BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN HỒNG NGÂN
Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tiếp cận dịch vụ y tế ở nhóm
nam bán dâm đồng giới tại Hà Nội năm 2014 - 2015”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y KHOA
KHÓA 2011 – 2015
Thầy hướng dẫn khoa học:
Th.S: VĂN ĐÌNH HÒA
HÀ NỘI – 2015
LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành khóa luận này, trước tiên em xin gửi lời cảm ơn chân thành
nhất tới ThS. Văn Đình Hòa - Cán bộ giảng dạy Bộ môn Dịch tễ - Viện Đào
tạo Y học Dự Phòng và Y tế Công cộng, người thầy trực tiếp hướng dẫn và
chỉ bảo cho em trong suốt quá trình học tập và làm khóa luận.
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS.Lê Minh Giang - Cán bộ giảng
dạy Bộ môn Dịch tễ - Viện Đào tạo Y học Dự phòng và Y tế Công cộng đã
tạo điều kiện thuận lợi để em có thể hoàn thành khóa luận này.
Em xin gửi lời cảm ơn tới các anh chị của Trung tâm Nghiên cứu và
Đào tạo HIV/AIDS – Trường Đại học Y Hà Nội đã giúp đỡ em trong quá
trình hoàn thành khóa luận.
Nguyễn Hồng Ngân
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
ĐẶT VẤN ĐỀ .................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU........................................................ 3
1.1. Một số khái niệm cơ bản ........................................................................ 3
1.1.1. Nam quan hệ tình dục đồng giới ....................................................... 3
1.2. Đặc Điểm nhân khẩu – xã hội, nhân dạng tình dục, nhân dạng giới. .... 6
1.3. Tình hình các bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nhóm nam bán
dâm đồng giới ....................................................................................... 8
1.3.1. Trên thế giới ...................................................................................... 8
1.3.2. Việt Nam ........................................................................................... 9
1.4. Tình hình thực trạng tiếp cận sử dụng dịch vụ y tế ở nhóm nam bán
dâm đồng giới ..................................................................................... 10
1.4.1. Trên thế giới .................................................................................... 10
1.4.2. Việt Nam ......................................................................................... 11
1.5. Một số yếu tố liên quan đến thực trạng sử dụng dịch vụ y tế ở nhóm
nam quan hệ tình dục đồng giới .......................................................... 14
1.5.1. Kiến thức ......................................................................................... 14
1.5.2. Sự kỳ thị .......................................................................................... 14
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU......... 16
2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu ........................................................ 16
QHTDĐG
Quan hệ tình dục đồng giới
HIV
Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người
(Human Immuno-deficiency Virus)
AIDS
Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người
(Acquired Immune Deficiency Syndrom)
NQHTDĐG
Nam quan hệ tình dục đồng giới
STIs
Các nhiễm trùng lây qua đường tình dục
(Sexually transmitted infections)
NBDĐG
Nam bán dâm đồng giới
UNAIDS
Chương trình Phối hợp của Liên Hợp Quốc về HIV/AIDS
Chăm sóc sức khỏe
BCS
Bao cao su
OR
Tỷ suất chênh
(Odds Ratio)
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu .................................... 22
Bảng 3.2: Đặc điểm giới tự nhận và đặc điểm tình dục .................................. 23
Bảng 3.3: Đặc điểm tình dục theo đặc điểm giới tự nhận ............................... 23
Bảng 3.4: Tỷ lệ tiếp cận DVYT của đối tượng nghiên cứu trong 6 tháng qua .... 24
Bảng 3.5: Tỷ lệ tiếp cận DVYT trong 6 tháng qua theo đặc điểm tình dục ở
đối tượng nghiên cứu .................................................................... 24
Bảng 3.6: Mức độ cảm thấy dễ chịu khi nói chuyện với NVYT về hành vi
QHTDĐG ...................................................................................... 26
Bảng 3.7: Các lý do mà đối tượng không đề cập QHTDĐG với NVYT........ 26
Bảng 3.8: Tỷ lệ phân bố việc xét nghiệm HIV ............................................... 27
Bảng 3.9: Tỷ lệ phân bố nguồn thông tin về HIV/AIDS ................................ 28
Bảng 3.10: Loại chủ đề mà đối tượng trao đổi với NVYT trong lần gần nhất .... 30
Bảng 3.11: Tỷ lệ các loại vật liệu giảm hại nhận được lần gần nhất ............. 31
Bảng 3.12: Lý do chính mà đối tượng đi xét nghiệm HIV trong lần gần đây nhất... 32
Bảng 3.13: Một số yếu tố liên quan đến tiếp cận DVYT trong 6 tháng qua .. 33
tượng tự điều trị khi mắc STIs thay vì tìm đến cơ sở y tế (CSYT) [7],[8],[9].
Điển hình như nghiên cứu tại thành phố Larkana, Parkistan có đến 65% người
được hỏi không biết đến trung tâm sức khỏe y tế của chính phủ, nơi họ có thể
đến điều trị STIs và làm xét nghiệm sàng lọc HIV. 100% đối tượng trả lời
chưa từng đi xét nghiệm sàng lọc HIV. 78% đối tượng tự điều trị khi mắc
bệnh, trong khi chỉ 22% tìm đến bác sĩ có trình độ chuyên môn [7]. Ở Việt
Nam, tỷ lệ nhóm NBDĐG tiếp cận DVYT cũng nằm trong xu hướng thấp nói
chung. Trong nghiên cứu về vai trò của DVYT nói chung trong tăng cường
xét nghiệm HIV ở 654 NBDĐG tính từ 1/2009 đến 7/2011 tại Hà Nội, Nha
Trang, thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ được xét nghiệm HIV trong vòng 2 năm
qua là 17,9%. 50,6% số người tham gia có khám sức khỏe tổng quát trong
2
vòng một năm qua, số còn lại chưa từng khám sức khỏe tổng quát hoặc đã
khám hơn một năm trước đó. Có 17,9% số người tham gia đã từng trao đổi
với nhân viên y tế về QHTDĐG của họ [10].
Nguyên nhân dẫn đến việc tiếp cận DVYT thấp ở nhóm NBDĐG có thể
do thiếu hiểu biết, thiếu thông tin về các dịch vụ CSSK. Tuy nhiên chất xúc
tác chính cho vấn đề trên là do các quy định của pháp luật và văn hóa xã hội
đặc biệt là sự kì thị, phân biệt đối xử [11]. Ở hầu hết các quốc gia trên thế
giới, dù các mối quan hệ đồng giới có bị coi là phạm pháp hay không thì
những phong tục tập quán vẫn nghiêng về lên án với các hành vi tình dục
đồng giới nói chung và hành vi bán dâm đồng giới nói riêng.
Rõ ràng, nhóm NBDĐG là nhóm đa dạng về bạn tình, nguy cơ lây nhiễm
STIs cao. Tuy nhiên tại Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng chưa có
nghiên cứu nào đề cập đầy đủ đến việc tiếp cận DVYT ở nhóm này. Xuất phát
từ tồn tại trên, chúng em thực hiện đề tài: “Thực trạng và một số yếu tố liên
quan đến tiếp cận dịch vụ y tế ở nhóm nam bán dâm đồng giới tại Hà Nội năm
2014 - 2015” nhằm cung cấp bằng chứng để thực hiện các chương trình can
tình dục đồng giới ở Châu Á – Thái Bình Dương thì NQHTDĐG có thể được
phân loại theo những tiêu chí sau [11].
- Theo đặc tính tình dục (đồng tính nam (gay), đồng tính (homosexual), tình
dục khác giới (heterosexual); tình dục cả 2 giới (bisexual); chuyển đổi giới tính,
hoặc những khái niệm tương tự) mà không quan tâm đến hành vi tình dục;
4
- Theo thừa nhận và công khai về đặc tính tình dục (công khai là đồng
tính nam hoặc còn ẩn giấu);
- Theo bạn tình (nam, nữ và/hoặc chuyển đổi giới tính);
- Theo các lý do để lựa chọn bạn tình (ý thích tự nhiên, bị cưỡng ép
hoặc chịu áp lực, được thúc đẩy làm mại dâm, do hoàn cảnh thuận tiện, hoặc
chỉ là vui chơi, phải sống trong môi trường toàn nam giới);
- Theo vai trò trong các thực hành tình dục cụ thể (cho, nhận, cả cho cả
nhận, không có vai trò nào, tình dục qua đường miệng, thủ dâm cho nhau
hoặc những hành động khác);
- Theo đặc tính vai trò và hành vi có liên quan đến giới (nam hay nữ, tính
nam hoặc tính nữ, y phục giống nữ hoặc y phục theo giới tính đang mang).
1.1.1.3. Nam bán dâm đồng giới
Nam bán dâm đồng giới là một bộ phận trong nhóm nam quan hệ tình
dục đồng giới (MSM hay viết tắt của Men Who Have Sex With Men). Họ là
những người sinh ra là nam giới và có hoạt động trao đổi tình dục với nam
giới vì mục đích lấy tiền hoặc các giá trị vật chất khác (quần áo, xe máy, công
việc, chuyến du lịch, chỗ ở vv…), mặc dù bản thân họ có thể không phải là
người đồng tính (là những người tự nhận đặc điểm tình dục của bản thân là ưa
thích nam giới hơn phụ nữ) [13].
1.1.1.4. Một số khái niệm khác về nam quan hệ tình dục đồng giới
- Bóng lộ: được sử dụng để chỉ những người nam giới mà họ thể hiện
bản thân như người nữ giới và họ không cần cố gắng để che dấu đi bản chất
và sử dụng. Có người phân biệt cung ứng dịch vụ và cơ hội sử dụng DVYT
với việc thực sự sử dụng DVYT trong khi đa số đều coi tiếp cận các DVYT
và cơ hội sử dụng DVYT là bao gồm nhu cầu thực có [16].
Viện y học Mỹ định nghĩa tiếp cận DVYT là “việc sử dụng kịp thời các
dịch vụ chăm sóc sức khỏe cá nhân để có được tình trạng sức khỏe tốt nhất có
6
thể” [17].
Việc tiếp cận dịch vụ y tế phụ thuộc nhiều vào hai yếu tố sau:
- Khả năng đáp ứng của dịch vụ y tế như điều kiện cơ sở vật chất, thuốc,
trang thiết bị, đội ngũ cán bộ y tế.
- Việc người dân có thực sự sử dụng dịch vụ y tế hay không.
1.2. Đặc Điểm nhân khẩu – xã hội, nhân dạng tình dục, nhân dạng giới.
Trên thế giới, những nghiên cứu ở đối tượng nam bán dâm được tiến
hành ở những độ tuổi khác nhau, phổ biến ở nam giới trẻ có độ tuổi trung
bình dao động từ 21 đến 26, đa dạng về trình độ học vấn, và phần lớn chưa
kết hôn, nghề nghiệp đa dạng nhưng chủ yếu là bán dâm.
- Một nghiên cứu trên 259 NBDĐG từ 19-39 ở Hàng Châu, Trung Quốc
đã cho thấy độ tuổi trung bình 21,9, trong đó 61,4% trình độ trung học cơ sở,
đa số chưa kết hôn với tỷ lệ 94,2%, đồng tính 30,2%, tình dục khác giới
12,6%, lưỡng tính 46,2%; 54,1% đối tượng bán dâm chủ yếu thời gian [18].
- Trong nghiên cứu khác ở Ấn Độ trong số 75 NBDĐG với độ tuổi trung
bình 23,3, đa số chưa lập gia đình chiếm tỷ lệ 85%, trình độ trung học phổ
thông trở lên chiếm 55%, khoảng 80% đối tượng có nghề nghiệp chính là bán
dâm [19].
Tại Việt Nam, nhóm NBDĐG cũng có các đặc điểm tương tự, nghiên
cứu năm 2009 tại TP HCM, Hà Nội, Cần Thơ và Hải Phòng cho thấy nhóm
NBDĐG gồm một số lượng đáng kể đến từ tỉnh khác (40,0% - 87,0%) với
nghề nghiệp tương đối đa dạng và mức thu nhập dao động tùy theo tỉnh/thành
lệ cao nhất (42,9%), tiếp đến là đồng tính (37,9%) và dị tính là 19,2% [22].
8
1.3. Tình hình các bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nhóm nam bán
dâm đồng giới
1.3.1. Trên thế giới
Theo UNAIDS [11] thì: ít nhất có từ 5% đến 10% trường hợp nhiễm HIV
trên thế giới là lây truyền qua tình dục đồng giới nam không an toàn và ước tính
số NQHTDĐG chiếm khoảng 2% đến 5% tổng số nam giới trên toàn thế giới.
Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, nhóm NBDĐG là nhóm có tỷ lệ nhiễm
HIV và STIs cao [1].
- Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NBDĐG tại một số quốc gia trên thế giới
dao động từ 3,6% - 33,0% [2],[3],[4],[25]. Như ở Braxin, một nghiên cứu
năm 2008 đã so sánh tỷ lệ nhiễm HIV giữa hai nhóm nam tình dục đồng giới
bán dâm và không bán dâm cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm bán dâm là
13,5%, cao hơn nhiều so với nhóm không bán dâm (5,8%) [4].
- Nghiên cứu khác tại Tây Ban Nha (2009 - 2010) cho thấy 6,0% nhóm
NBDĐG nhiễm ít nhất một STI tại thời điểm hiện tại và một tỷ lệ cao hơn
(33,0%) đã từng mắc STIs [26].
- Ở Victoria, Australia số lượng khai báo mắc bệnh giang mai giai đoạn
đầu ở những người nam giới, mà phần lớn từ nhóm NQHTDĐG, tăng từ 119
vào năm 2005 lên 373 vào năm 2008. Tương ứng, tỉ lệ mắc giang mai giai
đoạn đầu là 23% và 40%. 46% những người đàn ông được chẩn đoán mắc
bệnh giang mai giai đoạn sớm có HIV dương tính vào năm 2008 [27].
- Các báo cáo gần đây về bệnh giang mai trong nhóm NQHTDĐG được
đặc trưng bởi tỉ lệ đồng nhiễm HIV và hành vi tình dục có nguy cơ cao
[5],[6]. Tại California, 1489 trường hợp mắc giang mai tiên phát và thứ phát
đã được báo cáo trong năm 2005, tăng hơn 700% so với năm 1999. 79% là
NQHTDĐG, và trong số này, 61% trường hợp đa số tự báo cáo bị nhiễm HIV
- 2008 cho kết quả 2,1% NBDĐG tham gia nghiên cứu nhiễm HIV, tỷ lệ
10
nhiễm ít nhất một STI là 26,0% [23]. Nghiên cứu tại TP HCM năm 2010 cho
thấy, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm NBDĐG là 6,3%, nhiễm giang mai là
4,0%, nhiễm chlamydia là 2,0%, lậu là 2,0%, viêm gan B là 24,3% và viêm
gan C là 4,0% [24].
1.4. Tình hình thực trạng tiếp cận sử dụng dịch vụ y tế ở nhóm nam bán
dâm đồng giới
1.4.1. Trên thế giới
Trên thế giới, nhiều nơi tình dục đồng giới nam vẫn chịu sự kì thị mạnh
mẽ, vẫn có nơi chưa được pháp luật công nhận, sự quan tâm của xã hội đặc
biệt là y tế còn hạn chế.
Việc tiếp cận dịch vụ xét nghiệm HIV ở nhóm NBDĐG trong các nghiên
cứu trên thế giới nhìn chung đều thấp và dưới 50% [7],[8],[30],[9] .Tỷ lệ này
ở Shenzhen, China chiếm 43% và những NBDĐG có bạn tình QHTD qua
đường hậu môn nhiều và có nhiều đối tác được báo cáo có một tỷ lệ xét
nghiệm HIV cao hơn [8]. Tại Jakarta, Indonesia, ít hơn 3,0% nhóm NBDĐG
đã từng xét nghiệm HIV tự nguyện mặc dù có tới 28,0% NBDĐG tiếp xúc với
các chương trình dự phòng trong năm qua [30]. Thậm chí, một nghiên cứu tại
thành phố Larkana, Parkistan cho thấy 100% NBDĐG được hỏi trả lời chưa
từng đi xét nghiệm sàng lọc HIV, trong số này có đến 65% người được hỏi
không biết đến trung tâm sức khỏe y tế của chính phủ, nơi họ có thể đến điều
trị STIs và làm xét nghiệm sàng lọc HIV [7]. Ở Mỹ cũng chỉ khoảng 50% đối
tượng đã từng làm xét nghiệm HIV [9].
Phần lớn đối tượng NBDĐG còn rất hạn chế trong việc tiếp cận DVYT
chung. Đa số họ không tìm đến các CSYT mà chủ yếu tự điều trị cho bản
thân. Như tại Jakarta, Indonesia 44,9% đối tượng NBDĐG đã tìm kiếm
DVYT khi có triệu chứng STIs, gần 50% (48,2%) tự điều trị [30]. Cũng về
NQHTDĐG, và các đồng đẳng trong các nhóm tự lực của NQHTDĐG không
dễ dàng tiếp cận với hệ thống mạng lưới của họ [34].
12
Vào năm 2009, nhóm nghiên cứu Đại học y Hà Nội và Viện Nghiên
cứu và Phát triển quốc gia Hoa Kỳ với sự tài trợ của Viện Nghiên cứu Quốc
gia về Lạm dụng Ma túy của Hoa Kỳ (NIDA) tiến hành nghiên cứu ở 710 đối
tượng tại 3 thành phố (Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Nha Trang) nhằm
thu thập những thông tin về đặc điểm dịch tễ của nhóm NBDĐG. Kết quả cho
thấy chỉ có khoảng 1/3 (36%) đã từng đến khám tại các CSYT trong 1 năm
gần đây. Tỷ lệ xét nghiệm dương tính với STIs rất cao trong đó có 19% nhiễm
HPV, 13% nhiễm Lậu, 12% nhiễm Chlamydia, 14% nhiễm HBV. Trong khi
đó tỷ lệ báo cáo đã từng được chẩn đoán với STIs chỉ khoảng 5%, điều này
cho thấy việc đi khám xét nghiệm STIs chỉ xảy ra khi có triệu chứng. Tỷ lệ đã
được tiêm phòng vacxin HBV hay HPV thấp và tỷ lệ biết về những loại virus
này hoặc là biết về vacxin dự phòng rất thấp [35].
Trong nghiên cứu về vai trò của DVYT nói chung trong tăng cường xét
nghiệm HIV ở nhóm NBDĐG [10].
- Trong tổng số 654 NBDĐG trong 30 ngày qua ở Hà Nội, Nha Trang,
thành phố Hồ Chí Minh, thì tỷ lệ được xét nghiệm HIV trong vòng 2 năm qua
là 17,9%. Có 50,6% số người tham gia có khám sức khỏe tổng quát trong
vòng một năm qua, số còn lại chưa từng khám sức khỏe tổng quát hoặc đã
khám hơn một năm qua. Có 17,9% số người tham gia đã từng trao đổi với
NVYT về QHTDĐG của họ [10].
- Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ NBDĐT có xét nghiệm HIV trong vòng 2
năm qua ở mức khá thấp, dưới 18% trong mẫu nghiên cứu. Trong số những
người được xét nghiệm HIV, có tới trên 60% là ở thành phố Hồ Chí Minh.
Kết quả tại thành phố Hồ Chí Minh tương đồng với một nghiên cứu trước đó
cho thấy tỷ lệ xét nghiệm cao và có xu hướng tăng lên, từ 37% năm 2009 đến
từng xét nghiêm HIV [38].
14
1.5. Một số yếu tố liên quan đến thực trạng sử dụng dịch vụ y tế ở nhóm
nam quan hệ tình dục đồng giới
1.5.1. Kiến thức
NQHTDĐG thường thiếu kiến thức về HIV thậm chí nhiều người còn hiểu sai
về những nguy cơ đi liền với tình dục không an toàn giữa nam và nam.
- Một niềm tin rất phổ biến trong những người NQHTDĐG là HIV không lây
truyền trong những người trông khỏe mạnh [11].
- Trong số 423 NQHTDĐG tham gia một khảo sát được thực hiện ở
Myanmar, cho thấy, mặc dù có kiến thức và nhận thức về HIV cao nhưng
90% người tin rằng họ không có nguy cơ lây nhiễm [11].
- Ở Việt Nam, nghiên cứu trên 110 NBDĐG tại Hà Nội cho thấy đối
tượng có kiến thức về HIV thấp chiếm 12%, trung bình 65%, cao 23%. Ít hơn
một nửa (42%) nghĩ rằng họ có nguy cơ bị lây nhiễm HIV, trong khi 37% cho
rằng họ không có rủi ro, với 21% là không chắc chắn [38].
Sự thiếu hiểu biết hoặc thông tin sai về HIV mà những người nam có
QHTDĐG không an toàn. Hơn nữa số lượng bạn tình cao, việc sử dụng BCS
thấp dẫn đến việc lây lan STIs cao trong nhóm này và cho đối tượng khác.
1.5.2. Sự kỳ thị
Sự kỳ thị đã cản trở việc hoạch định cũng như việc tác động đến đối
tượng mắc STIs nói chung và HIV nói riêng ở nhóm NQHTDĐG và thực tế
đã cho thấy:
- Mặc dù tỷ lệ cao mắc HIV trong nhóm NQHTDĐG cao, nhưng Mỹ đã
rất chậm chạp trong việc giải quyết các dịch bệnh một cách có chiến lược.
Phải mất 30 năm công tác vận động cộng đồng trước khi Mỹ công bố một
chiến lược quốc gia phòng ngừa và chăm sóc HIV/AIDS [39].
- Theo UNAIDS, một cuộc khảo sát tiến hành năm 2006 cho thấy ở 16
2.2. Đối tượng nghiên cứu
Là nam có QHTD bán dâm đồng giới tại Hà Nội.
- Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng vào nghiên cứu
+ Nam giới tuổi từ 16 đến 29.
+ Sống tại Hà Nội ít nhất 1 tháng qua.
+ Có hành vi QHTD miệng hoặc hậu môn với một nam giới khác
trong vòng 90 ngày qua mà trong mối quan hệ đó có sự mong đợi
một phần hay toàn bộ về mặt vật chất hoặc sự đền bù (gồm có tiền,
ma túy, chỗ ở, quần áo, quà tặng hoặc các trao đổi có giá trị kinh tế
khác) để trao đổi với việc QHTD.
- Tiêu chuẩn loại trừ
+ Không hợp tác.
+ Không đủ tiêu chuẩn lựa chọn vào nghiên cứu.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, với mục đích nhằm mô tả thực trạng và một số
yếu tố liên quan đến tiếp cận DVYT trên nhóm này tại thời điểm nghiên cứu.
17
2.3.2. Cỡ mẫu nghiên cứu
Áp dụng công thức
n=
Z (21 / 2)
p (1 p )
d2