thể tăng cường vận động, nhu cầu oxy và chất
dinh dưỡng đảm bảo cho hoạt động đó tăng lên, yêu cầu tim phải làm việc
nhiều bằng cách tăng tần số và cường độ co bóp. Do đó, khi hoạt động nhiều
huyết áp tăng lên. Khi nghỉ ngơi, huyết áp trở lại bình thường. Khi lao động
trí óc căng thẳng kéo dài liên tục, huyết áp có thể tăng cao [13], [18], [35].
Huyết áp thay đổi theo tuổi; tuổi càng cao, hệ thống động mạch thường
bị xơ cứng nhiều, sự co dãn đàn hồi của thành động mạch kém đi, lòng động
mạch cũng bị hẹp hơn vì vậy dễ bị THA nhiều hơn [13], [35].
Huyết áp có thể bị ảnh hưởng bởi thuốc, một số thuốc không kể các loại
chuyên điều trị bệnh tăng giảm huyết áp, cũng có thể làm tăng, giảm huyết áp
như cam thảo, thuốc tránh thai, corticoids,... .
Huyết áp thay đổi do trạng thái tâm lý, các trạng thái tâm lý như lo âu,
bồn chồn, xúc động, thần kinh căng thẳng,... đều ảnh hưởng đến huyết áp.


17
Huyết áp thay đổi theo tư thế, chuyển từ tư thế nằm sang tư thế

vong liên quan đến tim mạch có tới 35-40% liên quan chặt chẽ với thừa ăn
[56]. Béo phì là một bệnh lý độc lập đồng thời là một trong những yếu tố
nguy cơ chính của các bệnh mạn tính không lây như bệnh mạch vành, bệnh
đái tháo đường týp II, bệnh THA,... [29].
Theo Doãn Thị Tường Vi, Nguyễn Thị Lâm và Từ Ngữ thì tỷ lệ đối
tượng có chỉ số khối BMI  23 cao nhất là khu vực thành phố và đồng bằng
tương ứng là 29,8% và 19,1%, trung du và miền núi chiếm tỷ lệ thấp hơn
15,7% và 14,0% [58].
Theo TCYTTG năm 1999, người thừa cân có tỷ lệ bệnh tật cao hơn ở
người bình thường, đặc biệt là các bệnh rối loạn lipid máu (tăng CT máu,
giảm HDL, tăng LDL), THA, bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim,..., giảm cân
khoảng 5 kg giúp giảm được huyết áp phần lớn bệnh nhân THA có thể trọng
quá cân 10% và cũng có ích cho yếu tố nguy cơ đi kèm như đái tháo đường,
tăng lipid máu,... [10], [60].
Theo TCYTTG năm 2003, các yếu tố đã được khẳng định dẫn tới tăng
nguy cơ bệnh mạch vành tim, đột quỵ và đái tháo đường là: THA, CT tăng
cao (do chế độ ăn), và sử dụng thuốc lá [62].
Chỉ số khối BMI tăng đi kèm bệnh mạch vành tăng. So sánh với phái
nam gầy, nếu đàn ông có BMI 25-29 kg/m2 có nguy cơ tim mạch tăng 70%,
nhưng nếu BMI 29-33 kg/m2 thì nguy cơ này tăng gấp 3 lần [60].
Theo Bùi Minh Đức và Phan Thị Kim, trong nhóm những người THA có
60% có trọng lượng cơ thể thừa cân trên 20%, mà thừa cân lại do ăn uống
không hợp lý. Béo phì liên quan đến THA, có thể còn do tăng lưu lượng máu,
tăng các bệnh về tim và có thể dẫn đến tăng hoạt động của hệ thống thần kinh
giao cảm và sức đề kháng của insuline [16].


19
Theo nghiên cứu của Bùi Thanh Nghị và Phạm Thị Hồng Vân năm
2003 thì nhóm béo phì có tỷ lệ THA cao gấp 4 lần so với nhóm không béo

Mac- Mahon, thì 60% người THA ở châu Âu là có tăng cân quá mức đến
trên 20%, ở Úc nam giới độ tuổi từ 25-44 thì có 2/3 trường hợp THA là có
béo phì [10], [73].
Nghiên cứu của Trần Đình Toán và CS năm 1997 so sánh tình trạng dinh
dưỡng giữa người THA nông thôn và người THA là cán bộ viên chức cho
thấy các chỉ tiêu về cân nặng, BMI, VB, VM, tỷ số VB/VM của người THA
đều cao hơn người bình thường và có ý nghĩa thống kê [52].
Ở cả nam và nữ béo phì thường là dự báo trước các bệnh về tim mạch,
không phụ thuộc vào chỉ số khối BMI, mà chỉ số WHR thường là chỉ tiêu có ý
nghĩa gây bệnh tim mạch so với chỉ số khối BMI [16].
1.2.4. Thói quen về ăn uống
- Muối và thói quen ăn mặn
Một số nghiên cứu quan sát cho thấy ở các quần thể lớn, có thói quen ăn mặn
thì tỷ lệ người bị THA cao hơn hẳn so với các quần thể có thói quen ăn nhạt hơn.
Natri trong chế độ ăn có thể tạo ra từ hai nguồn chính: Phần cho thêm vào thức ăn
(phần này phụ thuộc từng người) và nguồn có sẵn trong thực phẩm (trong quá
trình chế biến hay có tự nhiên trong thực phẩm)[38].
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Lâm cho thấy số người có thói
quen ăn mặn gặp ở nhóm người THA nhiều hơn so với nhóm người có
HA bình thường [37].
Công trình nghiên cứu của Phạm Gia Khải và CS năm 1999 cho thấy ăn
mặn có liên quan chặt chẽ với THA ở cả nam và nữ độ tuổi từ 24- 44 [27].
Theo kết quả nghiên cứu của Phan Thị Kim và CS năm 1988 cho thấy
giảm muối ăn từ 4-6 gam/ngày thì sau 1 tháng HATTr giảm trung bình 20
mmHg và HATT giảm trung bình 30 mmHg ở người mắc bệnh THA. Kết


21
quả nghiên cứu còn cho thấy vùng nào có lượng muối ăn vào cao thì tỷ lệ
THA cao và đưa ra khuyến nghị cần giảm bớt lượng nước mắm, muối khi nấu

mạch não giảm 24,6% [18] .
- Chất béo động vật
Cholesterol là một chất sinh học có nhiều chức phận quan trọng, một
phần được tổng hợp trong cơ thể, một phần do thức ăn cung cấp. Lượng
cholesterol trong khẩu phần có ảnh hưởng đến CT trong huyết thanh, do
cholesterol trong chế độ ăn góp phần tạo nên nguy cơ bệnh mạch vành. Người
ta nhận thấy các acid béo no làm tăng các lipoprotein có tỷ trọng thấp (LDLC), vận chuyển các cholesterol từ máu đến các tổ chức và có thể tích luỹ ở
thành động mạch, ngược lại các acid béo chưa no làm tăng các lipoprotein có
tỷ trọng cao (HDL-C), vận chuyển cholesterol từ các mô đến tế bào gan để
thoái hoá [26], [8], [9].
Do đó một chế độ ăn giảm chất béo động vật (thịt mỡ, mỡ), thay thế
bằng dầu thực vật, bớt ăn thịt, tăng ăn cá là có lợi cho người có rối loạn
chuyển hoá cholesterol. Trong các khuyến cáo về ăn uống người ta
khuyên năng lượng do chất béo cung cấp không được vượt quá 30% tổng
số năng lượng, tăng sử dụng dầu thực vật , tăng sử dụng khoai, rau và
trái cây. Các loại đường ngọt không cung cấp quá 10% tổng số năng
lượng, còn năng lượng do protein nên đạt từ 10-15%[10].
Theo Hoàng Thị Bích Ngọc các thông số của người khoẻ mạnh bình thường
thì nồng độ TG, CT, LDL- C, HDL- C khác nhau theo giới và tuổi [45].
Rối loạn lipid máu khi có biểu hiện rối loạn một hoặc nhiều thành phần
như tăng CT, tăng TG, tăng LDL- C, giảm HDL- C [2], cụ thể:
CT
TG

> 5,2 mmol/l
> 2,3 mmol/l

LDL- C

> 3,12 mmol/l

mỗi ngày chỉ nên uống không quá 1 ounce (tương đương 29,6 ml) ethanol
đối với nam và 1/2 ounce đối với nữ và người nhẹ cân. Uống thường xuyên
một lượng rượu nhỏ cũng có tác dụng phòng các nguyên nhân gây tử vong


24
nói chung và do tim mạch nói riêng, bởi vậy cũng không nên cấm hẳn mà
chỉ cần điều độ [47].
Trong nghiên cứu của Bùi Thanh Nghị cho thấy nhóm uống nhiều rượu
có tỷ lệ THA cao gấp 2,95 lần so với nhóm không uống nhiều rượu (uống quá
nhiều rượu khi uống hơn 3 lần mỗi ngày, mỗi lần khoảng 30ml whisky, 150ml
rượu vang hay 330 ml bia [44] .
1.2.5. Thói quen hút thuốc lá
Trong thuốc lá có Nicotin, Nicotin kích thích hệ thần kinh giao cảm làm
co mạch ngoại vi gây THA. Hút 1 điếu thuốc lá HATT có thể tăng lên tới 11
mmHg, HATTr tăng lên tới 9 mmHg, kéo dài 20-30 phút. Hút nhiều có
thể có những cơn THA kịch phát nguy hiểm. Nicotin còn làm tăng nhịp
tim và THA, tăng nhu cầu oxy của các cơ tim. Các oxyt cacbon do hút
thuốc lá sinh ra làm giảm khả năng vận chuyển oxy của máu. Hút thuốc lá
còn là nguồn sản sinh ra các gốc tự do, tăng độ kết dính của tiểu cầu và
làm giảm các HDL- C [13].
Hút thuốc lá là một yếu tố đe doạ quan trọng của bệnh, vì nguy cơ mắc
bệnh mạch vành ở người THA có hút thuốc cao hơn 50-60% so với những
người THA không hút thuốc [61].
Nghiên cứu của Trần Đỗ Trinh cho kết quả nhóm người có THA, tỷ lệ
hút nhiều  8 điếu/ngày cao hơn nhóm người bình thường, nếu hút dưới 8
điếu trong ngày thì không khác nhau [55].
Nghiên cứu của Bùi Thanh Nghị cho thấy nhóm hút thuốc lá có tỷ lệ
THA cao gấp 3,04 lần so với nhóm không hút thuốc [44].
Olatunbosun S.T., Kaufman J.S., Cooper R.S. (2000 Arp) nghiên cứu

- THA có tỷ lệ cao ở những nước có công nghiệp phát triển.


Trích đoạn Những nghiờn cứu về dịch tễ bệnh THA trờn Thế giới và Việt Nam 1 Trờn Thế giớ Cỡ mẫu: Cỡ mẫu cho nghiờn cứu mụ tả cắt ngang Đo huyết ỏp Đo chiều cao, cõn nặng, vũng bụng, vũng mụng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status