[ Bản Full ] Thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam trước yêu cầu cải cách tư pháp (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Nam Định) Luận văn ThS. Luật học - Pdf 29


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ BẠCH TUYẾT

THẨM QUYỀN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
TRƯỚC YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP
(trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Nam Định) LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. Trịnh Tiến Việt

HÀ NỘI - 2014 3
Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.

Tác giả luận văn Nguyễn Thị Bạch Tuyết

Danh mục các biểu đồ MỞ ĐẦU
1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THẨM QUYỀN XÉT XỬ
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TRONG LUẬT TỐ TỤNG
HÌNH SỰ VIỆT NAM
11
1.1.
Khái niệm thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân
11
1.1.1.
Khái niệm chung về thẩm quyền
11
1.1.2.
Khái niệm thẩm quyền xét xử
12
1.2.
Căn cứ phân định thẩm quyền đối với Tòa án nhân dân
15
1.2.1.
Căn cứ vào đường lối chính sách của Đảng
15
1.2.2.
Căn cứ vào nguyên tắc tổ chức, hoạt động, cơ cấu tổ chức của
hệ thống cơ quan nhà nước nói chung, các cơ quan tư pháp
nói riêng

23
1.3.1
Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến khi
pháp điển hóa lần thứ nhất Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam
năm 1988
23
1.3.2
Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam
năm 1988 đến nay
35

Chương 2: THẨM QUYỀN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
THEO BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM
2003 VÀ BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC
TRÊN THẾ GIỚI
40
2.1.
Thẩm quyền xét xử của tòa án nhân dân theo Bộ luật tố tụng
hình sự Việt Nam năm 2003
40
2.1.1.
Thẩm quyền xét xử theo sự việc
40
2.1.2.
Thẩm quyền xét xử theo đối tượng
48
2.1.3.
Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ
51
2.1.4.

66

6
2.2.6.
Quy định về thẩm quyền xét xử trong Bộ luật tố tụng hình sự Pháp
68

Chương 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN THẨM QUYỀN XÉT XỬ CỦA
TÒA ÁN NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM
ĐỊNH, HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ CÁC BIỆN
PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN THẨM QUYỀN XÉT XỬ
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TRONG BỘ LUẬT TỐ
TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TRƯỚC YÊU CẦU CẢI
CÁCH TƯ PHÁP
72
3.1.
Thực tiễn thực hiện thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân
trên địa bàn tỉnh Nam Định
72
3.1.1.
Kết quả của việc thực hiện thẩm quyền xét xử của Tòa án
nhân dân hai cấp tỉnh Nam Định
72
3.1.2
Những hạn chế, vướng mắc
87
3.2.
Giải pháp hoàn thiện Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam về
thẩm quyền của Tòa án
90

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
108

7
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS
: Bộ luật Hình sự
BLTTHS
: Bộ luật Tố tụng hình sự
HĐXX
: Hội đồng xét xử
TAND
: Tòa án nhân dân
TANDTC
: Tòa án nhân dân tối cao
TAQS
: Tòa án quân sự
VKSND
: Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC
: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa

8


Tình hình thụ lý, xét xử sơ thẩm án hình sự của Tòa án
cấp tỉnh (tỉnh Nam Định) từ 2009-2013
78
3.3
Tình hình án sửa, hủy của Tòa án cấp phúc thẩm TAND
tỉnh Nam Định từ 2009 - 2013
79 9
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong tiến trình phát triển kinh tế, xã hội, để đáp ứng các yêu cầu hội
nhập kinh tế quốc tế trong điều kiện toàn cầu hóa, Đảng và Nhà nước ta đã
triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm tăng cường khả năng thực thi của các
cơ quan công quyền Việt Nam.
Việc cải cách nền hành chính tư pháp đã được Bộ Chính trị chỉ đạo
thông qua Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 và nhất là Nghị quyết
số 49/NQ-TW ngày 26/5/2005 về "Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020"
đã đề cập một cách cơ bản và toàn diện những vấn đề về cải cách tư pháp trong
tình hình mới. Trong đó nhấn mạnh Tòa án có vai trò trung tâm trong hệ thống
các cơ quan tư pháp và nâng cao chất lượng hoạt động xét xử là trọng tâm.
Tòa án là công cụ của giai cấp cầm quyền trong xã hội, là trung tâm
và là hệ thống cấu thành quan trọng nhất của bộ máy quyền lực nhà nước, là
cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp, là phương thức để Nhà nước xác
lập quyền uy của mình đối với xã hội, nhân danh Nhà nước Tòa án là cơ quan
xét xử, mọi vi phạm pháp luật đến mức bị coi là tội phạm và phần lớn các
tranh chấp phát sinh trong xã hội phải được giải quyết thông qua Tòa án.
Khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Tòa án nhân dân là cơ

án nhân dân (TAND) nói riêng có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm chất
lượng, hiệu quả xét xử của hệ thống TAND các cấp, bảo đảm giải quyết vụ án
đúng chức năng, nhiệm vụ, xét từ góc độ pháp lý cũng như từ góc độ chính
trị, xã hội. Có thể nói thẩm quyền xét xử của TAND luôn là vấn đề được quan
tâm hàng đầu ngay từ khi bắt đầu nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện các quy
định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS).
Hiện nay, vẫn còn sự nhận thức khác nhau về vai trò của TAND trong
hệ thống cơ quan nhà nước, dẫn đến có nhiều quan điểm khác nhau về thẩm

11
quyền của TAND. Có quan điểm cho rằng "Tòa án chỉ có thẩm quyền giải quyết
các vi phạm pháp luật tương đối nghiêm trọng, còn các vi phạm pháp luật nhỏ thì
thuộc về thẩm quyền giải quyết của các cơ quan hành chính nhà nước" [33, tr. 15].
Tuy nhiên, theo quan điểm này sẽ tạo ra sự không rành mạch trong tổ chức
thực hiện quyền lực nhà nước, có nguy cơ dẫn đến độc đoán, vi phạm quyền
tự do, dân chủ của công dân, ảnh hưởng tới lòng tin của nhân dân vào công lý.
Bởi vì, cơ quan hành chính nhà nước hoạt động chủ yếu theo nguyên tắc hành
chính mệnh lệnh, quyền uy, phục tùng, còn Tòa án hoạt động theo nguyên tắc
độc lập, tuân theo thủ tục tố tụng công khai, dân chủ. Bảo đảm quyền bình
đẳng trước Tòa án. Xu thế chung hiện nay thẩm quyền của Tòa án càng ngày
càng được mở rộng thêm. Trước mắt, vấn đề liên quan nhiều đến quyền con
người như áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính, hoặc đối với các
tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất là vấn đề nhạy cảm, có nhiều khó
khăn vướng mắc đã giao về cho Tòa án là cơ quan có thẩm quyền giải quyết
trong mọi trường hợp, nếu đương sự lựa chọn khởi kiện đến Tòa án.
Ngành TAND với chức năng, nhiệm vụ của một cơ quan thực hiện
quyền tư pháp luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm đề ra nhiều giải pháp
đổi mới, với những bước đi thích hợp. Một trong các bước đi đó là bố trí sắp
xếp lại hệ thống tổ chức và phân định lại thẩm quyền xét xử của TAND các
cấp, với phương châm kiện toàn đến đâu mở rộng thẩm quyền đến đó. Thông

2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Do thẩm quyền xét xử của TAND là một trong những chế định trọng
tâm, có vị trí, vai trò quan trọng trong luật tố tụng hình sự nên đã có nhiều
công trình nghiên cứu khoa học ở những mức độ khác nhau, những khía cạnh,
phương diện khác nhau như:
* Dưới góc độ luận văn, luận án tiến sĩ luật học có một số công trình
sau: 1) Luận án tiến sĩ luật học "Thẩm quyền xét xử của Tòa án các cấp" của
tác giả Nguyễn Văn Huyên, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2002; 2) Luận văn

13
thạc sĩ luật học "Thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm trong tố tụng hình
sự" của tác giả Nguyễn Văn Tiến, Trường Đại học Luật Hà Nội, 1998; 3)
Luận văn thạc sĩ luật học "Hoàn thiện thủ tục tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ
án hình sự trong quá trình cải cách tư pháp hiện nay" của tác giả Nguyễn
Hữu Tuấn, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011; 4) Khóa luận tốt
nghiệp "Thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân theo Bộ luật tố tụng hình sự
trước yêu cầu cải cách tư pháp" của tác giả Nguyễn Thị Anh Thư, 2006 v.v…
* Dưới góc độ đề tài nghiên cứu khoa học có một số công trình sau: 1)
Đề tài khoa học cấp Bộ "Nâng cao chất lượng hiệu quả công tác kiểm sát
hình sự trong giai đoạn giám đốc thẩm" của Viện kiểm sát nhân dân tối cao
(VKSNDTC), 2007; 2) TS. Nguyễn Văn Hiện (Chủ nhiệm đề tài), "Vấn đề tổ
chức phiên tòa và việc thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng tại phiên
tòa của Tòa án nhân dân", Đề tài khoa học cấp Bộ, TANDTC, Hà Nội, 1999;
3) TS. Nguyễn Thị Thanh Thủy (Chủ nhiệm đề tài) (2005), "Cơ sở lý luận và
thực tiễn của việc áp dụng các quy định của việc áp dụng các quy định của
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục tố tụng tại phiên tòa xét xử vụ án
hình sự", Đề tài khoa học cấp Bộ, TANDTC, Hà Nội, 2005; v.v
* Ngoài ra, một số tác giả cũng đã công bố những bài báo khoa học có
đề cập đến thẩm quyền xét xử của TAND như: 1) "Nâng cải cách hệ thống
Tòa án trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam" của

tiễn để tương xứng với vai trò, vị trí là chế định trọng tâm trong luật tố tụng
hình sự. Và cho đến nay, chưa có tác giả nào nghiên cứu thực tiễn thực hiện
thẩm quyền xét xử về hình sự tại địa bàn tỉnh Nam Định
Như vậy, tình hình nghiên cứu trên đây lại một lần nữa cho phép
khẳng định việc nghiên cứu đề tài "Thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân
theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam trước yêu cầu cải cách tư pháp" (trên cơ
sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Nam Định)" là đòi hỏi khách quan, cấp
thiết, vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn.

15
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu các quy định của pháp luật về
thẩm quyền xét xử của TAND theo luật tố tụng hình sự Việt Nam dưới khía
cạnh lập pháp tố tụng hình sự và áp dụng chúng trong thực tiễn, từ đó luận
văn đưa ra những kiến nghị hoàn thiện các quy định về thẩm quyền xét xử của
TAND, trước yêu cầu cải cách tư pháp. Đồng thời, đề xuất những biện pháp
bảo đảm thực hiện các quy định của BLTTHS Việt Nam về thẩm quyền xét
xử của Tòa án, nâng cao hiệu quả của việc áp dụng các quy định của pháp luật
về thẩm quyền xét xử của TAND trong thực tiễn.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có nhiệm vụ làm sáng tỏ:
- Khái niệm, căn cứ phân định thẩm quyền xét xử của TAND;
- Khái quát lịch sử hình thành và phát triển về thẩm quyền xét xử của
TAND trong lịch sử pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ sau cách mạng
tháng 8 năm 1945 đến nay để rút ra những nhận xét, đánh giá;
- Nghiên cứu các quy định về thẩm quyền xét xử của TAND trong
BLTTHS hiện hành của Việt Nam, BLTTHS của các nước trên thế giới từ đó
rút ra những nhận xét, đánh giá;
- Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định về thẩm

cải cách tư pháp đến năm 2020" của Bộ Chính trị.
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả luận văn đã sử dụng các phương
pháp cụ thể và đặc thù như: Phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp
so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp; phương
pháp thống kê, phương pháp điều tra xã hội học để tổng hợp các tri thức khoa
học Luật tố tụng hình sự và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên
cứu trong luận văn.

17
5. Những điểm mới và đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phương
diện lý luận và thực tiễn, vì đây là công trình nghiên cứu đầu tiên sau khi có
BLTTHS năm 2003 và có hệ thống ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học về
thẩm quyền xét xử của TAND theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam trước yêu
cầu cải cách tư pháp (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Nam Định),
trong đó giải quyết nhiều vấn đề quan trọng về lý luận và thực tiễn liên quan
tới thẩm quyền xét xử của TAND trong luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Do đó, những điểm mới cơ bản của luận văn là:
- Tổng hợp các quan điểm khoa học trong và ngoài nước về thẩm
quyền xét xử của TAND để xây dựng nên khái niệm về thẩm quyền xét xử
của TAND, bảo đảm tính chính xác, khoa học, đồng thời chỉ ra các căn cứ để
phân định thẩm quyền xét xử của TAND;
- Nghiên cứu chỉ ra những điểm khái quát về lịch sử quá trình hình
thành và phát triển của các quy định về thẩm quyền xét xử của TAND trong
luật tố tụng hình sự Việt Nam từ năm 1945 cho đến nay;
- Nghiên cứu, đánh giá các quy định về Thẩm quyền xét xử của
TAND trong BLTTHS Việt Nam và BLTTHS một số nước trên thế giới;
- Nghiên cứu, đánh giá làm sáng tỏ bức tranh về tình hình áp dụng các
quy định về thẩm quyền xét xử của TAND của các đơn vị TAND tại tỉnh
Nam Định; những tồn tại, hạn chế của thực tiễn áp dụng các quy định về thẩm

19
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
VỀ THẨM QUYỀN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1. KHÁI NIỆM THẨM QUYỀN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
1.1.1. Khái niệm chung về thẩm quyền
Ở thời kỳ cổ đại, với quan niệm ấu trĩ về tính tất yếu của sự bất bình
đẳng giữa các giai cấp trong xã hội về quyền thống trị tối cao tuyệt đối của
giai cấp thống trị đối với giai cấp nô lệ và dân thường, giải thích nguồn gốc
sức mạnh của quyền lực bằng hào quang thiêng liêng của Thượng đế. Quyền
lực của vua chúa không bị hạn chế. Khắp nơi thịnh hành học thuyết "Đặc miễn
quốc gia", theo đó Nhà nước làm ra pháp luật thì phải đứng trên pháp luật.
Mặc dù với điều kiện sống và nhận thức còn nhiều hạn chế, song một
số nhà tư tưởng đã nhận thức được tình trạng lạm quyền một cách tùy tiện,
thái quá của giai cấp thống trị, họ đã có những ý niệm mơ hồ về mối quan hệ
giữa Nhà nước và pháp luật. Họ mơ ước có một xã hội công bằng, dân chủ,
không có bóc lột. Chính những mơ ước đó đã đặt nền móng cho các nhà tư
tưởng hình thành dần một học thuyết về Nhà nước pháp quyền, mong muốn
loại bỏ Nhà nước chuyên quyền, độc đoán [19, tr. 20].
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin khi xây dựng học thuyết
của mình về Nhà nước kiểu mới đã kế thừa những tư tưởng trước đó kết hợp
với tình hình đấu tranh thực tế để đưa ra quan điểm "Quyền lực nhà nước là
thống nhất, không phân chia và thuộc về nhân dân". Nhân dân được hưởng
mọi quyền dân chủ, có quyền làm những việc pháp luật không cấm và có
nghĩa vụ tuân theo pháp luật. Nhân dân thực hiện quyền lực thông qua cơ
quan đại diện là Quốc hội. Quốc hội có quyền lập hiến và lập pháp. Quyền
hành pháp thuộc về Chính phủ, là cơ quan chấp hành và hành chính cao nhất


21
đều phải thông qua xét xử. Không ai có thể bị buộc tội mà không
qua xét xử của các Tòa án và kết quả xét xử phải được công bố
công khai bằng bản án
Thẩm quyền xét xử của Tòa án là một quyền chuyên biệt
được trao riêng cho Tòa án, khác với thẩm quyền của các cơ quan
khác, thẩm quyền xét xử là quyền chính thức của Tòa án, không
phân biệt phân cấp, phân vùng lãnh thổ [53, tr. 701].
Trong khi đó, theo Từ điển giải thích thuật ngữ pháp lý thông dụng thì
"Xét xử là hoạt động của Tòa án tại phiên tòa để xét xử các chứng cứ và căn
cứ vào pháp luật, xử lý vụ án bằng việc ra bản án và các quyết định của Tòa
án" [18, tr. 450].
Xét riêng trong pháp luật tố tụng hình sự, thẩm quyền của Tòa án các
cấp là một chế định quan trọng. Thẩm quyền càng được phân định rõ ràng,
khoa học, sát với thực tế bao nhiêu càng bảo đảm cho việc xét xử khách quan,
chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật bấy nhiêu. Chính vì thế,
trong quá trình hoàn thiện pháp luật nước ta nói chung và hoàn thiện pháp luật
tố tụng hình sự nói riêng, các quy định của pháp luật về thẩm quyền xét xử
của Tòa án các cấp luôn được nghiên cứu kỹ lưỡng trước khi ban hành.
BLTTHS của nước ta đã ra đời khá sớm, qua nhiều lần sửa đổi, các quy định
về thẩm quyền xét xử của Tòa án tương đối đầy đủ. Tại khoản 1 Điều 102
Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật tổ chức TAND năm 2002 quy định: "Tòa
án nhân dân là cơ quan xét xử của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, thực hiện quyền tư pháp" [30]. Quyền xét xử thuộc về Tòa án được hiểu
là thẩm quyền xét xử.
So sánh với một số thuật ngữ nước ngoài tương đương, thuật ngữ
thẩm quyền xét xử được sử dụng trong tiếng Việt cũng có nhiều điểm tương
đồng và khác biệt nhất định. Trong Từ điển Luật của Anh, người ta dùng
thuật ngữ Jurisdiction để chỉ thẩm quyền hoặc quyền tài phán, tức là quyền


23
Như vậy, có thể đưa ra khái niệm về thẩm quyền xét xử của Tòa án
như sau: Thẩm quyền xét xử của Tòa án là tổng hợp các quyền theo quy định
của pháp luật để Tòa án giải quyết các tranh chấp trong xã hội thông qua
việc xem xét, đánh giá, phán quyết có tính cưỡng chế của Nhà nước.
Và thẩm quyền xét xử về hình sự là: Quyền của Tòa án được xét xử vụ
án hình sự do pháp luật tố tụng hình sự quy định dựa trên cơ sở dấu hiệu về
tính nghiêm trọng của tội phạm được thực hiện, tính phức tạp của vụ án, địa
điểm xảy ra tội phạm và đặc điểm nhân thân người phạm tội. Trong phạm vi
luận văn, tôi chỉ xin đề cập đến thẩm quyền xét xử về hình sự của các cấp TAND.
1.2. CĂN CỨ PHÂN ĐỊNH THẨM QUYỀN ĐỐI VỚI TÒA ÁN NHÂN DÂN
Nếu quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án các cấp không phù
hợp sẽ dẫn đến những hậu quả tiêu cực như: Chất lượng hiệu quả hoạt động tư
pháp hình sự bị hạn chế; tình trạng quá tải tại cấp xét xử nào đó khiến án bị
tồn đọng; chi phí cho hoạt động tư pháp cao; vi phạm các quyền tự do dân chủ
của công dân Song, muốn quy định thẩm quyền được chính xác phải dựa
vào những căn cứ vừa mang tính khoa học vừa bảo đảm yếu tố thực tiễn. Các
căn cứ càng cụ thể, chi tiết thì quy định thẩm quyền càng chính xác. Việc
nghiên cứu lý luận và thực tiễn lập pháp cho thấy, hầu hết các ý kiến tập trung
vào việc căn cứ trình độ năng lực của Thẩm phán, số lượng án hàng năm ở
các cấp để đề nghị phân định thẩm quyền. Nhìn chung, các quan điểm đều có
nhiều yếu tố hợp lý. Song mỗi quan điểm lại có những hạn chế nhất định, vẫn
còn đề cập đến vấn đề căn cứ phân định thẩm quyền một cách đơn giản và
phiến diện. Cần thiết phải có sự đầu tư nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn
để kịp thời điều chỉnh các quy định về thẩm quyền cho phù hợp với từng giai
đoạn phát triển của xã hội. Theo chúng tôi có thể dựa vào các căn cứ sau để
phân định thẩm quyền của TAND các cấp.
1.2.1. Căn cứ vào đường lối chính sách của Đảng
Nhà nước Việt Nam là Nhà nước XHCN, đặt dưới sự lãnh đạo duy
nhất của Đảng cộng sản Việt Nam. Đảng lãnh đạo thông qua việc đề ra đường


25
2003, trong đó có việc xây dựng những quy định về thẩm quyền xét xử các vụ
án hình sự của TAND.
1.2.2. Căn cứ vào nguyên tắc tổ chức, hoạt động, cơ cấu tổ chức
của hệ thống cơ quan nhà nước nói chung, các cơ quan tư pháp nói riêng
Nhà nước ta được chia theo ba cấp đơn vị hành chính lãnh thổ: Cấp
tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; cấp huyện (quận, huyện, thành
phố thuộc tỉnh và thị xã); cấp xã (xã, phường, thị trấn). Dựa theo sự phân chia
này, hệ thống Tòa án cũng được tổ chức từ trung ương đến cấp huyện gồm
TANDTC, TAND cấp tỉnh và TAND cấp huyện, khác với các cơ quan khác
hệ thống Tòa án chỉ có đến cấp huyện, quận và mối quan hệ giữa Tòa án các
cấp không phải là mối quan hệ phục tùng, chỉ đạo mà chỉ là mối quan hệ theo
thẩm quyền. Mối quan hệ này đảm bảo cho các Tòa án xét xử độc lập và chỉ
tuân theo pháp luật.
Việc phân định thẩm quyền xét xử phải bảo đảm cơ chế giám sát của
các cơ quan dân cử và phát huy quyền làm chủ của nhân dân đối với các cơ
quan Tòa án. Tăng cường vai trò, trách nhiệm của Ủy ban Tư pháp Quốc hội,
Hội đồng nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc trong việc thực hiện nhiệm vụ
giám sát hoạt động xét xử. Tăng cường vai trò của các phương tiện thông tin
đại chúng trong việc tuyên truyền, cung cấp thông tin chính xác, khách quan
về hoạt động của Tòa án.
Căn cứ vào cách thức tổ chức hệ thống các cơ quan nhà nước theo
đơn vị hành chính lãnh thổ, căn cứ vào điều kiện, khả năng thực tế của các cơ
quan tiến hành tố tụng, BLTTHS năm 2003 đã quy định về thẩm quyền xét xử
cho từng cấp Tòa án. BLTTHS năm 2003 căn cứ vào cách thức tổ chức đó để
quy định thẩm quyền xét xử. Dựa vào thẩm quyền theo luật định mỗi cấp Tòa
án đều có quyền xét xử riêng mà không bị chi phối bởi Tòa án cấp trên. để
phân định thẩm quyền của Tòa án. Việc phân định thẩm quyền như trên
không chỉ đảm bảo tính khoa học về mặt quản lý mà còn phát huy được khả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status