1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) hoặc COPD (Chronic Obstructive
Pulmonary Disease) là một danh từ dùng để chỉ một nhóm bệnh đường hô hấp có
đặc trưng chung là sự tắc nghẽn đường thở không phục hồi hoàn toàn tự phát hay
dưới các tác động điều trị. Đây là một nhóm bệnh hô hấp thường gặp trên thế giới
cũng như ở nước ta [28], [51]. Với tính chất phổ biến, tiến triển kéo dài, chi phí điều
trị cao và hậu quả tàn phế, COPD đã thực sự trở thành một vấn đề sức khỏe toàn
cầu quan trọng.
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), năm 1990 tỷ lệ mắc COPD trên toàn
thế giới ước tính khoảng 9,34/1000 ở nam và 7,33/1000 ở nữ [3]. Hiện tại, trên
thế giới có khoảng 600 triệu người mắc bệnh [46]. Tại Việt Nam, điều tra dịch tễ
về COPD trong cộng đồng dân cư ở nước ta do Bệnh viện Phổi Trung ương tiến
hành trên phạm vi toàn quốc công bố năm 2010, kết quả cho thấy tỷ lệ mắc bệnh
ở nhóm tuổi trên 40 trong cộng đồng chung cho cả hai giới là 4,2%, trong đó ở
nam giới tỷ lệ này là 7,1% và ở nữ giới là 1,9% [10].
Không chỉ là một bệnh lý thường gặp, COPD hiện là nguyên nhân gây tử vong
đứng hàng thứ 4 trên thế giới và là bệnh lý duy nhất làm tăng tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong
trong số những bệnh lý gây tử vong hàng đầu [3], [51], [80]. Một nghiên cứu về gánh
nặng bệnh tật toàn cầu dự đoán COPD, từng là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ 6
vào những năm 1990, sẽ trở thành nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ 3 trên thế giới
vào năm 2020 [5], [47], [74].
Theo nghiên cứu tại Trung tâm Hô hấp, Bệnh viện Bạch Mai, năm 2006,
trung bình một đợt cấp COPD nhập viện tiêu tốn 7-8 triệu đồng cho chi phí trực tiếp
liên quan đến thuốc, xét nghiệm… [11] Nếu tính cả chi phí điều trị gián tiếp, chi phí
điều trị ngoại trú cho bệnh nhân thì số tiền chi phí cho một đợt tiến triển cấp của
bệnh sẽ còn có thể hơn thế nhiều lần.
2
Từ năm 1992, thuật ngữ COPD đã chính thức thay thế cho các tên gọi khác
về bệnh và áp dụng trên toàn thế giới, nó được dùng trong phân loại bệnh tật quốc tế
lần thứ 9 và lần thứ 10 [83].
Vào năm 1998, nhằm nỗ lực gia tăng sự chú ý về cách điều trị, phòng ngừa
COPD, các nhà khoa học đã cùng với WHO và NHLBI đề ra chiến lược toàn cầu
cho bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (Global Initiative for Chronic Obstructive Lung
Disease: GOLD). Mục đích quan trọng nhất của GOLD là nhằm nâng cao kiến thức
về COPD, giúp đỡ cho hàng triệu người phải chết sớm hoặc bị các biến chứng của
COPD. Hàng năm GOLD đều đưa ra bản cập nhật về chẩn đoán cũng như điều trị
bệnh [53].
1.1.2. Định nghĩa
Theo GOLD 2010: COPD là một bệnh lý có thể phòng ngừa và có thể điều
trị được với các ảnh hưởng ngoài phổi đáng kể, góp phần vào độ nặng của bệnh.
Bệnh được đặc trưng bởi tắc nghẽn luồng khí không hồi phục hoàn toàn. Tắc nghẽn
luồng khí thường là tiến triển và liên quan đến đáp ứng viêm bất thường của phổi
với các phân tử hoặc khí độc hại [51].
4
1.1.3. Dịch tễ học
COPD là nguyên nhân hàng đầu của bệnh tật và tử vong trên toàn thế giới và
là bệnh lý duy nhất tăng tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong trong số những bệnh lý gây tử
vong hàng đầu thế giới [80]. Tần suất bệnh tật và tử vong của COPD thay đổi giữa
các nước và giữa các nhóm người khác nhau trong cùng một nước nhưng nói chung,
có liên quan trực tiếp đến tần suất của hút thuốc lá mặc dù ở nhiều nước, ô nhiễm
không khí do chất đốt từ gỗ và các chất đốt sinh khói khác đã được xác định là một
yếu tố nguy cơ của COPD [52].
Theo WHO, năm 1990 tỷ lệ mắc COPD trong 1000 dân là: 9,33 ở nam và
7,33 ở nữ [2], [3]. Tỷ lệ tử vong do COPD năm 1990 đứng thứ 6, hiện nay đứng thứ
4 và dự báo đến năm 2020 đứng thứ 3 trong 10 bệnh chính gây tử vong, chỉ sau
Viêm trong phổi được khuếch đại bởi sự mất cân bằng quá trình oxy hóa và
sự gia tăng quá mức của các protease trong phổi. Các cơ chế này phối hợp dẫn đến
các thay đổi bệnh học đặc trưng của COPD.
- Tăng đáp ứng viêm của đường thở: COPD đặc trưng bởi viêm mạn tính
toàn bộ đường dẫn khí, nhu mô phổi và mạch máu phổi. Tập trung các tế bào viêm
đặc biệt là tế bào bạch cầu lympho (nổi trội là CD8) và bạch cầu đa nhân trung tính
ở niêm mạc đường thở. Các tế bào viêm hoạt hóa giải phóng nhiều chất trung gian
hóa học gồm: Leucotrien B4 (LTB4), Interleukin 8 (IL-8), yếu tố hoại tử u alpha
(TNF-α) có khả năng phá hủy cấu trúc nhu mô phổi hoặc duy trì tình trạng viêm.
6
Khói thuốc
Yếu tố chủ thể
Đáp ứng viêm của đường thở
Các chất chống
oxy hóa
Kháng proteinase
Proteinase
Stress oxy hóa
Bệnh lý COPD
Sơ đồ 1.1. Cơ chế bệnh sinh của COPD theo GOLD 2010
- Mất cân bằng giữa protease và kháng protease: Các protease sẽ phá vỡ các
thành phần của mô liên kết, trong khi các anti-protease giúp bảo vệ chống lại quá
trình này. Đã có các bằng chứng thuyết phục về sự mất cân bằng giữa các protease
và anti-protease trong phổi ở bệnh nhân COPD. Phá hủy elastin qua trung gian
- Các bất thường ở cơ hô hấp: do tăng lưu lượng khí hít vào, tăng kích thích
cơ hô hấp từ trung ương, lồng ngực căng phồng cùng các yếu tố chuyển hóa bất lợi
làm cơ hô hấp hoạt động không tốt dẫn đến tình trạng mệt cơ, nhất là cơ hoành.
- Bất thường giữa thông khí và tưới máu (bất thường VA/Q): dùng phương
pháp đồng vị phóng xạ cho thấy ở bệnh nhân COPD vừa có shunt mao mạch (nhánh
nối mao mạch) do tắc nghẽn đường dẫn khí (VA/Q giảm), vừa có khoảng chết phế
nang do khí phế thũng (VA/Q tăng).
- Tăng tiết đờm: tăng tiết đờm, kết quả của ho tăng tiết mạn tính, một đặc
trưng của viêm phế quản mạn tính và không liên quan quan trọng với hạn chế
8
đường thở. Sự tăng tiết đờm do tăng số lượng tế bào có chân và phì đại các tuyến
dưới niêm mạc do đáp ứng của đường thở với khói thuốc và chất độc. Nhiều chất
hóa ứng động và protease kích thích tăng tiết đờm thông qua kích hoạt các cảm thụ
quan của yếu tố tăng trưởng biểu mô (EGFR: Epidermal growth factor).
- Tăng áp lực động mạch phổi: tăng áp động mạch phổi mức độ nhẹ đến vừa
có thể xuất hiện muộn trong tiến triển của COPD do co thắt các động mạch phổi
nhỏ, kết quả cuối cùng là thay đổi cấu trúc của chúng.
- Ảnh hưởng toàn thân: chứng suy kiệt thường gặp ở bệnh nhân COPD nặng.
Bệnh nhân COPD cũng có nhiều khả năng bị loãng xương, trầm cảm và thiếu máu
mạn tính.
1.2. CHẨN ĐOÁN VÀ PHÂN LOẠI GIAI ĐOẠN COPD
1.2.1. Chẩn đoán COPD
- Theo khuyến cáo của GOLD 2010:
Gợi ý chẩn đoán COPD ở bất kỳ bệnh nhân nào trên 40 tuổi có ít nhất một
trong các chỉ điểm sau:
- Khó thở với đặc điểm:
+ Tiến triển (nặng dần theo thời gian)
+ Khó thở tăng lên khi vận động.
+ FEV1/VC < 70%
+ 30% ≤ FEV1 < 50% TSLT
+ Khó thở xuất hiện tăng dần và tái phát, đợt cấp làm ảnh hưởng đến chất
lượng cuộc sống.
- Giai đoạn IV (rất nặng):
+ FEV1/VC < 70%
+ FEV1 < 30% TSLT hoặc FEV1 < 50% TSLT nhưng kèm theo biến
chứng suy hô hấp mạn (PaO2 < 60 mmHg).
+ Chất lượng cuộc sống bị ảnh hưởng nặng nề, các đợt cấp có thể đe dọa
tử vong.
10
1.3. TỶ LỆ TỬ VONG VÀ MỨC ĐỘ TÀN PHẾ CỦA BỆNH PHỔI TẮC
NGHẼN MẠN TÍNH
Năm 1990, trên thế giới có khoảng 2,2 triệu người chết vì COPD chiếm 8%
tổng số người chết do bệnh tật và là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ sáu
trong các nguyên nhân gây tử vong. Theo báo cáo của TCYTTG, năm 2000 có 2,74
triệu người chết vì COPD và bệnh là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ tư,
năm 2005 có khoảng 2,9 triệu người chết vì BPTNMT. TCYTTG dự đoán số người
mắc COPD sẽ tăng 3-4 lần trong thập kỷ này, đến năm 2020 tỷ lệ tử vong sẽ tăng
gấp đôi so với năm 1990 và COPD sẽ là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ ba
(sau bệnh tim thiếu máu và bệnh máu não) [5], [47], [74]. Ngày nay tỷ lệ bệnh nhân
tử vong do COPD có xu hướng tăng là do tỷ lệ hút thuốc tăng (nhất là ở các nước
đang phát triển), dân số ngày càng già đi (đặc biệt là ở các nước đang phát triển) và
số lượng bệnh nhân tử vong do các bệnh khác như tiêu chảy và các bệnh khác liên
quan đến HIV có xu hướng giảm [72].
Tỷ lệ tử vong vì COPD rất khác nhau giữa các quốc gia, tỷ lệ này dao động
từ 10/100.000 đân đến 500/100.000 dân với khoảng 6% nam và 2- 4% nữ. Sự khác
biệt này do nhiều yếu tố cấu thành: Tiêu chuẩn chẩn đoán, thói quen hút thuốc, ô
tục được điều trị.
Chi phí trực tiếp là những chi phí cho việc phòng bệnh, chẩn đoán, điều trị và
phục hồi chức năng cho bệnh nhân BPTNMT trong nghiên cứu. Hầu hết các nghiên
cứu về chi phí trực tiếp tập trung vào các chi phí điều trị tại bệnh viện, cho phí cấp
cứu, chi phí thuốc men và chi phí cho dịch cho các dịch vụ xã hội. Chi phí gián tiếp
là chi phí phát sinh do hậu quả của sự tàn phế và tử vong của bệnh nhân do bệnh.
Các đánh giá khoa học về gánh nặng kinh tế xã hội của COPD còn chưa nhiều,
chủ yếu ở một số nước phát triển. Ở Mỹ, chi phí y tế cho COPD ước tính năm 2002
là 32,1 tỷ đôla, trong đó 18 tỷ là chi phí trực tiếp cho điều trị và 14,1 tỷ là chi phí gián
tiếp. Ở Liên minh châu Âu, tổng chi phí trực tiếp của bệnh hô hấp ước tính khoảng
6% tổng ngân sách chăm sóc sức khỏe, trong đó COPD chiếm 56% (38,6 triệu Euros)
12
chi phí này. Đối với các nước đang phát triển, xét trên góc độ kinh tế, COPD rất có
thể là gánh nặng đáng kể đối với gia đình và cả xã hội [26], [47].
Ở Việt Nam chi phí nằm viện cho COPD cũng rất cao. Chi phí nằm viện
trung bình cho một bệnh nhân đợt cấp COPD với thời gian nằm viện 10 ngày vào
khoảng 5,5 triệu đồng [26].
1.5. CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH.
Các yếu tố nguy cơ của BPTNMT được chia thành hai nhóm: Các yếu tố nội
sinh (yếu tố chủ thể) và các yếu tố ngoại sinh (yếu tố môi trường).
Bảng 1.1. Các yếu tố nguy cơ của BPTNMT
Yếu tố ngoại sinh (môi trường)
Yếu tố nội sinh (chủ thể)
Khói thuốc
Di truyền
BPTNMT cao ở những nước đã và đang thịnh hành việc hút thuốc, trong khi tỷ
lệ này thấp nhất ở những nước có tỷ lệ tiêu thụ thuốc lá trên đầu người thấp
[72]. Các nghiên cứu dịch tễ học bước đầu ở Hà Nội, Hải Phòng cho thấy có
mối liên quan chặt chẽ giữa hút thuốc lá với BPTNMT, ở những người hút
thuốc lá, nguy cơ mắc bệnh cao gấp 2-3 lần so với người không hút [5], [7].
- Hút thuốc thụ động.
Hút thuốc thụ động cũng là yếu tố nguy cơ đối với BPTNMT. Những người
sống cùng nhà với người hút thuốc cũng bị lắng đọng khói thuốc lá trong phổi cũng
như nồng độ nicotin và carboxyhemoglobin tăng trong máu. Những đối tượng hút
thuốc thụ động có nguy cơ mắc bệnh như người hút thuốc mức độ nhẹ.
Hút thuốc lá thụ động ở trẻ em sống trong gia đình có người hút thuốc lá có
tỷ lệ mắc các bệnh đường hô hấp cao hơn trẻ em sống trong gia đình không có người
hút thuốc [66], [67]. Trong nghiên cứu của Khoa Dịch tễ và y tế công cộng, Trường
Đại học Birmingham (Anh), khi nghiên cứu ảnh hưởng khói thuốc lá với BPTNMT
ở người trên 50 tuổi ở Trung Quốc, ước tính có 1,9 triệu người không hút thuốc
nhưng có tiếp xúc khói thuốc chết vì BPTNMT [60].
Việc giảm tiếp xúc cá nhân với những yếu tố nguy cơ trong môi trường là
những mục tiêu quan trọng nhằm phòng ngừa sự xuất hiện và tiến triển của
BPTNMT. Ngừng hút thuốc lá là một biện pháp hiệu quả và kinh tế nhất để giảm
nguy cơ phát triển và làm ngừng sự tiến triển của BPTNMT [66].
* Ô nhiễm không khí (môi trường và gia đình).
Mối liên quan giữa ô nhiễm không khí và BPTNMT vẫn chưa được hiểu đầy
đủ. Một vài loại khói và bụi (với nồng độ đủ lớn) có thể gây nên tắc nghẽn và tổn
thương cấp và mạn tính ở đường thở hô hấp.
14
Chủ yếu là các loại khói từ các nhà máy công nghiệp, khói các động cơ giao
thông, bụi oxit lưu huỳnh, oxit nitơ, Ozon, Andehyd, bụi bếp than, rơm rạ [54],
[66], [67]. Nếu các loại khói này hiện diện đủ lớn trong thời gian đủ dài có thể gây
CNTK.
BPTNMT làm gia tăng tần suất cũng như mức độ nặng của nhiễm khuẩn hô hấp.
Các nghiên cứu hồi cứu cho thấy nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới ở trẻ em là
yếu tố nguy cơ dẫn đến BPTNMT về sau. Nhiễm trùng đường hô hấp trẻ em < 8 tuổi
gây tổn thương lớp tế bào biểu mô đường hô hấp và các tế bào luân chuyển làm giảm
khả năng chống đỡ của phổi. Các nhiễm vi rút hợp bào hô hấp làm tăng tính phản ứng
phế quản tạo cơ hội bệnh phát triển [54] [66] [67].
* Khi hậu.
Người ta nhận thấy có mối liên quan giữa đợt cấp BPTNMT và khí hậu (đặc
biệt là nhiệt độ và độ ẩm), không khí khô gây ra co thắt phế quản ở bệnh nhân
BPTNMT [58].
* Điều kiện kinh tế xã hội.
Điều kiện kinh tế xã hội không thuận lợi, ăn kiêng và dinh dưỡng: Các
nghiên cứu của dịch tễ cho thấy nguy cơ mắc BPTNMT gia tăng ở những người có
điều kiện kinh tế xã hội thấp (do dinh dưỡng nghèo nàn, môi trường sống ẩm thấp,
bị ô nhiễm) tạo điều kiện thuận lợi cho nhiễm khuẩn hô hấp và xuất hiện bệnh [72].
Người ta nhận thấy có mối liên quan giữa ăn kiêng, nồng độ vitamin C và E là
những vitamin chống oxy hóa làm giảm nguy cơ mắc BPTNMT.
1.5.2. Các yếu tố nội sinh (các yếu tố cơ địa).
* Yếu tố gen.
Hút thuốc được coi là nguyên nhân chính gây BPTNMT. Bên cạnh đó, có
những bệnh nhân không hút thuốc cũng mắc BPTNMT hoặc có bệnh nhân mắc
BPTNMT ngay từ khi còn trẻ. Những nghiên cứu quan sát được tiến hành trong các
gia đình có người bị BPTNMT và trên những trẻ sinh đôi đã ủng hộ giả thuyết về
vai trò yếu tố gen trong quá trình phát sinh và phát triển [35], [44], [54], [62].
- Họ hàng của bệnh nhân BPTNMT có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn.
- Có mối quan hệ về CNTK của bố mẹ và con cái, anh chị em ruột.
- Tỷ lệ mắc bệnh BPTNMT giảm đối với những người có yếu tố gen xa nhau.
17
* Giới tính:
Người ta thấy rằng tỷ lệ mắc BPTNMT ở nam giới cao hơn so với nữ,
thường gặp ở người trên 40 tuổi, tỷ lệ mắc cao hơn ở người già. Tuy nhiên 15 năm
trở lại đây tỷ lệ mắc ở nữ cao hơn so với nam giới [67], [89].
* Tuổi.
Trong hầu hết các nghiên cứu dịch tễ học về BPTNMT người ta nhận thấy tỷ
lệ mắc, mức độ tàn phế, tỷ lệ tử vong tăng theo lứa tuổi, tỷ lệ mắc bệnh ở nam giới
độ tuổi 70-74 cao gấp 6 lần so với độ tuổi 55-59, ở nữ giới tỷ lệ mắc tăng bắt đầu từ
sau tuổi 55 [69]. Tỷ lệ mắc BPTNMT tăng trong những năm gần đây là do dân số
thế giới ngày càng già và tỷ lệ tử vong do các bệnh lý tim mạch và nhiễm trùng cấp
giảm [68].
18
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1. Thời gian, địa điểm nghiên cứu
- Địa điểm nghiên: Bệnh viện Hữu nghị Việt – Tiệp Hải Phòng
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 08 năm 2012 – tháng 10 năm 2013
2.1.2. Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân mắc bệnh phổi và bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
vào điều trị nội trú tại Bệnh viện Hữu nghị Việt – Tiệp Hải Phòng trong thời gian từ
01/01/2010 đến 31/12/2012.
2.1.3. Tiêu chuẩn lựa chọn
Thỏa mãn đồng thời ba tiêu chuẩn sau:
- Tiêu chuẩn 1: Bệnh nhân có chẩn đoán ra viện là bệnh phổi và COPD.
- Tiêu chuẩn 2: Có đầy đủ thông tin cần thiết điền trong phiếu thống kê chi
- Phân bố bệnh nhân theo kết quả điều trị
- Phân bố bệnh nhân theo ngày điều trị
- Phân bố bệnh nhân theo chi phí điều trị
2.2.4.2. Một số yếu tố liên quan đến bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
- Tuổi
- Giới tính
- Địa dư
- Nghề nghiệp
- Hút thuốc lá, lào
- Tiếp xúc khói bụi
20
2.2.5. Các chỉ số, biến số nghiên cứu và phương pháp thu thập.
Bảng 2.1. Các chỉ số, biến số nghiên cứu và phương pháp thu thập.
Mục
Chỉ số, biến số
tiêu
Kỹ thuật thu thập
thông tin, số liệu
Công cụ thu
thập thông
tin, số liệu
1.Thực trạng BPTNMT tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng
BPTNMT trong số lượt bệnh
tử Phòng Kế hoạch
nhân vào viện theo năm
tổng hợp BV Việt
Tiệp
Tỷ lệ bệnh nhân mắc BPTNMT
Hồi cứu tư liệu: Sổ
Bảng trống để
theo năm: số bệnh nhân mắc
lưu trữ, sổ lưu trữ điện
điền số liệu
BPTNMT trong số bệnh nhân
tử Phòng Kế hoạch
mắc bệnh phổi theo năm
tổng hợp BV Việt
Tiệp
Tiệp)
Kết quả điều trị: ra viện, tử
Hồi cứu tư liệu: Bệnh
Bệnh án
vong
án (Phòng Kế hoạch
nghiên cứu
tổng hợp BV Việt
Tiệp)
Số đợt nằm viện trong năm
Hồi cứu tư liệu: Sổ
Bệnh án
lưu trữ Phòng Kế
nghiên cứu
hoạch tổng hợp BV
Việt Tiệp
Tiền sử hút thuốc, số năm
Hồi cứu tư liệu: Bệnh
Tiệp)
Bệnh án
Hồi cứu tư liệu: Bệnh
án (Phòng Kế hoạch
tổng hợp BV Việt
Tiệp)
Bệnh án
Hồi cứu tư liệu: Bệnh
Bệnh án
nghiên cứu
án (Phòng Kế hoạch
nghiên cứu
nghiên cứu
22
tổng hợp BV Việt
Tiệp)
Bệnh phối hợp
Hồi cứu tư liệu: Bệnh
án (Phòng Kế hoạch
Tiệp)
Chi phí điều trị trung bình của
- Hồi cứu tư liệu: sổ
bệnh nhân bệnh phổi khác,
lưu trữ điện tử phòng
- Bảng trống
để điền số liệu
bệnh nhân toàn viện; Ngày điều Tài chính kế toán,
trị trung bình của bệnh nhân
phòng Kế hoạch tổng
bệnh phổi khác, bệnh nhân toàn
hợp BV Việt Tiệp
viện
Chi phí điều tri của bệnh nhân
- Hồi cứu tư liệu:
BPTNMT: Tổng chi phí, chi
Phiếu thống kê chi phí
Tuổi với BPTNMT
Hồi cứu tư liệu: Bệnh
án; sổ lưu trữ, sổ lưu
trữ điện tử (Phòng Kế
Bệnh án
nghiên cứu;
bảng trống để
điền số liệu
hoạch tổng hợp BV
Việt Tiệp).
Giới tính với BPTNMT
Hồi cứu tư liệu: Bệnh
án; sổ lưu trữ, sổ lưu
trữ điện tử (Phòng Kế
Bệnh án
nghiên cứu;
bảng trống để
điền số liệu
hoạch tổng hợp BV
Việt Tiệp).
Địa dư với BPTNMT
Hồi cứu tư liệu: Bệnh
án; sổ lưu trữ, sổ lưu
24
Khói thuốc lá, lào với
Hồi cứu tư liệu: Bệnh
Bệnh án
BPTNMT
án; sổ lưu trữ, sổ lưu
nghiên cứu;
trữ điện tử (Phòng Kế
bảng trống để
hoạch tổng hợp BV
điền số liệu
Việt Tiệp).
Khói, bụi với BPTNMT
Hồi cứu tư liệu: Bệnh
Bệnh án
án; sổ lưu trữ, sổ lưu
25
2.5. ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu tuân thủ theo đề cương đã được Hội đồng khoa học nhà
trường thông qua và được ban lãnh đạo Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp đồng ý
cho thực hiện.
- Nghiên cứu này nhằm nâng cao công tác điều trị bệnh, bảo vệ sức khỏe cho
bệnh nhân, không vì mục đích nào khác.
- Kết quả nghiên cứu, thông tin về người bệnh được bảo mật theo quy định.