Thực trạng và một số yếu tố liên quan viêm nhiễm đường sinh dục dưới của phụ nữ 18-49 tuổi tại huyện Kim Động tỉnh Hưng Yên năm 2012 - Pdf 31

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm nhiễm đường sinh dục dưới (VNĐSDD) là một trong những bệnh
phụ khoa thường gặp nhất ở người phụ nữ. Bệnh có thể gây biến chứng
nghiêm trọng như viêm tiểu khung, vô sinh, thai ngoài tử cung...Ở phụ nữ có
thai bị VNĐSDD có thể gây viêm màng ối, vỡ ối sớm, đẻ non, nhiễm trùng
sau sinh cho bà mẹ và sơ sinh. Mặt khác các nhiễm trùng đường sinh dục còn
làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS. Ở các nước đang phát triển cũng như
ở Việt Nam, VNĐSDD chiếm tỷ lệ cao vào khoảng 60% [23]. Trong số
những người bị bệnh phụ khoa đến khám tại các cơ sở y tế, khoảng 20% là
VNĐSDD.
Viêm nhiễm đường sinh dục dưới thường chỉ gặp ở những phụ nữ đến
khám tại các cơ sở y tế khi đã có biểu hiện bệnh. Trong thực tế, có nhiều
trường hợp bị bệnh mà không đi khám đặc biệt là những phụ nữ ở nông thôn,
vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện sống khó khăn và những phụ nữ lao
động nặng nhọc, do tâm lý ngại đi khám bệnh hoặc nhiều khi họ không thấy
ảnh hưởng gì đến sức khỏe và sinh hoạt hàng ngày mà chỉ là khó chịu mơ hồ
thoảng qua thì họ không quan tâm đến chúng [17], [20], [21]. Điều này đồng
nghĩa với việc những trường hợp này đã bị bỏ sót và không được chăm sóc.
Việc phát hiện được các trường hợp mắc bệnh phụ khoa nói chung, VNĐSDD
nói riêng ở cộng đồng sẽ giúp chúng ta hiểu về những mối liên quan giữa điều
kiện vệ sinh, lao động, môi trường và tỷ lệ mắc bệnh cũng như mối quan hệ
giữa môi trường sống và bệnh tật trong đó có các yếu tố phát sinh các bệnh
phụ khoa [17], [20], [21]. Từ đó ngành y tế có cơ sở để lập kế hoạch thực
hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản cộng đồng.
Hưng Yên là một tỉnh không có rừng, núi và biển, nằm trong vùng khí
hậu nhiệt đới gió mùa, thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, trong vùng kinh
tế trọng điểm phía bắc. Kim Động là một trong 10 huyện, thành phố của tỉnh
Hưng Yên, nằm về phía Tây Nam của tỉnh, trên trục quốc lộ 39A. Diện tích



3

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Đại cương về giải phẫu bộ phận sinh dục nữ
Bộ phận sinh dục nữ bao gồm đường sinh dục trên (đường sinh dục
cao) và đường sinh dục dưới (đường sinh dục thấp). Đường sinh dục trên bao
gồm tử cung (TC), vòi tử cung và buồng trứng. Đường sinh dục dưới bao gồm
âm hộ (AH), âm đạo (AĐ) và cổ tử cung (CTC). Viêm nhiễm đường sinh dục
dưới là những bệnh lý viêm nhiễm ở AH, AĐ và CTC.
1.1.1. Âm hộ
Gồm môi lớn, môi bé, vùng tiền đình, màng trinh, âm vật, các tuyến
chế tiết nhầy giữ cho AH luôn ẩm ướt; tuyến Bartholin, Skène [66].
1.1.2. Âm đạo
Là một ống đi từ AH tới CTC. Âm đạo nằm phía sau bàng quang, niệu
đạo, nằm trước trực tràng và tử cung, gập góc với tử cung 90 0. Âm đạo bám
vào CTC tạo lên các túi cùng. Ở phía sau âm đạo ngăn cách với trực tràng qua
cùng đồ sau tạo túi cùng Douglas, là điểm thấp nhất trong ổ bụng, có tầm
quan trọng đặc biệt trong phụ khoa và ngoại khoa. Niêm mạc âm đạo có nhiều
nếp gấp ngang, chịu ảnh hưởng của nội tiết tố nữ và được làm ẩm do có dịch
tiết từ CTC và buồng tử cung [66].
1.1.3. Cổ tử cung
Khi chưa sinh đẻ, lỗ ngoài hình tròn, nếu đã sinh đẻ lỗ ngoài hình bè
ngang hay hình mõm cá mè. Mặt ngoài CTC được bao phủ bởi lớp tế bào lát
tầng không sừng hóa, ống CTC được bao phủ bởi lớp tế bào trụ tiết nhày [66].
Do bộ phận sinh dục dưới nằm ngoài phúc mạc nên nguy cơ xảy ra viêm
nhiễm tương đối cao.



và lớp đệm. Biểu mô phủ là biểu mô lát tầng không sừng hóa, lớp tế bào này
chứa nhiều glycogen, vì thế khi bôi lugol vào âm đạo ta thấy có màu nâu do
iod tác dụng lên glycogen, nếu thiếu glycogen niêm mạc âm đạo chỉ nhuộm
màu vàng nhạt của Lugol. Niêm mạc âm đạo có nhiều glycogen hay không là
tùy thuộc vào nồng độ Estrogen theo từng lứa tuổi của phụ nữ. Thời kỳ sơ
sinh, biểu mô AĐ và mặt ngoài CTC dầy, nhiều lớp, mọng nước, giàu glycogen
do được hưởng Estrogen từ người mẹ. Sau đó lượng glycogen giảm dần, đến
cuối tháng thứ nhất biểu mô âm đạo và mặt ngoài tử cung chỉ còn 1-2 lớp tế
bào mầm và mất dần glycogen. Đến thời kỳ dậy thì, lượng glycogen tăng dần
làm biểu mô AĐ và mặt ngoài CTC phát triển như phụ nữ ở thời kỳ hoạt động
tình dục bao gồm 5 lớp tế bào [66]
1.2.2. Hệ vi sinh bình thường trong âm đạo
Dịch âm đạo chứa 108 đến 1012 vi khuẩn/ml [63], gồm trực khuẩn
Doderlin, các cầu khuẩn, các trực khuẩn không gây bệnh, trong đó trực khuẩn
Doderlin chiếm khoảng 50-88% [22], [71]. Ở phụ nữ bình thường, hệ vi sinh
vật có trong âm đạo ở trạng thái cân bằng động. Mất sự cân bằng này có thể
dẫn tới tình trạng viêm nhiễm âm đạo [68], [69].
Cơ chế chống lại vi khuẩn của đường sinh dục dưới [68], [69]:
+ pH âm đạo toan < 4,5 là môi trường không thuận lợi cho vi khuẩn
gây bệnh phát triển. Để có được môi trường âm đạo toan cần phải nhờ đến sự
có mặt bình thường của vi khuẩn Doderlin có sẵn trong âm đạo. Các vi khuẩn
này chuyển glycogen có trong tế bào biểu mô âm đạo thành acid lactic.
+ Niêm mạc âm đạo có dịch thấm từ tĩnh mạch, bạch mạch, dịch này có
enzym kháng khuẩn [19]
+ Chất nhầy cổ tử cung cũng có enzym kháng vi khuẩn như lysozym,
peroxydase, lactoferin [19], [21].


6
Dịch sinh lý âm đạo không bao giờ gây ra các triệu chứng cơ năng như

- Theo hình ảnh tế bào bệnh học: Viêm cấp và viêm mạn [54], [64].
1.4. Đặc điểm và triệu chứng lâm sàng của viêm nhiễm đường sinh dục dưới.
Viêm nhiễm đường sinh dục dưới là những bệnh khá phổ biến: 80 - 83,9%
phụ nữ mắc bệnh phụ khoa là viêm sinh dục [33]. VNĐSDD có tầm quan
trọng trong bệnh lý phụ khoa vì nó là nguyên nhân gây nhiều rối loạn trong
đời sống và hoạt động tình dục của người phụ nữ.
Viêm nhiễm đường sinh dục dưới hay gặp trong độ tuổi hoạt động tình
dục. Có thể gặp ở hình thái cấp hoặc mãn tính, nhưng chủ yếu gặp hình thái
mãn tính. Do đó điều trị thường kéo dài, kém hiệu quả. Phát hiện sớm, điều trị
kịp thời, bệnh sẽ khỏi hẳn và tránh được những biến chứng xấu có thể xảy ra,
như: viêm tắc ống dẫn trứng, vô sinh, chửa ngoài tử cung, ung thư hoá... [29],
[25], [90].
Theo giáo sư Dương Thị Cương, lâm sàng của các bệnh viêm nhiễm ở
đường sinh dục được biểu hiện bằng ba triệu chứng chính: ra khí hư, ra máu bất
thường và đau bụng. Trong đó triệu chứng ra khí hư là phổ biến nhất [21], [17].
- Tính chất của khí hư phụ thuộc vào nguyên nhân gây bệnh. Có ba loại khí
hư [17], [69]:
Khí hư trong: trong và dính như lòng trắng trứng, hoặc loãng như
nước, xét nghiệm không thấy vi khuẩn và bạch cầu, chỉ thấy các tế bào biểu
mô tuyến và trực khuẩn Doderlein. Dịch được tạo nên do sự tăng tiết của tế
bào, thường do những tổn thương của niêm mạc tử cung, CTC gây ra như: u
xơ TC, polip CTC hoặc lộ tuyến CTC [17], [69].


8
Khí hư đặc trắng: Là khí hư có màu trắng, kết dính lại như bột, thường
đọng lại ở các túi cùng âm đạo, có tác giả so sánh dạng như: “váng sữa” xét
nghiệm thường tìm thấy nấm Candida [17], [90].
Khí hư xanh, vàng, có bọt: Là khí hư loãng đục, có màu vàng hoặc xanh,
hoặc có bọt, mùi hôi, phủ khắp CTC, các cùng đồ, xét nghiệm thường tìm thấy

mầm bệnh như: vi khuẩn, virus, nấm và ký sinh trùng. Hiện nay có một số
“kit” thương mại có thể tiến hành xét nghiệm hàng loạt ở công đồng với giá
cả chấp nhận được như các bộ kit chẩn đoán phát hiện Chlamydia
Trachomatis, HBsAg, giang mai vv... Phương pháp chẩn đoán tế bào học
được xem là có độ chính xác cao nhất, thường trên 80%, khi kết hợp với
phương pháp mô học có thể đạt tới 90 - 95%, nếu kết hợp thêm phương pháp
hoá mô - tế bào, độ chính xác có thể đạt tới 99% [32].
1.6. Điều trị bệnh viêm nhiễm đường sinh dục dưới
Khó khăn chính trong điều trị nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới ở
nước ta hiện nay được một số tác giả đề cập đến bao gồm: tính chất phức tạp
của mô hình bệnh tật với đặc điểm tổn thương nhiều cơ quan với nhiều loại
căn nguyên cùng một lúc, sự kháng thuốc khá phổ biến của nhiều loài vi sinh
vật, thường phải điều trị nhiều ngày, kết hợp đặt thuốc tại chỗ với kháng sinh
theo đường uống, đường tiêm, phần lớn phải điều trị cả chồng hoặc bạn tình
mặc dù có thể không có triệu chứng cộng với những khó khăn trong chẩn
đoán và giám sát, thói quen lạm dụng kháng sinh của người dân vv... Vì vậy,
điều trị cần tuân thủ các nguyên tắc sau đây [12], [14], [64]:
- Cần chẩn đoán bệnh chắc chắn, xác định rõ căn nguyên.
- Điều trị đúng phác đồ, không quan hệ tình dục trong thời gian điều trị.
- Phải điều trị đồng thời cho cả chồng hay bạn tình mặc dù có thể
không có triệu chứng.


10
- Phải theo dõi sau điều trị đúng kỳ hạn để đánh giá kết quả xem có cần
duy trì điều trị thêm hay là khi hết các triệu chứng lâm sàng: ngứa, khí hư...
- Phải có biện pháp phòng bệnh tái phát.
1.7. Các hình thái viêm nhiễm đường sinh dục dưới thường gặp
1.7.1. Viêm âm hộ thường hay kèm theo với viêm âm đạo.
- Viêm âm hộ cấp:

phospholipase A2 sẽ chuyển phospholipide hình thành acid arachidonic là tiền
chất của prostaglandin, từ đó có thể gây vỡ ối non, vỡ ối sớm, đẻ non [74],
[79], [82].
Viêm do ký sinh trùng Trichomonas vaginalis là một bệnh thường gặp
ở phụ nữ, có biểu hiện:
- Viêm âm hộ, âm đạo, cổ tử cung đỏ, phù nề.
- Khí hư xanh, loãng, có bọt nhiều, hôi, ngứa. Đặc điểm của khí hư có
tính chất riêng biệt với khí hư do nấm và các tác nhân khác.
- Lau sạch khí hư và bôi dung dịch Lugol 3% thấy biểu mô âm đạo, cổ
tử cung bắt màu nâu sậm, trên màu nâu có nhiều chấm trắng hay ổ trắng
(chứng nghiệm Schille).
- Xét nghiệm khí hư: soi tươi thấy ký sinh trùng, thể đơn bào, di động
(ít gặp), hoặc nhuộm tiêu bản với Fushin, soi thấy ký sinh trùng với bờ không
rõ nét.
Viêm âm đạo do Trichomonas gặp ở phụ nữ nhiều nước và mọi chủng
tộc, nhiều nhất ở phụ nữ 16 - 35 tuổi. Theo GS. Dương Thị Cương và cộng sự
điều tra ở Viện BVBMTSS cho biết tỷ lệ này là 1,25 % [21]. Phan Thị Kim
Anh (1994) nghiên cứu tại viện BVBMTSS nhận thấy có 3,3% đến 5,8% số


12
bệnh nhân đến khám phụ khoa bị nhiễm Trichomonas [2]. Theo Nguyễn Thị
Ngọc Khanh (2004) nghiên cứu trên phụ nữ có thai tại Hà Nội thì tỷ lệ viêm
âm đạo do Trichomonas chiếm từ 10-16% [39]. Nguy cơ của viêm âm đạo do
Trichomonas trong thời kỳ thai nghén được biết đến nhiều. Theo Thaiyooth,
Trichomonas là mầm bệnh hay gặp nhất ở những trường hợp đẻ non [86].
Phụ nữ có thai tỷ lệ nhiễm Trichomonas cao hơn so với không có thai.
Quan hệ tình dục với nhiều người và với người bị nhiễm T. Vaginalis; thiếu
estrogen và âm đạo kiềm tính đo pH âm đạo > 4,5 (là môi trường thuận lợi
cho T. Vaginalis). Đó là những yếu tố nguy cơ gây viêm âm đạo. Phụ nữ bị

Xét nghiệm: nhuộm soi khí hư thấy sợi nấm, bào tử nấm như hạt thóc,
test Sniff âm tính.
Viêm âm đạo do nấm thường gặp nhiều hơn ở phụ nữ sống tại vùng nhiệt
đới và cận nhiệt đới. Ở Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu của Phan Kim Anh
(1994), tỷ lệ viêm âm đạo do nấm ở phụ nữ đến khám tại viện BVBMTSS là
52,45% [2], kết quả nghiên cứu của GS. Dương Thị Cương và cộng sự (1995) tỷ
lệ này là 23,3% [21]. Kết quả nghiên cứu Nguyễn Ngọc Khanh (2004) nghiên
cứu trên phụ nữ có thai tại Hà Nội là 44,9% - 54,3% [39].
Chẩn đoán viêm âm đạo do nấm dựa vào triệu chứng lâm sàng và xét
nghiệm. Xét nghiệm có giá trị là soi tươi, nhuộm Gram và nuôi cấy tìm nấm
Candida.
* Viêm âm đạo do vi khuẩn thường (tạp khuẩn)
Tất cả các loại vi khuẩn đều có thể gây viêm đường sinh dục dưới. Thường
là nhiễm trùng cơ hội do mất cân bằng vi khuẩn yếm khí trong âm đạo [55].
Hay gặp ở trẻ em và người mãn kinh, đã bị cắt 2 buồng trứng, do lớp
biểu mô lát tầng không có glycogen, pH âm đạo trở thành kiềm tính, tạo điều
kiện thuận lợi cho các vi khuẩn phát triển. Thường biểu hiện không đặc hiệu


14
bệnh nhân ra nhiều khí hư nhưng không biểu hiện đau, viêm âm hộ, âm đạo.
Bệnh không phải chủ yếu lây qua đường tình dục nên không cần điều trị cho
người đàn ông. Căn nguyên chủ yếu do vi khuẩn Gardnerella vaginalis và có
thể phối hợp với một số vi khuẩn yếm khí khác.
Theo Phan Thị Kim Anh (1994) xét nghiệm vi khuẩn âm đạo thấy tụ cầu
gây bệnh chiếm 27,2%, E. coli chiếm 24,5%, liên cầu A tan huyết chiếm
17,3%, trực khuẩn Gr (-) khác chiếm 15,5%, liên cầu đường ruột chiếm
14,4%, N. catarrhalis chiếm 0,8%, phế cầu chiếm 0,3% [2].
Nhiễm tạp khuẩn đặc biệt là tụ cầu, liên cầu khuẩn có khả năng gây
biến chứng cho thai phụ và thai nhi như: rỉ ối, ối vỡ non, nhiễm khuẩn ối,

Ở Việt Nam, tỷ lệ nhiễm Chlamydia ở phụ nữ đến khám phụ khoa từ
4,4% đến 11,9% và ở phụ nữ có thai 6,67- 9,3% [20], [27].
Chlamydia Trachomatis gặp nhiều ở lứa tuổi trẻ, phụ nữ dưới 25 tuổi có
tỷ lệ nhiễm cao gấp 3,3 lần so với lứa tuổi trên 34. Người có từ 3 bạn tình trở
lên có nguy cơ nhiễm khuẩn cao gấp 8 lần so với người có 1 bạn tình. Hay
gặp thể không có triệu chứng cơ năng và thực thể nào. Các triệu chứng lâm
sàng có thể gặp là ra khí hư như mủ, đái khó, ra máu. Khi khám nhận thấy 20%
số trường hợp thấy lộ tuyến cổ tử cung, cổ tử cung phì đại, chảy máu khi chạm
vào hoặc có dịch tiết như mủ nhầy ở cổ tử cung [19 ], [59].
1.7.3. Các tổn thương lành tính khác của đường sinh dục dưới
* Vết trắng âm hộ
Đó là những tổn thương sừng hoá lành tính của âm hộ, có thể rất nhỏ
nhưng cũng có thể rất rộng, chiếm hết cả môi lớn và môi nhỏ. Chẩn đoán rất
dễ dàng khi nhìn thấy da vùng âm hộ đổi màu, có thể cứng và người bệnh
thường ngứa, gãi nhiều tạo nên các vết xước ngoài da. Tiến triển của vết trắng


16
âm hộ có khi lành tính bình thường, đôi khi nó là tiền triệu của ung thư âm hộ
cho nên vết trắng âm hộ cần được theo dõi cẩn thận [18], [61], [71].
* Lộ tuyến cổ tử cung
Lộ tuyến CTC là một tổn thương do xuất hiện tế bào trụ ở mặt ngoài
của CTC, nơi mà bình thường chỉ có tế bào lát bao phủ. Lộ tuyến CTC là một
tổn thương khá thường gặp với một tỷ lệ 80-90% [18], [61], [71]. Lộ tuyến
CTC có thể là bẩm sinh, cũng có thể do sang chấn ở CTC sau nạo, sau đẻ và
cũng có thể do cường Estrogen làm cho các tuyến có xu thế phát triển ra
ngoài và chế tiết chất nhầy. Lộ tuyến CTC có thể tự khỏi sau khi mãn kinh
[18], [71].
Triệu chứng của lộ tuyến CTC chủ yếu là ra khí hư nhiều do các tuyến bị
kích thích nên tăng tiết, đây cũng là dấu hiệu khó chịu của người bệnh đôi khi

(tế bào hình trụ) trong ống cổ tử cung lộ ra ngoài. Lộ tuyến CTC có các dấu
hiệu sau:
- Cổ tử cung không nhẵn bóng, mà có vùng xù xì, màu đỏ, ranh giới rõ,
có lớp khí hư đục bao phủ.
- Bôi dung dịch acid acetic 3%: vùng tổn thương se lại, chất nhày đông
đặc, có thể nhìn rõ các tuyến hình chùm nho trên máy soi cổ tử cung (chứng
nghiệm Hinselmann).
- Bôi dung dịch lugol 3%: Vùng tổn thương vẫn giữ màu hồng, không
bắt màu nâu, ranh giới quanh tổn thương không rõ rệt.
Các hình ảnh tái tạo của viêm lộ tuyến CTC: thông thường, biểu mô lát
tầng bao giờ cũng tìm cách diệt biểu mô tuyến để phục hồi lại vùng biểu mô
tuyến bị xâm lấn, sự phục hồi đó gọi là sự tái tạo của biểu mô lát tầng. Sự tái
tạo thường bắt đầu từ chu vi vùng lộ tuyến bò dần về phía lỗ cổ tử cung, cũng
có khi từ lỗ cổ tử cung (ranh giới lát trụ) bò dần ra ngoài.


18
Trong quá trình tái tạo, có thể trọn vẹn không sót lại biểu mô tuyến nào
và vùng tái tạo sẽ bắt màu lugol, có màu nâu sẫm. Nhưng cũng có khi vùng
tái tạo để lại một số vết tích của biểu mô tuyến, gọi là các di chứng lành tính
biểu hiện:
- Cửa tuyến: là trường hợp biểu mô lát bao quanh một miệng tuyến.
- Đảo tuyến: là trường hợp biểu mô lát bao quanh một số tuyến
- Nang Naboth: là trường hợp biểu mô lát phủ lên miệng một tuyến,
nhưng tuyến đó vẫn chế tiết.
Ngoài những di chứng lành tính, trong quá trình tái tạo của biểu mô lát
tầng vẫn có thể có những di chứng bất thường, cần theo dõi sự tiến triển sau
3-5 năm, vì các di chứng bất thường đó đôi khi có thể dẫn tới ung thư: đó là
vết trắng, vết lát đá, vết chấm đáy, vùng loét, các mạch máu bất thường (đó là
các tổn thương nghi ngờ ở CTC).

toan trong âm đạo, gây mất cân bằng của hệ vi khuẩn trong âm đạo, do đó
nấm dễ phát triển [49].
1.8.5. Sử dụng các thuốc khác
Hệ vi khuẩn ở đường ruột và âm đạo có thể bị phá hủy do điều trị
kháng sinh kéo dài. Trong số các kháng sinh: Tetracyclin, Penicilin,
Cephalosporin...diệt vi khuẩn Lactobacili nhiều hơn các kháng sinh khác. Khi
các vi khuẩn thường có trong âm đạo mất đi, pH âm đạo bị thay đổi sẽ tạo
điều kiện cho vi khuẩn và nấm phát triển gây bệnh. Do đó sử dụng các loại
kháng sinh này kéo dài sẽ làm tăng nguy cơ VNĐSDD [69].
1.9. Nghiên cứu viêm nhiễm đường sinh dục dưới trong và ngoài nước
1.9.1.Nghiên cứu ở nước ngoài
Năm 1987 Ronald Meltrer điều tra 2,5 triệu phụ nữ mắc các bệnh lây
truyền qua đường tình dục, thấy tỷ lệ mắc Trichmonas là: 5- 10% ở các phòng


20
khám tư; 13 - 15% ở các bệnh viện phụ khoa; 18 - 32% ở các bệnh viện chữa
lây nhiễm qua đường tình dục; 50% ở gái mại dâm [84].
Theo Thaiyooth Chintama năm 1999 nghiên cứu trên 1197 phụ nữ
chọn ngẫu nhiên tại 2 bệnh viện lớn ở Thái Lan thấy tỷ lệ nhiễm Trichomonas
là 15,5% [86].
Hàng ngày tại Mỹ có 70% phụ nữ đến khám tại các phòng khám phụ
khoa có biểu hiện VNĐSDD. Một ngày một phòng khám phụ khoa cơ sở Mỹ
tiếp nhận điều trị cho 2- 4 bệnh nhân bị VNĐSDD [79].
Spear GT, Kendrick SR và cộng sự nghiên cứu khả năng đáp ứng miễn
dịch của niêm mạc đường sinh dục dưới [85]; Mirmonsef P, Gilbert D,
Veazey R, S J Wang Kendrick, Spear G. SourceRush Trung tâm Đại học Y,
Miễn dịch học/Vi sinh vật, nghiên cứu tại Chicago, Hoa Kỳ cho thấy pH âm
đạo được tạo ra do việc sử dụng glycogen tạo acid acetic, pH này có tác dụng
chống lây nhiễm HIV [80].

Kết quả nghiên cứu của bác sĩ Trương Quý Dương và cộng sự tại
Trung tâm CSSKSS tỉnh Hòa Bình, năm 2001: Nghiên cứu 598 bệnh nhân
(15- 49 tuổi có chồng) cho thấy tỷ lệ VNĐSDD là 68,4%, vi sinh vật gây
bệnh chủ yếu là nấm Candida albican 25,67% [26].
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Tú và Bác sĩ Trần Thị Hạnh tại tỉnh
Thanh Hóa năm 2000 trên 773 phụ nữ (15 - 49 tuổi có chồng) cho kết quả: tỷ
lệ VNĐSDD là 63%. Vi sinh vật gây bệnh hay gặp là: do tạp khuẩn 61,7%;
do nấm là 3,62%; do Trichomonas là 0,21%; phối hợp tạp khuẩn và nấm là
34,4%; phối hợp tạp khuẩn và nấm Trichomonas là 0,21% [59].


22
Nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Châu và cộng sự Trung tâm CSSKSS
Đà Nẵng trong 1000 phụ nữ (15-49 tuổi có chồng) cho kết quả tỷ lệ
VNĐSDD chiếm 58,6%, trong đó viêm lộ tuyến cổ tử cung là 39%; viêm âm
đạo là 17,1% [22].
Năm 2002, Đỗ Thị Thanh Thu và cộng sự nghiên cứu tại bệnh viện
phụ sản tỉnh Hà Tây trên 1026 phụ nữ (15-49 tuổi có chồng) cho kết quả tỷ lệ
mắc bệnh phụ khoa ở phụ nữ nông thôn phía bắc tỉnh Hà Tây là 45,6%. Trong
đó tỷ lệ VNĐSDD chiếm 84,4%. Vi sinh vật gây bệnh chủ yếu là vi khuẩn
Gram (-) chiếm 61,2% [61].
Nghiên cứu của Đào Thị Thu Hiền (2004) trên phụ nữ tuổi sinh đẻ 15-49
tuổi có chồng tại một số xã miền núi tỉnh Quảng Trị cho thấy tỷ lệ VNĐSDD là
63,8%. Trong đó viêm âm đạo đơn thuần là 37,42%; viêm CTC là 26,08%.
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng: nguyên nhân chủ yếu gây VNĐSDD là do tạp
khuẩn (59,82%), do nấm (23,31%) và do Trichomonas là 0,61% [27].
Lê Thị Oanh nghiên cứu trên 2500 phụ nữ lứa tuổi 18-45 tại các tỉnh Hà
Nội, vùng núi Nghệ An, vùng chiêm trũng Hà Nam, nông thôn đồng bằng Hải
Dương và nông thôn ven biển Thái Bình. Kết quả khám và xét nghiệm cho thấy, tỷ
lệ viêm nhiễm đường sinh dục của phụ nữ ở các địa phương này cao từ 42-64%.

tình trạng xuống cấp, lạc hậu, các hộ dân xây dựng để vật liệu bừa bãi, làm
cho không khí có hàm lượng bụi vượt tiêu chuẩn cho phép cùng với việc dùng
các chất đốt dạng thô (than đá, củi, rơm rạ) trong sinh hoạt của nhân dân.
Trong sản xuất nông nghiệp việc sử dụng các chế phẩm hoá học để trừ sâu,
diệt cỏ dại và phân bón hoá học rất đa dạng. Các nguyên nhân cơ bản trên đều
có ảnh hưởng xấu đến môi trường nông thôn.
Dân số Kim Động là 114.691 người trong đó phụ nữ 18-49 tuổi là 26.192
có chồng là 21.966. Tỷ lệ sinh thô là 15,9‰, chết thô là 6,9‰, tỷ lệ phát triển


24
dân số tự nhiên là 0,9%, tỷ lệ tăng dân số cơ học là 0,37%, quy mô chất lượng
nguồn nhân lực của huyện không tốt. Tỷ lệ sinh con thứ 3 là 7,3%, giới tính
khi sinh là 112 nam/100 nữ. Số khám phụ khoa năm 2011 là 10.283 trong đó
có 5.655 người mắc và được điều trị [8], [7].
100% số xã có trạm y tế. Sự nghiệp y tế trên địa bàn huyện luôn được tăng
cường. Toàn huyện có 20 cơ sở y tế bao gồm 1 bệnh viện huyện, và 19 trạm y
tế. Tính đến tháng 12 năm 2011 toàn huyện có 32 bác sỹ, 185 giường bệnh.
166 y sỹ, y tá, dược sỹ, dược tá. Có 17/19 xã có trạm y tế kiên cố, 19 xã đạt
chuẩn Quốc gia về y tế [8], [7].
Lương Bằng là thị trấn của huyện có dân số đông nhất trong huyện là
9.618 người, phụ nữ 18-49 tuổi là 2.158, tỷ lệ sinh con thứ 3 là 13%, tỷ lệ
phát triển dân số tự nhiên là 1,12%. Theo báo cáo tổng kết y tế xã năm 2011
số khám phụ khoa là 585 trong đó 515 người mắc bệnh phụ khoa chiếm
88,1%. 78% sử dụng các biện pháp tránh thai, 95% sử dụng nước hợp vệ sinh,
86% sử dụng hố xí hợp vệ sinh. Tại xã số đối tượng làm nông nghiệp chiếm
33,4%, công nhân 15%, buôn bán và nghề phụ là 46,6%, 5% không có việc
làm, thu nhập bình quân đầu người là 12.500.000đ/năm [9], [4].
Vũ Xá là xã nghèo thuần nông, nông nghiệp chiếm hơn 70%, dân số 5.649,
nữ 18-49 là 1.438, tỷ lệ sinh con thứ 3 là 10,4%. Theo báo cáo y tế năm 2011

+ Cho khám lâm sàng phụ khoa được tính theo công thức:

n = Z 2 ( 1−α/ 2 ) ⋅

pq
d2

p = 0,58; là tỷ lệ nhiễm khuẩn đường sinh dục của phụ nữ tỉnh Hưng
Yên theo nghiên cứu của Hoàng Thế Nội [50].


Trích đoạn Biến số nghiên cứu về tỷ lệ mắc viêm nhiễm đường sinh dục dướ Nguyên nhân gây bệnh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status