I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
U TH NGC H
TộI Cố ý LàM TRáI QUY ĐịNH CủA NHà NƯớC
Về QUảN Lý KINH Tế GÂY HậU QUả NGHIÊM TrọNG
TRONG LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trờn c s nghiờn cu thc tin a bn tnh Ngh An)
LUN VN THC S LUT HC
H NI 2015
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
U TH NGC H
TộI Cố ý LàM TRáI QUY ĐịNH CủA NHà NƯớC
Về QUảN Lý KINH Tế GÂY HậU QUả NGHIÊM TrọNG
TRONG LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trờn c s nghiờn cu thc tin a bn tnh Ngh An)
Chuyờn ngnh: Lut Hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04
LUN VN THC S LUT HC
Ngi hng dn khoa hc: PGS. TS. Lấ TH SN
Khái niệm tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý
kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng .................................................. 7
1.2.
Lịch sử quy định về tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước
về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng ................................ 9
1.2.1.
Giai đoạn trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 .................. 10
1.2.2. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước
khi có hiệu lực của Bộ luật hình sự năm 1999 .................................. 13
1.2.3.
Giai đoạn từ khi có hiệu lực của Bộ luật hình sự năm 1999 đến nay ....... 19
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ
TỘI CỐ Ý LÀM TRÁI QUY ĐỊNH CỦA NHÀ NƯỚC VỀ
QUẢN LÝ KINH TẾ GÂY HẬU QUẢ NGHIÊM TRỌNG ....... 27
2.1.
Các dấu hiệu pháp lý của tội cố ý làm trái quy định của Nhà
nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng ..................... 27
2.1.1. Dấu hiệu về khách thể của tội phạm................................................. 27
2.1.2. Dấu hiệu về mặt khách quan của tội phạm ....................................... 28
2.1.3. Dấu hiệu về mặt chủ quan của tội phạm........................................... 33
HOÀN THIỆN, NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG ................. 53
3.1.
Thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự về tội cố ý
làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu
quả nghiêm trọng (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn của tỉnh
Nghệ An)......................................................................................... 53
3.2.
Phương hướng hoàn thiện quy định về tội cố ý làm trái quy định
của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng ........... 60
3.3.
Biện pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định về tội cố ý
làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu
quả nghiêm trọng ........................................................................... 66
KẾT LUẬN ................................................................................................. 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 71
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa là một
bước chuyển biến, bước ngoặt lớn trong công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà
nước ta, đã tạo đà cho sự phát triển kinh tế - xã hội một cách mạnh mẽ. Bên
cạnh đó, hội nhập kinh tế quốc tế mà đặc biệt là từ sau khi Việt Nam gia nhập
2. Tình hình nghiên cứu
Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả
nghiêm trọng là một chế định đã được một số tác giả nghiên cứu dưới các góc
độ và mức độ khác nhau:
Dưới góc độ nghiên cứu chung nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý
kinh tế, có thể kể đến công trình nghiên cứu Pháp luật hình sự về các tội
xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Th.S Nguyễn Mai Bộ công bố năm
2004, NXB Tư Pháp. Trong công trình này tác giải phân tích tất cả các tội
phạm trong nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; Bài viết Hoàn
thiện các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trước yêu cầu cải cách tư
pháp của TS Nguyễn Ngọc Chí trên Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà
Nội năm 2008, trong đó tác giả nghiên cứu, phân tích pháp luật hình sự về
các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và thực tiễn áp dụng để đưa ra
hướng hoàn thiện trước yêu cầu cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49/NQ
ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị.
Dưới góc độ nghiên cứu riêng tội “cố ý làm trái quy định của Nhà nước
về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” có luận văn Thạc sỹ luật học
“tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả
nghiêm trọng trong luật hình sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn Minh,
2
năm 2007, trong đó tác giả phân tích lý luận, quy định của pháp luật và đưa ra
một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự về tội phạm này.
Những bài viết, công trình nghiên cứu nêu trên có ý nghĩa quan trọng là
nguồn tài liệu tham khảo rất quý giá để thực hiện việc nghiên cứu luận văn
này. Tuy nhiên việc nghiên cứu riêng, toàn diện về tội cố ý làm trái quy định
của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng là chưa nhiều,
hiện thực tiễn xảy ra loại tội phạm này rất đa dạng, dưới nhiều hình thức và
- Đưa ra những kiến nghị hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự hiện
hành về tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu
quả nghiêm trọng.
- Đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng quy định
về tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả
nghiêm trọng.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng; tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà
nước và pháp luật; quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về chính sách hình sự, về công
cuộc cải cách tư pháp.
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương
pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp lịch sử; phương pháp so sánh; phương
pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về tội cố ý làm trái quy định
4
của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng ở khía cạnh lý
luận, pháp lý và thực tiễn. Trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện quy
định pháp luật hình sự hiện hành về tội phạm này. Luận văn có những điểm
mới cơ bản sau:
- Làm rõ được nhận thức chung về cố ý làm trái quy định của Nhà nước
về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng và lịch sử quy định về tội phạm
này qua hai lần pháp điển hóa;
- Luận văn đã phân tích và đánh giá được thực trạng quy định của Bộ
luật hình sự hiện hành về tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI CỐ Ý LÀM TRÁI QUY ĐỊNH CỦA
NHÀ NƯỚC VỀ QUẢN LÝ KINH TẾ GÂY HẬU QUẢ NGHIÊM TRỌNG
1.1. Khái niệm tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý
kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng
Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả
nghiêm trọng là một trong các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
được quy định tại Chương XVI Bộ luật hình sự. Đây là một trong những tội
có nhiều ý kiến tranh luận trong quá trình hoàn thiện cũng như áp dụng Bộ
luật hình sự vào thực tiễn. Vấn đề khái niệm tội cố ý làm trái quy định của
Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng cũng có một số quan
điểm khác nhau.
Theo ThS. Đinh Văn Quế: “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về
quản lý kinh tế là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng
chức vụ, quyền hạn được giao để làm trái quy định của Nhà nước về quản
lý kinh tế” [19, tr.232];
Theo Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (phần các tội phạm), Khoa
Luật Đại học quốc gia Hà Nội:
Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế
gây hậu quả nghiêm trọng là việc người có trách nhiệm quản lý kinh
tế có hành vi làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế,
tài chính, gây hậu quả làm thất thoát nghiêm trọng về tài sản hoặc
gây ảnh hưởng tiêu cực đối với lĩnh vực hoạt động kinh tế [6, tr.377].
Các định nghĩa nêu trên chưa khái quát đầy đủ các đặc điểm cơ bản của
tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả
7
nghiêm trọng. Theo tôi nên đưa ra định nghĩa đầy đủ về tội cố ý làm trái quy
thái độ chủ quan của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của
mình và đối với hậu quả của hành vi đó thể hiện dưới dạng cố ý hoặc vô ý.
Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội phải là người có lỗi. Qua khái
niệm trên, chúng ta có thể thấy tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản
lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng được thực hiện bằng lỗi cố ý, dưới hình thức
cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp. Đây là một trong những dấu hiệu bắt buộc trong
cấu thành tội phạm này.
Thứ ba, tính trái pháp luật hình sự.
Đây là đặc điểm về mặt hình thức pháp lý. Đặc điểm này được thể hiện
ngay trong khái niệm của tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh
tế gây hậu quả nghiêm trọng “... được quy định trong Bộ luật Hình sự...”. Đó là
quy định tại Điều 165 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Thứ tư, đặc điểm đặc biệt về chủ thể của tội cố ý làm trái quy định của
Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng. Chủ thể của tội phạm
này phải là người có trách nhiệm quản lý kinh tế. Đó là người có chức vụ,
quyền hạn trong hoạt động quản lý kinh tế. Người này có thể là người làm
việc trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn
vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước,... hoặc là người
làm việc trong các doanh nghiệp có một phần vốn góp của nhà nước, trong các
hợp tác xã, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh...
1.2. Lịch sử quy định về tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về
quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng
Nền kinh tế xã hội của đất nước ta phát triển theo từng thời kỳ, giai
đoạn lịch sử. Hệ thống pháp luật nói chung, những quy phạm pháp luật về
9
tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế nói riêng cũng
được hình thành và phát triển một cách phù hợp để kịp thời điều chỉnh và
trọng thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm [42, Điều 12].
Khách thể của tội phạm là nguyên tắc, chính sách, chế độ và thể lệ về
kinh tế, tài chính.
Nguyên tắc được hiểu là những tư tưởng, phương châm chỉ đạo của
Đảng và Nhà nước trong quản lý kinh tế. Còn chính sách là “những chuẩn tắc
cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ; chính sách được thực hiện trong một
thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó” [33, tr.145]. Như vậy,
chính sách về kinh tế có thể hiểu là một đường lối, nhiệm vụ phát triển kinh tế
nhất định thực hiện trong một giai đoạn, thời kỳ nhất định. Nhà nước đặt ra
những nguyên tắc, chính sách, chế độ quản lý kinh tế nhằm đảm bảo mọi hoạt
động kinh tế đi đúng đường lối kinh tế xã hội chủ nghĩa do Nhà nước hoạch
định. Nhà nước muốn phát triển nền kinh tế nhưng phải có định hướng, có kế
hoạch để đạt được sự cân đối cho mọi hoạt động kinh tế nhằm đưa nền kinh tế
đất nước phát triển. Chính vì lý do đó mà Nhà nước đã quy định về hành vi
phạm tội trên.
Hành vi khách quan của tội phạm là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền
hạn làm trái nguyên tắc, chính sách, chế độ và thể lệ về kinh tế, tài chính.
Đây là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ,
quyền hạn của mình để làm trái nguyên tắc, chính sách, chế độ và thể lệ về
kinh tế, tài chính. Hành vi làm trái ở đây được hiểu là việc thực hiện không
đúng hoặc không thực hiện đúng những quy định của Nhà nước trong lĩnh
vực quản lý kinh tế.
Hậu quả do hành vi khách quan gây ra là “thiệt hại đến tài sản xã hội
chủ nghĩa”. Như vậy, đối tượng cụ thể mà điều 12 Pháp lệnh năm 1970 bảo
11
vệ chính là tài sản xã hội chủ nghĩa. Theo Điều 1 Pháp lệnh quy định: “Tài sản
xã hội chủ nghĩa bao gồm tài sản thuộc quyền sở hữu của Nhà nước (tức là sở
phạt tương xứng.
Trong thời kỳ này, nền kinh tế còn nghèo nàn, lạc hậu, các quy định về
quản lý kinh tế cũng khá eo hẹp; các chính sách pháp luật nói chung, chính
sách pháp luật về kinh tế nói riêng còn sơ sài; chưa có bộ luật hình sự hoàn
chỉnh, thống nhất và chủ yếu các quy định về tội phạm và hình phạt là nhằm
bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa. Do đó, tội phạm này được quy định với tên
tội danh là tội cố ý làm trái nguyên tắc, chính sách, chế độ, thể lệ về kinh tế,
tài chính, gây thiệt hại đến tài sản xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, với trình độ
lập pháp thời bấy giờ mà đã quy định được một điều luật mang đầy đủ các
dấu hiệu cấu thành tội phạm và các tình tiết định khung hình phạt cũng như
các khung hình phạt được quy định tương xứng đã thể hiện được sự quan tâm,
sự khẩn trương của chính quyền trong việc bảo vệ trật tự kinh tế - xã hội.
1.2.2. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước
khi có hiệu lực của Bộ luật hình sự năm 1999
Nhằm bảo vệ cơ chế quản lý kinh tế, định hướng và đẩy mạnh các hoạt
động kinh tế của nước nhà, Bộ luật hình sự năm 1985 quy định riêng một
chương, đó là chương XVI “Các tội phạm về kinh tế”. Trong đó, tội cố ý làm
trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng được
quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 1985 với tên tội danh là “Tội cố ý
làm trái những nguyên tắc, chính sách, chế độ quản lý kinh tế gây hậu quả
nghiêm trọng”.
Bộ luật hình sự năm 1985 quy định như sau:
1. Người nào vì vụ lợi mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý
làm trái những nguyên tắc, chính sách, chế độ quản lý kinh tế do
13
Nhà nước quy định gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý hành
chính mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một
Dấu hiệu hậu quả trong mặt khách quan của tội phạm là “gây hậu quả
nghiêm trọng”. Khác với quy định của Pháp lệnh năm 1970 hậu quả do hành
vi khách quan gây ra là “thiệt hại đến tài sản xã hội chủ nghĩa” hay thiệt hại
đến tài sản của Nhà nước và tài sản của tập thể, hậu quả của tội cố ý làm trái
những nguyên tắc, chính sách, chế độ quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm
trọng theo quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự 1985 có phạm vi rộng hơn.
Hậu quả thể hiện bằng thiệt hại vật chất có thể tính toán được và hậu quả về
chính trị, làm hư hỏng cán bộ, lũng đoạn tổ chức, gây ảnh hưởng xấu đến việc
thực hiện kế hoạch Nhà nước, đến việc đảm bảo đời sống của nhân dân (hậu
quả này khó có thể tính toán cụ thể, chính xác) [30, tr. 22].
Nếu chưa có hậu quả nghiêm trọng thì dấu hiệu “đã bị xử lý hành chính
mà còn vi phạm” là dấu hiệu bắt buộc. Đây là một quy định rất mới. Nếu
người nào đã từng bị xử lý hành chính về hành vi cố ý làm trái những nguyên
tắc, chính sách, chế độ quản lý kinh tế, nhưng chưa hết thời hạn được coi là
chưa bị xử phạt hành chính nay lại thực hiện hành vi vi phạm đó thì sẽ bị xử
lý hình sự về tội phạm này. Xử lý hành chính là quyết định bằng văn bản của
cơ quan hoặc cấp có thẩm quyền xử lý người cố ý làm trái như: phê bình,
khiển trách, hạ tầng công tác…, hoặc kết luận bằng văn bản về hành vi cố ý
làm trái, yêu cầu đình chỉ, khắc phục hậu quả … [30, tr.16].
Lỗi của người thực hiện hành vi cố ý làm trái những nguyên tắc, chính
sách, chế độ quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng là lỗi cố ý. Chủ thể
biết rõ hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn lợi dụng chức vụ, quyền
hạn được giao để thực hiện.
Ngoài ra, Điều 174 Bộ luật hình sự 1985 còn quy định mục đích “vụ
15
lợi” là dấu hiệu bắt buộc của tội cố ý làm trái những nguyên tắc, chính sách,
chế độ quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng. Vì vụ lợi có nghĩa là thu
tính răn đe cao trong xã hội.
Quy định ban đầu về tội phạm này tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm
1985 kéo dài trong thời gian gần 5 năm. Theo luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Bộ luật hình sự được Quốc hội thông qua ngày 28 tháng 12 năm
1989, “Tội cố ý làm trái những nguyên tắc, chính sách, chế độ quản lý kinh tế
gây hậu quả nghiêm trọng” tại Điều 174 được sửa lại là “Tội cố ý làm trái quy
định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” với nội
dung “người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ,
quyền hạn cố ý làm trái nguyên tắc, chính sách, chế độ quản lý kinh tế do Nhà
nước quy định gây hậu quả nghiêm trọng thì bị...”
Sau khi được sửa đổi, các dấu hiệu của tội phạm quy định tại Điều 174
Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ bớt đi dấu hiệu “đã bị xử lý về hành chính mà
còn vi phạm” còn các dấu hiệu khác của tội cố ý làm trái quy định của Nhà
nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, về cơ bản vẫn giữ nguyên
như quy định ban đầu khi Bộ luật hình sự năm 1985 mới được ban hành. Do
vậy, tính khả thi của điều luật vẫn còn nhiều hạn chế. Hơn nữa, Cương lĩnh
xây dựng đất nước được thông qua năm 1991, theo đó đường lối xây dựng
nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa đặt ra yêu cầu phải xây dựng một khung pháp luật hoàn chỉnh nhằm
khuyến khích, phát triển mạnh mẽ các yếu tố tích cực, phát huy quyền tự do
kinh doanh, không hạn chế quy mô mức độ.
Do đó, ngày 22/12/1992 Quốc hội tiếp tục sửa đổi một số điều của Bộ
luật hình sự năm 1985, trong đó Điều 174 quy định tội cố ý làm trái quy định
của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng được sửa đổi, bổ
sung như sau:
17
1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái quy
thành tình tiết định khung hình phạt.
Ngoài ra, một số tình tiết định khung hình phạt đã được quy định trở lại
với mức hình phạt cũng được quy định cao hơn, tương xứng với mức độ của
tính nguy hiểm của hành vi phạm tội. Mức hình phạt cao nhất đối với tội
phạm này là phạt tù đến 20 năm.
Bộ luật hình sự năm 1985 là nền móng cho sự hình thành và phát triển
hệ thống pháp luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Nó đã góp phần không nhỏ trong công cuộc đổi mới, phát triển đất nước. Qua
thực tiễn áp dụng, Bộ luật đã được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với tình hình
phát triển của đất nước. Tuy nhiên, nó vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập,
cần phải được sửa đổi, bổ sung.
1.2.3. Giai đoạn từ khi có hiệu lực của Bộ luật hình sự năm 1999 đến nay
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã
hội chủ nghĩa, tình hình kinh tế xã hội nước ta đã có những bước phát triển
mạnh mẽ. Bên cạnh những mặt tích cực, năng động do nền kinh tế thị trường
mang lại, thì mặt trái của cơ chế thị trường cũng tác động đến đời sống xã hội.
Do đó tình hình vi phạm pháp luật cũng trở nên đa dạng và phức tạp hơn, đặc
biệt là những tội phạm về xâm phạm trật tự quản lý kinh tế.
Để phù hợp với công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và
tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả
nghiêm trọng nói riêng, ngày 21/12/1999 Quốc hội đã thông qua Bộ luật hình
sự mới, trong đó tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế
gây hậu quả nghiêm trọng được tiếp tục quy định với một số điểm mới. Các
quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 không chỉ góp phần vào việc bảo vệ
độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam xã
19
hội chủ nghĩa, bảo vệ Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ