1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thừa cân - béo phì (TC-BP) được biết đến như là một vấn đề sức khỏe
cộng đồng quan trọng ở nhiều nước công nghiệp phát triển, làm tăng tỉ lệ tử
vong và nguy cơ mắc các bệnh mạn tính không lây như: đái tháo đường, tăng
huyết áp, bệnh tim mạch và ung thư. Năm 2000, Tổ chức Y tế Thế giới xuất
bản chuyên khảo “Béo phì - nạn dịch toàn cầu”[59], trong đó đã đưa ra những
cảnh báo quan trọng về dịch tễ học, gánh nặng về sức khỏe, bệnh tật. Không
chỉ ở các nước Đông Âu, Tây Âu, Bắc Mỹ và Nam Mỹ - nơi tỷ lệ béo phì ở
người trưởng thành dao động từ 13% đến trên 20% mà ngay cả ở những nước
đang phát triển, thì TC-BP cũng đang có xu hướng tăng nhanh. Các điều tra
gần đây ở Thái Lan cho thấy tỉ lệ TC-BP là 16%. Tỉ lệ béo phì ở Ấn Độ,
Malaysia và Trung Quốc tương ứng là 16,5%; 8,6% và 4,3%[47]. Béo phì
không chỉ do chế độ ăn uống thiếu khoa học (mất cân bằng với nhu cầu cơ
thể) mà còn do những yếu tố có liên quan (giảm hoạt động thể lực, stress, ô
nhiễm môi trường và cả những vấn đề xã hội...). Béo phì ở trẻ em dễ dẫn tới
những ảnh hưởng nặng nề về tâm lý ở trẻ như tự ti, nhút nhát, kém hòa đồng,
học kém [17][19].
Ở Việt Nam, các cuộc điều tra nhân khẩu học trước năm 1995 cho thấy tỉ
lệ TC-BP hầu như không có [6]. Năm 2000 điều tra tại các thành phố lớn thì tỉ
lệ TC - BP ở lứa tuổi học sinh tiểu học Hà Nội là 10%, thành phố Hồ Chí
Minh là 12%. Khảo sát tại hai thành phố này đều cho thấy có hiện tượng gia
tăng tỉ lệ TC-BP ở trẻ lứa tuổi nhà trẻ, mẫu giáo và học sinh tiểu học[15].
Thành phố Hải Dương nằm ở vị trí trung tâm tỉnh Hải Dương, với diện
tích 7.138,60 ha; dân số 253.893 người (2009), trong đó có 19.148 trẻ trong
độ tuổi tiểu học (chiếm 7,5%), lại chưa có nhiều nghiên cứu khảo sát về tỷ lệ
TC - BP và tìm hiểu các yếu tố liên quan. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên
2
lao động cụ thể, mỗi trạng thái sinh bệnh lý của cơ thể… cần phải có một chế
độ dinh dưỡng phù hợp. Hiện nay, hơn bao giờ hết khi điều kiện kinh tế xã
hội ngày càng phát triển thì vấn đề dinh dưỡng ngày càng được quan tâm.
1.2.
Các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng
Tình trạng dinh dưỡng là tập hợp các đặc điểm chức phận, cấu trúc và
hoá sinh phản ánh mức đáp ứng các nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể[25]. Đánh
giá dinh dưỡng là quá trình thu thập và phân tích thông tin, số liệu về tình
trạng dinh dưỡng và nhận định tình hình trên cơ sở các thông tin số liệu đó.
Một số phương pháp định lượng chính được sử dụng trong đánh giá tình trạng
dinh dưỡng như[18],[2]:
+ Nhân trắc học
+ Điều tra khẩu phần và tập quán ăn uống
4
+ Các thăm khám thực thể / dấu hiệu lâm sàng, xét nghiệm cận lâm
sàng chủ yếu là hóa sinh ở dịch thể và các chất bài tiết (máu, nước tiểu...) để
phát hiện mức bão hòa chất dinh dưỡng.
+ Các kiểm nghiệm chức phận để xác định các rối loạn
+ Điều tra tỉ lệ bệnh tật và tử vong, sử dụng các thống kê y tế để tìm
hiểu mối liên quan giữa tình hình bệnh tật và tình trạng dinh dưỡng.
+ Đánh giá các yếu tố sinh thái liên quan đến tình trạng dinh dưỡng và
sức khỏe.
Trong đó, hai phương pháp thường sử dụng nhiều nhất là nhân trắc và
điều tra khẩu phần ăn mà các số đo nhân trắc là các chỉ số đánh giá trực tiếp
tình trạng dinh dưỡng[40].
năm 1990, tỷ lệ BP ở trẻ từ 6 - 12 tuổi tăng từ 12% lên 16 % chỉ trong vòng 2
năm [46]. Béo phì ở trẻ em đã trở thành vấn đề sức khoẻ ưu tiên thứ hai trong
phòng chống bệnh tật ở các nước châu Á và được xem như là một trong
những thách thức đối với ngành dinh dưỡng và y tế[51].Đây là nhân tố tác
động lớn đến chất lượng dân số của quốc gia vì tác động trực tiếp đến thế hệ
tương lai của đất nước.
1.3.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, TC - BP đang tăng nhanh và trở thành vấn đề sức khoẻ
cộng đồng của thế kỷ XXI. Điều tra toàn quốc ở đối tượng từ 25 - 64 tuổi tại 8
vùng sinh thái năm 2005 thấy tỷ lệ TC, BP (BMI >23) là 16,3%, trong đó
9,7% thừa cân; 6,2% béo phì độ I và 0,4% béo phì độ II. Tỷ lệ BP gia tăng
theo tuổi, ở nữ cao hơn ở nam, thành thị cao hơn ở nông thôn. Các yếu tố liên
quan đến thừa cân, béo phì là khẩu phần ăn giàu thức ăn động vật, thói quen
ăn ở ngoài gia đình, tăng sử dụng thức ăn nhanh, lạm dụng rượu, bia và ít vận
động[3].
Tỷ lệ bị thừa cân béo phì ở trẻ dưới 5 tuổi là 5,6%, trong đó ở thành
phố là 6,5%, ở nông thôn là 4,2%. Ước tính cả nước có khoảng 460.000 trẻ
trong độ tuổi này bị thừa cân, béo phì. Điều đáng lo ngại là tỷ lệ trẻ TC-BP ở
trẻ dưới 5 tuổi đang có xu hướng gia tăng nhanh, từ năm 2000 đến nay, tỷ lệ
6
này đã tăng lên gần 10 lần (năm 2000 chỉ có khoảng 0,62% trẻ bị thừa cân,
béo phì).
Tại Hà Nội, điều tra cắt ngang 3.434 trẻ 6-11 tuổi tại 2 trường tiểu học
Hà Nội năm 1997 của Lê Thị Hải và cộng sự xác định tỉ lệ TC chung là
4,1%[34]. Năm 2011, Trịnh Thị Thanh Thủy nghiên cứu trẻ 6-11 tuổi tại quận
Đống Đa, Hà Nội và có kết quả tỉ lệ TC - BP là 12,9%; trẻ trai là 17,9% và trẻ
gái là 7,4%[28]. Năm 2000, tỷ lệ TC ở học sinh từ 6 -11 tuổi tại quận Hồng
chức mỡ tới mức ảnh hưởng xấu đến sức khỏe. Có nhiều chỉ số có thể dùng
để đánh giá tình trạng TC - BP. Dựa theo cách phân loại của P.S.Shetty và
W.P.T.James và được tổ chức WHO khuyến nghị như sau:
Bảng 1.1 : Phân loại TTDD dựa theo thang phân loại của WHO
Tình trạng dinh dưỡng
Chỉ số BMI
Thiếu năng lượng trường diễn
BMI < 18,5
Bình thường
18,5 ≤ BMI < 25
Thừa cân
BMI ≥ 25
Tiền béo phì
25 ≤ BMI < 30
Béo phì độ I
30 ≤ BMI < 35
Béo phì độ II
BMI
40
Bảng1.3: Phân loại TTDD ở trẻ em 5 - 19 tuổi (theo WHO 2007)
BMI theo tuổi
Tình trạng dinh dưỡng
thức ăn được chuẩn bị ở nhà. Người dân Mỹ thường ăn ở nhà hàng có xu
hướng BMI cao hơn những người ăn ở nhà và có tới 30 - 70% số trẻ em Mỹ
có sử dụng thức ăn nhanh tại các nhà hàng. Những người thường ăn ở ngoài
nhiều làm tăng tiêu thụ thức ăn đậm độ năng lượng cao hơn khi ăn ở
nhà[34],[57].
Một số nghiên cứu ở Việt Nam lứa tuổi học đường cho thấy những trẻ hay
ăn bữa phụ nhất là vào buổi tối dễ mắc béo phì [6], [34], [41], [50].
10
1.5.3. Hoạt động thể lực và béo phì:
Tình trạng thừa năng lượng của trẻ không chỉ do khẩu phần ăn quá
nhiều mà còn do tình trạng không tham gia các hoạt động thể lực, thời gian
xem vô tuyến nhiều đã làm giảm tiêu hao năng lượng ở trẻ và tăng nguy cơ
mắc TC - BP ở lứa tuổi này[58].
Ngày nay xã hội càng phát triển, chương trình tivi dành cho trẻ em càng
đa dạng và hấp dẫn, số giờ phát sóng lại liên tục trong ngày do đó trẻ càng có
nhiều cơ hội tiếp cận với tivi[43]. Xem tivi thường kèm với ăn vặt và bản chất
các thức ăn này thường giàu calo. Vì vậy, xem tivi là sự kết hợp của tăng
lượng ăn vào và giảm lượng tiêu hao ở trẻ.
Hoạt động và vận động của cơ thể gồm 2 phần khác nhau:
- Vận động hàng ngày (làm việc và sinh hoạt).
- Vận động tích cực (tập luyện thể dục thể thao).[37]
Trẻ em hoạt động thể lực nhiều thì càng có cơ thể khoẻ mạnh sẽ ít liên
quan đến tăng huyết áp nhất là trẻ dưới 5 tuổi và càng có ít nguy cơ trở thành
béo phì khi lớn. Nếu hoạt động thể lực được duy trì thường xuyên trong suốt
cuộc đời thì việc tăng khối mỡ có thể bị ngăn chặn[57][58].
1.5.4. Các yếu tố tăng trưởng của cơ thể
Cả 2 thể: tăng kích thước của tế bào mỡ và tăng số lượng tế bào mỡ đều
vì vậy không thể coi việc ăn nhiều thịt, mỡ mới gây béo mà ăn quá nhiều chất
bột, đường và đồ ngọt đều có thể gây béo phì.
Các hành vi ăn uống có liên quan tới TC - BP bao gồm tần suất ăn/ăn vặt,
khẩu phần ăn quá dư thừa, ăn uống nhậu nhẹt, ăn thức ăn nhanh ở bên ngoài và
vấn đề bú sữa mẹ hoàn toàn. Các yếu tố chất dinh dưỡng được nghiên cứu bao
gồm chất béo, các loại carbohydrat (bao gồm các loại carbohydrat tinh chế như
đường), chỉ số đường huyết của thực phẩm và chất xơ [20].
12
Cân bằng năng lượng
Năng lượng ăn vào
Năng lượng tiêu hao
Chất béo
Hoạt động thể lực
Glucid
Tiêu hoá thức ăn
Protein
Chuyển hoá cơ bản
Tăng cân
buồng trứng đa nang khi trưởng thành.
Những nghiên cứu gần đây ở Mỹ về TC ở thanh thiếu niên đã chỉ ra:
Trẻ có cân nặng/chiều cao cao, hay BMI cao có nguy cơ gia tăng đối với một
số bệnh mãn tính ở người lớn và nguy cơ tử vong tăng. Các nghiên cứu theo
chiều dọc cũng cho thấy BMI tăng ở thanh thiếu niên sẽ dự đoán xảy ra sớm
những nguy cơ của các bệnh mãn tính và BP khởi phát sớm có ảnh hưởng lớn
đến bệnh tim mạch hơn là khởi phát muộn[17][34]61].
1.8.
Các hoạt động phòng chống thừa cân, béo phì ở trẻ em
Chiến lược Quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011 - 2020 cần triển khai
các giải pháp can thiệp đặc thù cho các vùng miền và các nhóm đối tượng cụ
thể. Trong đó chú trọng đến vấn đề suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em, góp
phần nâng cao tầm vóc của người Việt Nam. Đồng thời, phải kiểm soát tình
trạng thừa cân béo phì để hạn chế sự gia tăng các bệnh mãn tính không lây
liên quan đến dinh dưỡng.
Đẩy mạnh công tác TT- GDSK là biện pháp quan trọng giúp mọi người
dân có kiến thức về sức khỏe, bảo vệ và nâng cao sức khỏe, từ đó có cách
nhìn nhận vấn đề sức khỏe đúng đắn và hành động thích hợp vì sức khỏe [15].
Giáo dục sức khỏe ở trường học có tác động rất lớn đến hình thành các
hành vi sức khỏe, lối sống lành mạnh cho học sinh. Giáo dục ở thời kỳ này dễ
đem lại hiệu quả cao, nó không chỉ tác động đến các em học sinh mà thông
qua các em tác động đến những người xung quanh, như những người trong
14
gia đình, cộng đồng xã hội. Mỗi học sinh có thể trở thành nhân tố tích cực
như một nhà “giáo dục sức khỏe tự nguyện” trong cộng đồng [34].
2.2.2. Cỡ mẫu và chọn mẫu
* Cỡ mẫu cho điều tra:
p x (1-p)
n = Z21-α/2
2
Trong đó:
- n: Cỡ mẫu tối thiểu cần nghiên cứu
- Z1-α/2: với α = 0,05 thì Z1-α/2 = 1,96.
- p: Tỷ lệ thừa cân của trẻ ước tính = 10,4% [41]
- : Sai số cho phép = 0,03.
Áp dụng công thức ta tính được n=412, nhân hệ số 2 để tăng độ tin cậy.
Vậy cỡ mẫu tối thiểu cần thiết cho nghiên cứu này là 824 trẻ.
*Cách chọn mẫu:
- Giai đoạn 1: Chọn trường tiểu học:
Thành phố Hải Dương hiện có 21 đơn vị hành chính bao gồm 17
phường và 4 xã trong đó 5 phường nằm ở trung tâm thành phố, 10 phường
nằm ở gần trung tâm và 6 xã, phường còn lại nằm ở ngoại vi thành phố.
Chọn 3 trường tiểu học thuộc 3 phường đại diện cho 3 khu vực kinh tế
chính của thành phố bao gồm 1 trường tại trung tâm thành phố (trường tiểu học
16
Tô Hiệu), 1 trường không nằm trong trung tâm (trường tiểu học Trần Quốc
Toản) và 1 trường nằm gần ngoại vi thành phố (trường tiểu học Ngọc Châu).
- Giai đoạn 2: Chọn lớp học:
Hình 2.1 - Sơ đồ chọn mẫu
Đo
Thước đứng
Tuổi của trẻ
Phỏng vấn
phụ huynh
Phiếu điều tra
Thứ tự sinh của trẻ
Phỏng vấn
phụ huynh
Phiếu điều tra
Cân nặng khi sinh của trẻ
Phỏng vấn
phụ huynh
Phiếu điều tra
Đặc điểm hộ gia đình
Phỏng vấn
phụ huynh
Phỏng vấn
phụ huynh
Phiếu điều tra
Điều kiện kinh tế gia đình của trẻ
Phỏng vấn
phụ huynh
Phiếu điều tra
Thái độ với bệnh béo phì khi trẻ bị
béo phì
Phỏng vấn
phụ huynh
Phiếu điều tra
Thói quen ăn uống của trẻ
Phỏng vấn
phụ huynh
Phiếu điều tra
Sở thích ăn uống của trẻ
Phỏng vấn
Phiếu điều tra
Phỏng vấn
phụ huynh
Phiếu điều tra
Truyền thông dinh dưỡng của phụ
huynh đối với trẻ
2.4. Phương pháp thu thập thông tin
2.4.1. Công cụ thu thập số liệu
* Cân:
- Sử dụng cân điện tử Seca 770 (độ chính xác 0,1kg).
-
Đơn vị đo cân nặng là kg, kết quả được ghi với 1 số lẻ. Ví dụ: 35,4kg.
19
-
Kỹ thuật cân:
Khi cân, trẻ, phụ huynh chỉ mặc quần áo gọn nhất và trừ bớt cân
nặng trung bình của quần áo khi tính kết quả.
Cân được kiểm tra và chỉnh trước khi sử dụng, sau đó cứ cân
khoảng 10 trẻ lại kiểm tra và chỉnh cân 1 lần.
Đối tượng đứng giữa bàn cân, không cử động, mắt nhìn thẳng, trọng
lượng phân bổ đều cả hai chân. Cân được đặt ở vị trí ổn định và
9 tuổi: 108 tháng (8 năm 11 tháng 30 ngày)
10 tuổi: 120 tháng (9 năm 11 tháng 30 ngày)
20
2.4.2. Phương pháp thu thập số liệu
Phỏng vấn trực tiếp: Sử dụng bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn để thu thập các
thông tin khác nhau về: kiến thức về bệnh béo phì, một số thông tin về gia
đình học sinh, phỏng vấn điều tra phụ huynh về khẩu phần ăn của trẻ. Mỗi đối
tượng được phỏng vấn trong khoảng 20-30 phút
- Phần kiến thức về bệnh béo phì bao gồm:
+ Kiến thức của học sinh về béo phì.
+ Thói quen ăn uống, hoạt động thể lực của học sinh.
- Phần thông tin về gia đình học sinh: sử dụng bộ câu hỏi thiết kế sẵn để
phỏng vấn phụ huynh học sinh nhằm thu nhận các thông tin về gia đình học sinh.
- Phỏng vấn điều tra phụ huynh về khẩu phần ăn của trẻ em :
Người điều tra hỏi và ghi lại toàn bộ các loại lương thực, thực phẩm
mà trẻ sử dụng một cách chính xác theo các bữa.
Đánh giá tình trạng béo phì của trẻ:
Gần đây Tổ chức Y tế thế giới khuyên dùng “chỉ số khối cơ thể” (Body
Mass Index - BMI) trước đây gọi là chỉ số Quetelet, để nhận định về tình
trạng dinh dưỡng:
Cân nặng (kg)
BMI =
(Chiều cao)2 (m)
BMI
Việc thu thập các chỉ số nhân trắc nhiều khi không được thực hiện
đúng thường quy.
22
2.5.2. Cách khắc phục các sai số:
- Đánh giá thử trước khi tiến hành nghiên cứu từ đó thiết kế bộ câu hỏi
dễ hiểu, không phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan của người hỏi và
người trả lời.
- Tập huấn kỹ cho các cộng tác viên, thống nhất cách thu thập số liệu.
- Xây dựng, triển khai tốt hệ thống giám sát…tuân thủ các nguyên tắc
điều tra tại cộng đồng.
2.6. Phương pháp xử lý số liệu:
- Số liệu điều tra được nhập 2 lần sử dụng phần mềm Epidata3.1 và được
kiểm tra lỗi, làm sạch.
- Số liệu được chuyển vào phân tích trên phần mềm SPSS16.0.
- Các giá trị biến định lượng được trình bày dưới dạng giá trị trung bình
và độ lệch chuẩn, các giá trị biến định tính được trình bày dưới dạng
tần suất và tỷ lệ.
- Tính toán giá trị OR và khoảng tin cậy 95% để đánh giá mối liên quan
giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc. Sự khác biệt được coi là
ngưỡng ý nghĩa thống kê khi p
Ngọc Châu
358
38,3
Tô Hiệu
338
36,2
Trần Quốc Toản
238
25,5
Tổng cộng
934
100.0
Nhận xét: Tổng số học sinh nghiên cứu tại 3 trường tiểu học trên địa bàn
thành phố Hải Dương là 934 học sinh. Số lượng học sinh tại các trường được
lựa chọn vào nghiên cứu là: trường Ngọc Châu 358 học sinh chiếm 38,3%;
trường Tô Hiệu 338 học sinh chiếm 36,2%; trường Trần Quốc Toản 238 học
sinh chiếm 25,5%.
1,1
4
0,9
9
1,0
7 tuổi
84
17,8
95
20,6
179
19,2
8 tuổi
87
18,4
44,2
410
43,8
Tổng số
472
50,5
462
49,5
934
100
Nhận xét: Phân bố học sinh được lựa chọn vào nghiên cứu theo nhóm tuổi
nhiều nhất là 10 tuổi 43,8%; sau đó đến 7 tuổi 19,2%; 8 tuổi 18,2%; 9 tuổi
17,9% , 6 tuổi 1,0%.
Hình 3.1: Phân bố học sinh theo độ tuổi và giới