BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
PHẠM THỊ THU HOÀI THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN
NHIỄM GIUN ĐŨA CHÓ/MÈO (TOXOCARA SP.)Ở TRẺ EM
TIỂU HỌC TỪ 6 ĐẾN 11 TUỔI TẠI XÃ YÊN LẠC, HUYỆN
YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA NĂM 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
HÀ NỘI, 2015
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN
NHIỄM GIUN ĐŨA CHÓ/MÈO (TOXOCARA SP.) Ở TRẺ EM
TIỂU HỌC TỪ 6 ĐẾN 11 TUỔI TẠI XÃ YÊN LẠC HUYỆN
YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HÓA NĂM 2014 LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
TS. NGUYỄN THU HƯƠNG PGS.TS. LÊ XUÂN HÙNG
HÀ NỘI, 2015 LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của rất nhiều
người.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Thu Hương, PGS.TS.
Lê Xuân Hùng những người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực
hiện đề tài.
Tôi xin trân trong cảm ơn: Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau Đại học và các
thầy cô giáo các bộ môn của trường Đại học Y tế công cộng đã tạo điều kiện thuận lợi
1.2.2. Các đặc điểm sinh học Toxocara sp. 5
1.2.3. Chu kỳ phát triển 7
1.2.4. Quá trình truyền nhiễm 10
1.2.5. Thể lâm sàng của bệnh giun đũa chó/mèo 11
1.2.6. Dịch tễ học 12
1.2.7. Chẩn đoán 13
1.2.8. Điều trị 14
1.2.9. Dự phòng 14
1.3. Tình hình nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo ở người trên Thế giới và Việt Nam . 15
1.3.1. Tình hình nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo ở người trên Thế giới 15
1.3.2. Tình hình nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo ở người tại Việt Nam 17
1.4. Các yếu tố liên quan đến nhiễm giun đũa chó/mèo ở người 18
1.4.1. Hành vi cá nhân 18
1.4.2. Thói quen ăn uống 19
1.4.3. Tiếp xúc với chó/mèo 20
1.5. Khung lý thuyết 23
ii 1.6. Địa điểm nghiên cứu 24
Chương 2 25
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1. Đối tượng nghiên cứu 25
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 25
2.3. Thiết kế nghiên cứu 25
2.4. Cỡ mẫu 25
2.5. Phương pháp thu thập số liệu 25
2.6. Thử nghiệm bộ công cụ 26
2.7. Các kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu 26
2.8. Các biến số của nghiên cứu 28
4.1. Địa điểm và đối tượng nghiên cứu 52
4.1.1. Địa điểm nghiên cứu 52
4.1.2. Đối tượng nghiên cứu 52
4.2. Tỷ lệ nhiễm giun đũa chó/mèo ở trẻ em từ 6 – 11 tuổi tại điểm nghiên cứu 53
4.3. Một số yếu tố liên quan đến nhiễm giun đũa chó/mèo ở trẻ em tại điểm nghiên cứu
57
4.3.1. Yếu tố liên quan về đặc điểm của ĐTNC 57
4.3.2. Một số yếu tố liên quan về tiếp xúc với chó, mèo của ĐTNC 58
4.3.3. Liên quan về vệ sinh môi trường với nhiễm giun đũa chó/mèo 61
4.3.4. Liên quan về hành vi cá nhân với nhiễm giun đũa chó/mèo 62
4.3.5. Liên quan giữa thói quen ăn uống với nhiễm giun đũa chó/mèo 63
KẾT LUẬN 64
5.1. Thực trạng nhiễm giun đũa chó/mèo ở trẻ em 6 – 10 tuổi tại điểm nghiên cứu 64
5.2. Một số yếu tố liên quan đến nhiễm ấu trùng giun đũa chó ở trẻ em từ 6 – 10 tuổi tại
điểm nghiên cứu 64
KHUYẾN NGHỊ 66
PHỤ LỤC 73
Phụ lục 1: Bộ câu hỏi dành cho trẻ em là đối tượng nghiên cứu 73
iv Phụ lục 2: Bộ câu hỏi dành cho người chăm sóc trẻ 76
Phụ lục 3: Phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu 79
Phụ lục 4: Kỹ thuật đếm phân loại bạch cầu 81
Phụ lục 5: Kỹ thuật ELISA tìm kháng thể Toxocara trong máu 84
Phụ lục 6: Biên bản giải trình chỉnh sửa sau bảo vệ luận văn 86
vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCAT Bạch cầu ái toan
ĐTNC Đối tượng nghiên cứu
ELISA Enzyme – Linked Immunosorbent Assay
(Kỹ thuật miễn dịch gắn men)
HGĐ Hộ gia đình
Một số các hành vi nguy cơ có liên quan đến nhiễm giun đũa chó/mèo là chơi đùa với
chó/mèo (OR = 3,28; p < 0,001); không rửa tay sau khi chơi với chó/mèo (OR = 18,2;
p < 0,001); không vệ sinh sau khi tiếp xúc đất (OR = 4,2; p < 0,001); không rửa tay
trước khi ăn (OR = 4,5; p < 0,001).
Khuyến nghị: Cần có chương trình giáo dục truyền thông cung cấp đầy đủ thông
tin và lời khuyên phòng chống Toxocariasis kết hợp giữa thú y và các cơ quan y tế
nhằm bảo vệ sức khỏe cho người dân, đặc biệt là trẻ em trong xã.
viii
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo – Toxocariasisthuộc nhóm bệnh lây nhiễm từ
động vật sang người hay còn gọi là bệnh ấu trùng di chuyển nội tạng.Bệnh
do Toxocara canis (ở chó) hay Toxocara cati (ở mèo) gây ra. Loài giun tròn này
thường được gọi chung là giun đũa chó/mèo (Toxocara sp.) do chu kỳ phát triển, đặc
điểm lâm sàng và chẩn đoán giống nhau.Trong nhiều năm nhiễm ấu trùng giun đũa
chó/mèo ở người được xem là bệnh ít gặp.Với những tiến bộ của y học về huyết thanh
chẩn đoán người ta thấy tỷ lệ người dương tính với kỹ thuật miễn dịch gắn men –
Enzyme Linked Immunoserbent Assay (ELISA) phát hiện kháng thể kháng Toxocara
sp. ngày càng nhiều.Hiện nay bệnh này được xem là bệnh ký sinh trùng mới nổi.
Đất là nơi dễ phát tán trứng giun do đặc tính phóng uế bừa bãi của
chó/mèo.Chó/mèo là những động vật nuôi rất gần gũi với người, nên bệnh phân bố
khắp thế giới[
31
, 38]. Tuy nhiên bệnh xuất hiện với tỷ lệ cao hơn ở những vùng nuôi
nhiều chó và dân trí thấp gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con người. Đây là một vấn
đề đáng quan tâm cho sức khỏe cộng đồng [39].Một số khảo sát trên thế giới cho thấy,
huyết thanh người tại một số nước phương Tây có tỷ lệ dương tính với Toxocara sp. từ
2-5% ở vùng thành thị đến 14,2-37% ở vùng nông thôn. Ở vùng nhiệt đới, tỷ lệ huyết
khuyến cáo người dân về việc phòng tránh bệnh chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực
trạng và một số yếu tố liên quan đến nhiễm giun đũa chó/mèo (Toxocara sp.) ở trẻ
em tiểu học từ 6 – 11 tuổi tại xã Yên Lạc, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa năm
2014”.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Mô tả thực trạng nhiễm giun đũa chó/mèo (Toxocara sp.) ở trẻ em từ 6 – 11 tuổi
tại xã Yên Lạc, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa năm 2014.
2. Xác định một số yếu tố liên quan đến nhiễm giun đũa chó/mèo (Toxocara sp.)ở
đối tượng nghiên cứu tại điểm nghiên cứu năm 2014.
4 Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Lịch sử bệnh giun đũa chó/mèo
Nhiễm giun sán khá phổ biến ở các nước nhiệt đới đang phát triển, trong đó
nhiễm giun đũa chó/mèo (Toxocara sp.) ở người có tỉ lệ khá cao.Bệnh giun đũa
chó/mèo thuộc nhóm lây truyền từ động vật sang người. Gồm hai loài Toxocara canis
(ở chó) và Toxocara cati (ở mèo). Bệnh do Beaver và cộng sự phát hiện lần đầu năm
1952. Ông đã chứng minh có sự hiện diện của ấu trùng Toxocara canis ở người và gọi
đó là bệnh “ấu trùng di chuyển nội tạng” do sự di chuyển của ấu trùng giun đũa
chó/mèo ở nhiều cơ quan: da, gan, cơ, não, lách, mắt….Trong y văn ghi nhận đây là
hiện tượng “ngõ cụt ký sinh” hoặc “bệnh động vật thật không hoàn chỉnh” [5].
Người không phải vật chủ thích hợp nên giun không phát triển hoàn chỉnh
thành con trưởng thành, không đẻ trứng nên không thể tìm thấy trứng giun trong phân.
Chẩn đoán bệnh dựa vào triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng điển hình. Chẩn đoán
(Nguồn: http://impehcm.org.vn/index.php?mod=thongtinvien&dvid=2&tvid=295)
6
Trứng Toxocara canis phát triển Trứng Toxocara canis chứa ấu trùng
Hình 1.2. Hình ảnh trứng Toxocara canis
(Nguồn: http://impehcm.org.vn/index.php?mod=thongtinvien&dvid=2&tvid=295 7 1.2.3. Chu kỳ phát triển
Hình 1.3.Chu kỳ phát triển của Toxocara sp.
(Nguồn CDC:http://dpd.cdc.gov/dpdx)
Ấu trùng thoát ra
khỏi đường ruột
Giun trưởng
thành trong ruột
Môi trường ngoài
Trứng có phôi
với ấu trùng
Trứng
Giai đoạn nhiễm
Con người (và các
vật chủ ký sinh khác)
8 Ở chó
Chu kỳ của Toxocara canis tương tự chu kỳ sinh học của giun đũa
người Ascaris lumbricoides. Một điểm khác biệt là vật chủ cuối cùng phân bố trong
phạm vi rộng hơn. Vật chủ cuối cùng là những động vật ăn thịt, chó của gia đình nuôi,
trong khi đó vật chủ ăn thịt các họ khác, bao gồm người thì chưa rõ. Những điểm đặc
biệt là con đường di chuyển trong cơ thể chó có khác nhau tùy thuộc độ tuổi, giới tính
và khả năng dung nạp của chó.
Khi chó mẹ nuốt phải trứng có phôi, trứng nở trong dạ dày và ruột non, phóng
thích ấu trùng giai đoạn 2 xâm nhập vào thành ruột rồi theo đường máu di chuyển khắp
nơi trong cơ thể. Một tuần sau tất cả ấu trùng giai đoạn 2 hiện diện trong mô gan, phổi,
thận, não.Ấu trùng tồn tại trong các mô của chó mẹ hàng tháng hay hàng năm mà
không phát triển thêm nữa. Nếu chó cái có thai ấu trùng di chuyển qua bánh rau, tới mô
Người là vật chủ ngẫu nhiên tình cờ nhiễm do nuốt trứng có ấu trùng của
Toxocara sp Ấu trùng thoát khỏi vỏ trứng, xâm nhập thành ruột và được chuyên chở
theo đường tĩnh mạch của đến gan, rồi vào phổi và những cơ quan khác. Ở những cơ
quan này, ấu trùng di chuyển lang thang hàng tuần hay hàng tháng hoặc nằm im, thành
những tác nhân gây viêm và kích thích tạo u hạt thâm nhiễm bạch cầu toan tính.
Ngoài người, những thú vật khác như loài gặm nhấm, cừu, chim, côn trùng, và
ngay cả giun đất cũng có thể nhiễm ấu trùng của Toxocara sp Tất cả những vật ký chủ
này được gọi là vật chủ ngẫu nhiên, ký sinh trùng không bao giờ phát triển đến giai
đoạn trưởng thành.Không trưởng thành được, không sinh sản được. Đây là lý do không
bao giờ thấy trứng trong phân người.
Sự tồn tại của ấu trùng và chất tiết của chúng trong cơ thể người sẽ gây tổn
thương thành mạch, mô mềm, hoại tử và xuất huyết.Cơ thể sẽ đáp ứng lại bằng cách
tạo phản ứng miễn dịch và các phản ứng bệnh lý.Mức độ bệnh không chỉ phụ thuộc
10 vào số lượng ấu trùng nhiễm vào cơ thể mà còn phụ thuộc vào mức độ các phản ứng dị
ứng. Kết quả các biểu hiện bệnh lý trên lâm sàng là sự viêm nhiễm gây ra bởi các phản
ứng miễn dịch trực tiếp chống lại các kháng nguyên bài tiết của ấu trùng [28].
1.2.4. Quá trình truyền nhiễm
a. Nguồn truyền bệnh giun đũa chó/mèo
Ổ chứa
Chó/ mèo là ổ chứa của Toxocara sp., đất, nước bị nhiễm phân chó/mèo là ổ
chứa của trứng giun. Người bị nhiễm giun đũa chó/mèo là do ăn phải thức ăn, nước
uống có chứa trứng giun hoặc khi chăm sóc chó như: chơi với chó/ mèo, ngủ với chó/
mèo, dọn vệ sinh cho chó/mèo…Bệnh nhân nhiễm Toxocara sp. không phải là nguồn
lây vì trong cơ thề người quá trình phát triển của giun không diễn ra hoàn toàn [
32
].
Thời gian ủ bệnh
to là biểu hiện thường gặp mặc dù bất kỳ cơ quan nào cũng có thể bị xâm nhiễm. Tổn
thương ở gan giống như một khối u dễ lầm với ung thư di căn.
Bạch cầu trong máu tăng 20.000 – 100.000/mm
3
, trong đó bạch cầu toan tính
chiếm 50 – 80%. Một người có bạch cầu toan tính cao kéo dài nhiều tháng và có tiếp
xúc với chó/mèo nên nghĩ ngay đến bệnh ấu trùng di chuyển nội tạng (trừ thể ở mắt
bạch cầu toan tính không tăng).
Bệnh Toxocara sp. ở mắt
Bệnh ở mắt do giun đũa chó/mèo gây ra gây ra có tên gọi là hội chứng ấu trùng
di chuyển ở mắt. Bệnh gặp ở trẻ em tuổi lớn, không có bệnh ly Toxocara nội tạng.Ở
mắt, ấu trùng tình cờ bị giữ lại, tạo một khối viêm thâm nhiễm bạch cầu toan tính.
12 Triệu chứng điểm hình bao gồm giảm thị lực một bên, đau mắt, đồng tử trắng, lé
mắt kéo dài nhiều tuần. Thường gặp nhất là u võng mạc cựu sau, dễ nhầm với ung thư
võng mạc. Trên thực tế, lần đầu tiên nhiều bênh nhân bị viêm nội nhãn, bị múc mắt vì
chẩn đoán nhầm ung thư võng mô, đã tìm thấy nhiều ấu trùng giun ống, đa số các giun
ống này được chẩn đoán là Toxocara sp. Thường một mắt bị bệnh hiếm khi cả hai mắt
cùng bị bệnh. Bệnh ở mắt thường không thấy tăng bạch cầu toan tính, gan to hay các
triệu chứng khác mà bệnh ấu trùng di chuyển nội tạng thường gặp, cũng như tiền căn
nghịch đát hay chơi với chó, mèo.
Bệnh Toxocara sp. không điển hình
Các triệu chứng riêng lẻ thì đặc thù, nhưng khi gộp lại thì tạo thành một hội
chứng có thể gọi là “bệnh Toxocara sp. không điển hình”. Ở trẻ em biểu hiện lâm sàng
như gan to, đau bụng, ho, rối loạn giấc ngủ, kém phát triển về thể lực, đau đầu có liên
quan đáng kể với hiệu giá kháng thể cao đối với Toxocara sp., tăng bạch cầu toan tính
chỉ gặp trong 50 – 75% các trường hợp. Các triệu chứng ít phổ biến hơn bao gồm ăn
uống kém, khò khè, sốt và viêm hạch cổ.
Tiền sử: có tiếp xúc trực tiếp với chó hoặc mèo hay gián tiếp do nghịch đất, mút
tay… ăn rau sống hay trái cây không rửa kỹ, thức ăn nấu không chín có chứa ấu trùng
giun Toxocara sp
Biểu hiện lâm sàng: các tiêu chuẩn chẩn đoán về lâm sàng tùy theo thể lâm
sàng, cơ quan bị tổn thương như đề cập ở phần biểu hiện lâm sàng.
Xét nghiệm cận lâm sàng: tăng gamma globulin, tăng bạch cầu ái toan hoặc
không tăng. Tốc độ lắng máu tăng khi có phản ứng viên toàn thân.Vi thể, có thể tìm
thấy dấu vết của ấu trùng ở trung tâm các u hạt viêm, tế bào khổng lồ và mô sợi (hiếm
14 gặp). Rất khó hoặc không thể tìm được ấu trùng giun trong mô. CT não có thể thấy
những nốt giảm âm trong nhu mô não, gan…, chỉ có tính chất gợi ý. Với sự phát triển
không ngừng của miễn dịch học, trong đó phải kể đến kỹ thuật ELISA có độ tin cậy
cao, đã góp phần tích cực trong việc chẩn đoán các bệnh nhiễn trùng nội tạng nói
chung và bệnh do do ký sinh trùng nói riêng.
1.2.8. Điều trị
Điều trị thuốc đặc hiệu như albendazole, thiabendazole, mebendazole,
diethylcarbamazine có phối hợp với corticoids
Riêng với bệnh ở mắt ngoài điều trị đặc hiệu, trong những trường hợp đặc biệt
cần phối hợp ngoại khoa và điều trị tại chỗ.
1.2.9. Dự phòng
Dự phòng nhiễm Toxocara sp. ở người phụ thuộc vào phòng, chống bệnh
Toxocara trên động vật, kết hợp xử lý phân động vật trước khi thải ra môi trường.Đồng
thời giáo dục cộng đồng toàn diện về vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường sóng.Để
giảm phơi nhiễm ở người, chó con và mèo con nên được tẩy giun định kỳ. Phân chó
nên dọn sạch khỏi các nơi mà trẻ em hay chơi đùa trước khi trứng trong phân chuyển
thành giai đoạn ấu trùng.Phân nên đốt bỏ, đào lỗ chôn hay bỏ vào trong các nơi thích
hợp.Tại các nơi công cộng cần kiểm soát nghiêm ngặt đối với nguồn phân chó và
mèo.Chủ nuôi của chó, mèo phải xử lý nguồn chất thải phân hợp lý và cho vật nuôi
với Toxocara sp. từ 2 – 5% ở vùng thành thị đến 14,2 – 37% ở vùng nông thôn. Ở vùng
nhiệt đới, tỷ lệ huyết thanh dương tính là 63,2% ở Bali, 86% ở đảo Saint-Lucia, 92,8%
ở đảo La Réunion [31].
Huyết thanh Toxocara dương tính tại Sri Lanka là 43% ở vùng nông thôn
(Iddawela et al, 2003) và 20% ở vùng thành thị (Fernando et al, 2007) [36].