PHẦN 1 : MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta có nhiều biến chuyển quan
trọng gây ảnh hưởng rất lớn đến sự biến đổi của gia đình trong đó có việc học tập
của con cái. Việc chuyển đổi nền kinh tế đã góp phần cải thiện cuộc sống của người
dân, đồng thời góp phần nâng cao nhận thức của người dân về tầm quan trọng của
việc giáo dục trong đó giáo dục gia đình đóng vai trò chủ đạo. Chúng ta có thể thấy
hiện nay các gia đình hạt nhân ở Hà Nội ngày càng có nhiều điều kiện hơn trong
việc đầu tư cho con học. Thực tế hiện nay cho thấy hầu hết trẻ em đều được học
hành ở những trường có uy tín, chất lượng cao, các em được đọc nhiều sách báo, có
nhiều cơ hội học tập hơn….
Sự phát triển không ngừng của xã hội đòi hỏi mỗi gia đình ngày càng phải
đầu tư hơn nữa cho việc học tập của con cái. Song do cuộc sống khá bận rộn, các
bậc cha mẹ luôn phải lo lắng cho việc đảm bảo cuộc sống gia đình, do vậy họ ít có
thời gian trực tiếp theo dõi, liên hệ với nhà trường và giáo viên chủ nhiệm về tình
hình học của con hay quản lý xem con cái mình học ra sao. Chính sự hạn hẹp về
thời gian nên các bậc cha mẹ ít có điều kiện để dạy con học cũng như đốc thúc con
trong quá trình học tập. Giải pháp hữu hiệu được các gia đình lựa chọn là đầu tư rồi
phó mặc việc học tập của con cái cho nhà trường cho những trung tâm có uy tín,
thậm chí là phó mặc cho gia sư dạy kèm. Chính vì sự phó mặc ấy mà hiệu quả đầu
tư cho việc học tập của con cái là không cao. Tình trạng học của các em trở nên bị
qúa tải so với lứa tuổi cũng như thời gian mà các em có, một số trường hợp sức ép
của việc học quá nhiều nên đã trốn học bỏ đi chơi, hay tình trạng lười suy nghĩ, phụ
thuộc qúa nhiều vào gia sư….
Và như vậy đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “ Giáo dục nhà trường
dù có tốt đến mấy, thiếu giáo dục gia đình và ngoài xã hội thì kết qủa cũng không
hoàn toàn”. Gia đình không phải là môi trường sư phạm duy nhất đối với việc học
tập của con cái, song nó có tính chất quyết định đối với quá trình học tập của con
em. Mối liên hệ giữa nhà trường và các bậc cha mẹ là mối quan hệ mật thiết để trẻ
có được kết quả học tập cao, đạo đức tốt. Nền giáo dục nói chung của gia đình đầy
đủ, hoàn thiện bao nhiêu thì xã hội càng được tiếp nhận thêm những cá nhân có
cao vai trò của cha mẹ trong việc đầu tư cho quá trình học tập của con cái.
4. Đối tượng- khách thể- phạm vi- mẫu nghiên cứu
4.1. Đối tượng : “ Nghiên cứu thực trạng của việc quan tâm dầu tư về vật
chất, tinh thần và thời gian của bố mẹ vào việc học hành của con cái”
4.2. Khách thể nghiên cứu: Là các bậc cha mẹ và con cái đang ở độ tuổi học
phổ thông ở Hà Nội hiện nay.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung tìm hiểu sự quan tâm đầu tư của cha mẹ vào việc học tập của
con cái chứ không bàn đến vai trò của gia đình nói chung
Đề tài giới hạn phạm vi địa bàn nghiên cứu ở Hà Nội tức là thu thập khảo sát
các gia đình hạt nhân( Có bố mẹ và con cái) hiện đang sinh sống tại Hà Nội có con
cái đang đi học phổ thông.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Trên quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, duy vật biện chứng
của chủ nghĩa Mác- Lênin và hoàn cảnh cụ thể của lịch sử Việt Nam Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã nói : Muốn có chủ nghiã xã hội, trước hết phải có con người xã hội
chủ nghĩa. Giáo dục học sinh, sinh viên lòng yêu nước xã hội chủ nghĩa, có bản
lĩnh vững vàng, có tư duy sáng tạo, có ý chí học tập, lập thân, lập nghiệp vững vàng
bước vào thế kỷ mới.
Phát triển giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội của Nhà nước và của từng
gia đình. Mỗi công dân kết hợp tốt giáo dục học đường với giáo dục gia đình, giáo
dục xã hội, xây dựng quy mô giáo dục lành mạnh, phát triển phong trào học tập.
Lý thuyết hành động xã hội: Theo quan niệm của Weber : Hành động xã hội
là một hành động được chủ thể gán cho nó một ý nghĩa chủ quan nào đó, là hành
động có tính đến hành vi của người khác. Do vậy, được định hướng tới người khác.
Weber phân làm 4 loại hành động
+ Hành động hợp lý về mặt công cụ : là loại hành động được thực hiện với
sự cân nhắc, tính toán lựa chọn công cụ hợp lý sao cho nó có hiệu qủa nhất.
+ Hành động hợp lý về mặt giá trị : là loại hành động được thực hiện bởi bản
chúng tôi sử dụng để tìm hiểu sâu hơn về việc đầu tư của cha mẹ đối với vấn đề học
tập của con cái trong các hộ gia đình ở Hà Nội.
5.2.3. Phương pháp quan sát :
Chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm kiểm tra thông tin thu được thông
qua qúa trình hỏi với hành vi của người được hỏi có phù hợp không, để từ đó thấy
được mối liên hệ về hành vi ứng xử của đối tượng nghiên cứu. Qua quá trình quan
sát chúng tôi thấy được phần lớn các bậc cha mẹ ở Hà Nội hiện nay có xu hướng
đầu tư về vật chất cho việc học tập của con cái song họ lại có rất ít thời gian dành
cho việc hướng dẫn con học.
Tóm lại hệ thống thông tin và kỹ thuật thu thập qua việc quan sát, phân tích
tài liệu, phỏng vấn sâu cá nhân được chúng tôi lựa chọn, do thời gian có hạn nên
nghiên cứu chỉ sử dụng 3 cách thu thập thông tin trên. Bên cạnh đó do tính khó tiếp
cận với đối tượng nghiên cứu nên số lượng đối tượng nghiên cứu không lớn, nhưng
chúng tôi vẫn cố tìm hiểu sâu kỹ nhiều chiều với những đối tượng như trên. Các kết
luận từ thông tin thu được mới chỉ đảm bảo thông tin về vấn đề của một địa bàn cụ
thể và chưa mang tính phổ quát cho Hà Nội cụ thể. Do lượng thông tin thu được ít
nhưng chúng tôi vẫn chú trọng chất lượng của thông tin thu được.
6. Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết.
6.1.Giả thuyết nghiên cứu
Do hiểu rõ được tầm quan trọng của tri thức đối với sự phát triển của xã hội nên
hiện nay các bậc cha mẹ ngày càng đầu tư về vật chất và thời gian cho con học
nhiều hơn.
Trong điều kiện kinh tế thị trường như hiện nay, do quá bận rộn với công việc
nên các bậc cha mẹ ít có thời gian quản lý, theo dõi quá trình học tập của con
cái.
Đầu tư nhiều nhưng kết quả mà con cái đạt đựơc không đúng như kỳ vọng mà
bố mẹ đạt ra.
6.2. Khung lý thuyết
Sự quan tâm đầu tư của
Sự
đầu tư
về vật
chất
Điều kiện kinh tế thị
trường
Kết quả học tập của con
cái
PHẦN II : NỘI DUNG CHÍNH
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu, các khái niệm công cụ.
1.Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Từ lâu chủ đề gia đình đã trở thành mối quan tâm của toàn thế giới. Ngày này
với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và của nền kinh tế thị trường đã gây ảnh
hưởng rất lớn đến sự tồn tại, phát triển của từng gia đình. Vì vậy Đại hộ đồng LHQ
đã lấy 1994 là năm quốc tế về gia đình chủ đề “Gia đình – các nguồn nhân lực và
các trách nhiệm trong thế giới đang thay đổi” đã là hướng nghiên cứu cơ bản để
tìm hỉêu vấn đề mối liện hệ gia đình và sự phát triển. Nổi bật là vai trò của cha mẹ
hay nói một cách chung nhất là vai trò của gia đình trong sự phát triển ở Việt Nam,
các nghiên cứu về gia đình, và giáo dục gia đình đã có từ lâu và đứơc cọi trọng. Có
nhiều cơ quan và trung tâm nghiên cứu về gia đình và phụ nữ quan tâm để ý vấn đề
này.
Năm 1994 Trung tâm nghiên cứu khoa học về phụ nữ ( Nay là trung tâm
nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ nữ ) đã hoàn thành đề tài nghiên cứu “Vai
trò của gia đình trong sự hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam”
mã số KX07-09
Cùng rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề gia đình và giáo dục gia đình
thông qua các bài viết vắn tắt. Nội dung của vấn đề này chúng ta có thể điểm qua
như sau :
Bài viết của Mạc Văn Trang nói về khuynh hướng sai lệch trong giáo dục gia
I. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Vài nét về đặc điểm tình hình kinh tế-văn hoá xã hội của thành phố Hà
Nội.
1.1. Điều kiện địa lý và đặc điểm dân số Hà Nội
Hà Nội là thủ đô đồng thời là thành phố lớn thứ hai của Vịêt Nam, diện tích
toàn thành phố Hà Nội chưa đến 1000km2 trong đó khu vực trung tâm chưa chiếm
tới 1/10 tổng diện tích toàn thành phố. Theo con số thống kê chính thức 1998 toàn
thành phố Hà Nội có 2,5 triệu người sinh sống với mật độ dân số cao trung bình
khoảng 2700người/km2, đặc biệt nơi có 40 nghìn ngừơi/km2(Quận Hoàn Kiếm).
Qua con số thống kê thấy được tầm quan trọng của thủ đô Hà Nội. Đây là một vị trí
cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển của toàn dân tộc Việt Nam. Với mật độ dân
số rất đông như quận Hoàn Kiếm Hà Nội chúng ta thấy được sự phát triển liên tục
không ngừng của thủ đô so với những thời kỳ trước.
Trong năm 2001 dân số Hà Nội tiếp tục gia tăng do sự phát triển của kinh tế,
do đây là nơi tập trung các trung tâm kinh tế, chính trị văn hoá hiện đại nhất của cả
nước. Khu vực nội thành Hà Nội phát triển nên trước đây chỉ có 4 quận thì bây giờ
Hà Nội đã có7 quận. Sự mở rộng thêm 3 quận nữa chứng tỏ Hà Nội có tiềm nâng
lớn để phát triển kinh tế và các lĩnh vực trong đời sống người dân thủ đô. Từ việc
mở mang diện tích đồng thời với quy mô dân số tăng nhanh. Tốc độ gia tăng tự
nhiên trung bình hàng năm là 1,3% và tốc độ tăng cơ học là 2,5%. Qua phân tích vị
trí địa lý và dân số Hà Nội chúng ta đều khẳng định được Hà Nội là nơi có một tiến
bộ giáo dục phát triển so với khu vực khác trong cả nước. Bởi đây là nơi tập trung
nguồn tri thức tiến bộ và phát triển nhất, nhu cầu về nguồn nhân lực có trình độ
cao.
1.2. Đặc điểm kinh tế, xã hội của Hà Nội
Kinh tế của Hà Nội từ sau cuộc cải cách đã phát triển rất mạnh mẽ và ổn
định. Sự chuyển đổi của nền kinh tế đã tạo cho Hà Nội một bộ mặt hoàn toàn khác.
Kinh tế Hà Nội trong những năm qua tốc độ phát triển cao hơn nhiều so với cả
nước. Trong những năm gần đây Nhà nước tiếp tục đầu tư ngân sách vào kinh tế,
đồng thời đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào Hà Nội là lớn. Từ khi thực hiện chính
từng cá nhân với tư cách là thành viên của xã hội. Do đó họ đầu tư rất lớn đối với
sự nghiệp học tập của con cái ngay từ khi còn nhỏ.
Thời gian qua có rất nhiều bài báo đã và đang phản ánh tình trạng học tập
quá tải của học sinh,hầu hết thời gian của các em giành cho việc học tập, ít có cơ
hội giải trí. Qua đó ta thấy được nhu cầu học tập của bản thân các em và mong
muốn con cái có một hệ thống tri thức vững vàng để bước vào cuộc sống.
1.4. Văn hoá
Hà Nội là trung tâm văn hoá của cả nước. Bên cạnh sự phát triển của kinh tế-
giáo dục thì nhu cầu tái sản xuất sức lao động về mặt tinh thần của người dân Hà
Nội rất phát triển trong những năm qua. Nếu như năm 1998 đã có 210 cuốn được
xuất bản thì 2003 đã có 640 cuốn được gấp 3 lần so với năm 1998. Chứng tỏ nhu
cầu cần đọc sách của cư dân Hà Nội ngày càng cao để củng cố kiến thức và gia
tăng thêm sự hiểu biết về cuộc sống xung quanh.
2. Kết quả nghiên cứu
2.1. Do hiểu rõ được tầm quan trọng của tri thức đối với sự phát triển của
xã hội nên hiện nay các bậc cha mẹ ngày càng đầu tư về vật chất và thời gian
nhiều hơn cho việc học tập của con cái.
Trong gia đình, sự giáo dục của cha mẹ đối với con cái là yếu tố quyết định
cá nhân lĩnh hội và tiếp thu những chuẩn mực. Mỗi một gia đình đều có một nội
dung, phương pháp giáo dục khác nhau. Song cùng đi đến một mục đích chung là
con cái có một trí tuệ vững vàng đồng thời có nền tảng đạo đức tốt đẹp, và mỗi gia
đình đều mong muốn con cái trở thành những con ngoan, trò giỏi, và đem lại cho
xã hội những cá nhân có giá trị.
Vai trò của gia đình trong việc học tập của con cái thể hiện như thế nào?
Chúng ta hãy cùng tìm hiểu sự quan tâm đầu tư của gia đình đối với việc học tập
của con cái ở một số lĩnh vực sau:
Sự đầu tư của cha mẹ về vật chất ( tiền đóng học, tiền mua sách vở đồ dùng
học tập....)
Sự đầu tư của cha mẹ về thời gian và tinh thần
2.1.1. Sự đầu tư vật chất cho việc học tập của con cái của cha mẹ
lời cô H quận Đống Đa nói :
“Bây giờ không có học thì làm sao nên người, làm sao bằng bạn bằng bè, cô
cứ đầu tư cho em, đầu tư hết khả năng thì thôi, có đầu tư cũng có hơn một tháng cô
tốn ngót ngét một triệu bạc đấy, nhưng được cái em nó học cũng được” ( phỏng
vấn sâu số 5)
Như vậy từ trích đoạn phỏng vấn trên chúng ta có thể thấy rõ phần nào thực
trạng đầu tư hiện nay của các bậc cha mẹ cho việc học tập của con cái. Bên cạnh
việc học ở các trường có uy tín, thì các bậc cha mẹ cũng rất quan tâm đến tình hình
học thêm của các con. Nào là học ở nhà cô giáo, rồi học thêm ở các trung tâm có
chất lượng, thậm chí nhiều gia đình kinh tế khá giả cũng trực tiếp thuê gia sư về
nhà dạy con học. Theo như các bậc phụ huynh thì hiện nay việc học thêm cũng
đóng một vai trò quan trọng trong việc học tập của con cái. Ở những gia đình có
kinh tế hạn hẹp song mức đầu tư cho con cũng không phải là ít. Việc đầu tư cho
học tập của con cái chiếm một phần rất lớn trong tổng chi tiêu của gia đình. Nhưng
dù có khó khăn đến đâu họ vẫn chắt chiu dành dụm mong con được học đến nơi
đến chốn. Theo như lời kể của chị B :
“... Chi phí cho học tập của mấy đứa nhà chị chiếm gần một nửa so với tổng
chi tiêu trong gia đình. Tuy vậy anh chị vẫn phải cố gắng chắt bóp, nhịn ăn, nhịn
mặc một chút dể nó được học hành đến nơi đến chốn” (Phỏng vấn sâu số2)
Hay như lời kể của chú T: “Bây giờ kinh tế khó khăn lắm, kiếm được đồng
tiền không phải dễ, nhưng vẫn phải cố gắng dành dụm cho con ăn học tử tế cháu ạ.
Tiền kiếm đựơc ngoài chi tiêu hàng ngày thì tiền dành ra đầu tư cho con học cũng
chiếm khá nhiều, việc chi phí cho tiền học thêm của con hàng tháng chú phải chi
khoảng 300.000đ,con chú học lớp 9….Đời mình đã không có điều kiện thì phải cố
gắng mà đầu tư cho con cái.” (phỏng vấn sâu 4)
Từ tâm lý ngày xưa do hoàn cảnh không cho phép, nhiều bậc cha mẹ đã
không thể có điều kiện được đi học một cách đầy đủ. Chính vì vậy hiện nay các bậc
cha mẹ đã không tiếc công tiếc sức mình để lo cho con ăn học đến nơi đến chốn.
Dù khó khăn đến mấy họ vẫn dành một khoản nhất định cho việc học tập của con
cái. Việc chắt chiu, dành dụm nhịn ăn, nhịn mặc đã thể hiện sự hy sinh lớn lao đáng