I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NGUYN TH HNH
Ng-ời tiến hành tố tụng Thuộc Viện kiểm sát nhân dân
theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2015
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NGUYN TH HNH
Ng-ời tiến hành tố tụng Thuộc Viện kiểm sát nhân dân
theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04
LUN VN THC S LUT HC
Ngi hng dn khoa hc: TS. PHM MNH HNG
H NI - 2015
Khái niệm người tiến hành tố tụng hình sự trong Viện kiểm
sát nhân dân ........................................................................................ 8
1.1.1. Khái niệm người tiến hành tố tụng hình sự.......................................... 8
1.1.2. Các loại người tiến hành tố tụng hình sự trong Viện KSND ............. 13
1.2.
Nguyên tắc hoạt động của những người tiến hành tố tụng trong
Viện kiểm sát nhân dân theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam......... 20
1.3.
Khái quát các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về
người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát từ khi thành lập
Viện kiểm sát nhân dân đến trước Bộ luật tố tụng hình sự
năm 2003 ........................................................................................... 28
1.3.1. Giai đoạn từ năm 1960 đến trước năm 1988 ................................. 28
1.3.2. Giai đoạn từ năm 1988 đến trước năm 2003 ................................. 30
Chương 2: CÁC QUY ĐỊNH VỀ NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG
TRONG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THEO BỘ LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003 VÀ THỰC TIỄN HOẠT
ĐỘNG CỦA NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG TRONG
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI
ĐOẠN TỪ NĂM 2010-2014 ............................................................ 35
2.1.
Các quy định về người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát
nhân dân theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 ......................... 35
3.1.2. Hoàn thiện các quy định về quan hệ tố tụng giữa VKS với
CQĐT và cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động Điều tra ............................................................................. 97
3.1.3. Hoàn thiện các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện
trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên ............................................ 99
3.2.
3.2.1.
3.2.2.
3.2.3.
3.2.4.
Một số giải pháp khác nâng cao hiệu quả hoạt động của
người tiến hành tố tụng các vụ án hình sự trong Viện kiểm
sát nhân dân .................................................................................... 102
Nâng cao chất lượng, trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ kiểm sát .. 102
Xác định vị trí việc làm; xây dựng và thực hiện tốt đề án cơ cấu
công chức góp phần đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công
chức; đổi mới phương thức quản lý, chỉ đạo Điều hành trong
ngành Kiểm sát ................................................................................. 103
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra trong ngành Kiểm sát ...... 106
Tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật và đổi mới chế
độ chính sách đối với cán bộ kiểm sát ............................................. 108
KẾT LUẬN .................................................................................................. 111
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 114
TTHS:
Tố tụng hình sự
VKS:
Viện kiểm sát
VKSND: Viện kiểm sát nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1: Kết quả thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự, trong giai đoạn khởi
tố của Viện KSND TP Hà Nội trong 05 năm (2010 - 2014)
72
Bảng 2.2. Kết quả hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự
trong giai đoạn Điều tra của Viện KSND hai cấp TP Hà Nội
trong 05 năm (2010 - 2014)
Bảng 2.3: Kết quả hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát
trong quá trình giải quyết vụ án hình sự thì người tiến hành tố tụng trong các
cơ quan đó có trách nhiệm thực thi các quyền hạn, trách nhiệm để thực hiện
chức năng của các cơ quan tiến hành tố tụng. Người tiến hành tố tụng là một
trong các chủ thể của tố tụng hình sự có vai trò quan trọng trong quá trình
chứng minh, giải quyết vụ án hình sự cũng như trong việc tôn trọng và bảo vệ
các quyền con người. Là một cơ quan trong hệ thống các cơ quan tiến hành tố
tụng, Viện kiểm sát nhân dân có hai chức năng cơ bản là thực hành quyền
công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều
phải được xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án
đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm
tôi, không làm oan người vô tội góp phần bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con
người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của
Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm
pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của hoạt động này, ngày 02/01/2002, Bộ
Chính trị, đã ra Nghị quyết số 08-NQ/TW về một số nhiệm vụ trọng tâm công
tác tư pháp trong thời gian tới, trong đó nhấn mạnh:
Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm
sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp… Nâng cao chất
1
lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân
chủ với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng
khác. Tăng cường công tác kiểm sát việc bắt, giam giữ, bảo đảm đúng
pháp luật; Những trường hợp chưa cần bắt, tạm giữ, tạm giam thì kiên
quết không phê chuẩn lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam; phát hiện và xử lý
kịp thời các trường hợp oan, sai trong bắt, giữ. Viện kiểm sát các cấp
chịu trách nhiệm về những oan, sai trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam
sát các hoạt động tư pháp, đáp ứng yêu cầu cấp bách về cải cách tư pháp mà
Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra.
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
- Mục đích nghiên cứu: Khi lựa chọn đề tài cho luận văn của mình, tác
giả luận văn có mục đích tìm hiểu và nghiên cứu các quy định của pháp luật
Việt Nam về người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân theo luật
tố tụng hình sự Việt Nam và việc thực hiện chúng trong thực tiễn tại Viện
kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội. Thông qua sự tìm hiểu đó, tác giả luận
văn đưa ra những nhận xét và đánh giá theo quan điểm cá nhân về sự phù hợp
hay không phù hợp của pháp luật Việt Nam về vấn đề này. Từ đó, luận văn
đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về người tiến
hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân theo luật tố tụng hình sự Việt Nam
cũng như đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả trong hoạt động của
người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân.
- Đối tượng nghiên cứu: Tác giả luận văn nghiên cứu những vấn đề pháp
luật có liên quan đến người tiến hành tố tụng hình sự; các loại người tiến hành
tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề xung quanh
việc quy định về người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân nhưng
chỉ giới hạn ở người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nhân dân khi thực
hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự mà
5
không nghiên cứu về người tiến hành tố tụng trong Cơ quan điều tra của Viện
kiểm sát nhân dân tối cao. Nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành tố tụng
khi thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo hoạt động tố tụng hình
sự theo BLTTHS năm 2003, kết hợp với việc nghiên cứu đánh giá tình hình
áp dụng các quy định trong thực tiễn tại Viện kiểm sát nhân thành phố Hà
dung của luận văn được thể hiện trong ba chương với nôi dung như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về người tiến hành tố tụng trong
Viện kiểm sát nhân dân theo các quy định của pháp luật tố
tụng hình sự Việt Nam.
Chương 2: Các quy định về người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm
sát nhân dân theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và
thực tiễn hoạt động của người tiến hành tố tụng trong Viện
kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội giai đoạn từ năm
2010-2014.
Chương 3: Hoàn thiện các quy định của Luật Tố tụng hình sự Việt
Nam và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của
người tiến hành tố tụng các vụ án hình sự trong Viện kiểm
sát nhân dân.
7
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG
TRONG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THEO CÁC QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm người tiến hành tố tụng hình sự trong Viện kiểm sát
nhân dân
1.1.1. Khái niệm người tiến hành tố tụng hình sự
Việc nghiên cứu về người tiến hành tố tụng trong Luật TTHS có thể xem
xét dưới nhiều phương diện khác nhau, tuy nhiên tiếp cận theo chức năng tố tụng
có lẽ sẽ hợp lý vì mỗi chức năng tố tụng sẽ do một hoặc một số chủ thể tố tụng
đảm nhiệm và chức năng của mỗi chủ thể sẽ quy định nhiệm vụ, quyền hạn của
chủ thể đó. Trên cơ sở giải quyết mối quan hệ giữa các chức năng của TTHS đã
hình thành niên các mô hình tố tụng khác nhau.
nhằm thực hiện các chức năng chung của TTHS. Mỗi chức năng cơ bản của
TTHS được giao cho một hoặc một số chủ thể thực hiện.
Mặc dù còn có ý kiến khác nhau về các chức năng cụ thể của TTHS
(Chẳng hạn hoạt động điều tra của CQĐT, hoạt động kiểm sát việc điều tra vụ án
của VKS có được coi là những chức năng của TTHS hay không), nhưng đã có
sự thống nhất chung là TTHS có ba chức năng cơ bản là chức năng buộc tội,
chức năng bào chữa (gỡ tội) và chức năng xét xử [48,19].
Mỗi chức năng đảm nhận một phương diện hoạt động cơ bản của TTHS,
có vị trí, vai trò khác nhau, có chủ thể thực hiện khác nhau và có sự độc lập với
nhau. Tuy vậy, giữa các chức năng này lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau,
ràng buộc nhau trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Mỗi chức năng tồn tại,
vận động vì sự tồn tại và vận động của hai chức năng còn lại. Có chức năng buộc
tội mà không có chức năng bào chữa (gỡ tội) thì hoạt động tố tụng là hoạt động
áp đặt quyền lực, ý chí và rất dễ dẫn đến oan sai. Chức năng bào chữa chỉ xuất
9
hiện, tồn tại khi có sự tồn tại, hoạt động của chức năng buộc tội. Chức năng xét
xử sẽ không còn khi không có chức năng buộc tội và sẽ không thể thực hiện
được tốt khi chỉ có chức năng buộc tội mà không có chức năng bào chữa cùng
hoạt động. Để hoạt động TTHS được vận hành hiệu quả, giải quyết các vụ án
hình sự kịp thời, đúng pháp luật, không xảy ra oan sai thì các chức năng của
TTHS đều phải được coi trọng, không nên quá nhấn mạnh chức năng này mà
xem nhẹ chức năng khác. Hiện nay, có nhiều quan điểm, xu hướng trái ngược
nhau về vấn đề này. Xu hướng thứ nhất quá đề cao vai trò và vị trí của chức
năng buộc tội, quan tâm đến nhiệm vụ ”kiểm soát tội phạm” của TTHS, chưa
nhận thức đầy đủ vai trò của chức năng bào chữa trong việc bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân. Xu hướng ngược lại là quá đề cao vai trò và vị trí
của chức năng bào chữa, xem việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân
nhóm chủ thể như sau: chủ thể thuộc phía buộc tội (điều tra, truy tố/buộc tội) bao
gồm người bị hại hoặc đại diện của họ, CQĐT, cơ quan công tố/VKS; chủ thể
thuộc phía bị buộc tội (người bị tình nghi, bị can, bị cáo và người đại diện hợp
pháp, người bào chữa của họ); chủ thể có quyền xét xử là tòa án (phán quyết
người bị cáo buộc có phạm tội hay không, phạm tội gì và mức độ hình phạt phải
chịu) và một số chủ thể khác có liên quan như người làm chứng, người chứng
kiến, người giám định, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
Trong TTHS Việt Nam hiện hành về cơ bản không hình thành “các
bên” tố tụng như bên buộc tội, bên gỡ tội và tòa án là trọng tài xét xử mà chủ
thể tố tụng được phân định thành các chủ thể tiến hành tố tụng (gồm CQĐT,
VKS, Tòa án cùng các chức danh tư pháp trong các cơ quan này là ĐTV, thủ
trưởng, phó thủ trưởng CQĐT; KSV, viện trưởng, phó viện trưởng VKS;
Thẩm phán, chánh cán, phó chánh án, hội thẩm, thư ký TAND) và người tham
gia tố tụng (bao gồm người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên
đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án,
người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người làm chứng,
người giám định, người phiên dịch).
11
Theo quy định của BLTTHS thì người tiến hành tố tụng bao gồm: ĐTV,
Thủ trưởng, Thó Thủ trưởng CQĐT; KSV, Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS,
Thẩm phán, Chánh án, Phó Chánh án, Hội thẩm, Thư ký TAND và người
tham gia tố tụng bao gồm người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại,
nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến
vụ án, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người làm
chứng, người giám định, người phiên dịch. Ngoài ra, trong từng trường hợp
cụ thể còn có những người như: người đại diện hợp pháp của người bị tạm
giữ; của bị can, của bị cáo; người đại diện hợp pháp của người bị hại, của
Do vậy, khi tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải xác định
đúng tư cách tham gia tố tụng của những người tham gia tố tụng, đảm bảo
quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Từ những phân tích trên, có thể rút ra khái niệm người tiến hành tố
tụng hình sự như sau: Người tiến hành tố tụng hình sự là người thực hiện
chức năng của các cơ quan tiến hành tố tụng, có nhiệm vụ, quyền hạn và trách
nhiệm tiến hành các hoạt động tố tụng để giải quyết vụ án hình sự nhằm phát
hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh kịp thời mọi hành vi phạm
tội không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, bảo vệ lợi ích của nhà
nước, lợi ích của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
1.1.2. Các loại người tiến hành tố tụng hình sự trong Viện KSND
Hành chính và tư pháp là hai lĩnh vực hoạt động khác nhau, nhưng có
quan hệ chặt chẽ với nhau. Đặc trưng của hành chính là thừa hành, căn cứ vào
pháp luật để tổ chức thi hành pháp luật, mang đặc thù chỉ huy – phục tùng,
ban hành những mệnh lệnh có tính điều hành, quản lý để mọi người chấp
hành. Tư pháp là quá trình áp dụng pháp luật để bảo vệ pháp luật nên đòi hỏi
tính độc lập, tính công bằng cao.
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, có hai loại thẩm quyền cơ bản
là thẩm quyền quản lý hành chính và thẩm quyền tố tụng. Thẩm quyền quản
13
lý hành chính do người đứng đầu các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng để tổ
chức, quản lý, điều hành, phân công, kiểm tra, đôn đốc người bị quản lý như
điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán trong việc thụ lý, giải quyết vụ án,
được thực hiện bằng phương pháp quyền uy – phục tùng. Thẩm quyền tố tụng
là quyền hạn của người tiến hành tố tụng được thực hiện một cách độc lập và
phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi và quyết định của mình.
Các thẩm quyền tố tụng chịu sự điều chỉnh và tuân thủ các quy định của luật
là một loại hoạt động đặc thù được quy định bởi cơ cấu tổ chức, nguyên tắc
hoạt động của ngành kiểm sát nhân dân, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ
quyền hạn được quy định theo luật tố tụng hình sự, Viện kiểm sát nhân dân
thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp.
Theo quy định tại Điều 33 BLTTHS, các loại người tiến hành tố
tụng trong Viện kiểm sát nhân dân gồm có: Viện trưởng, Phó Viện
trưởng, Kiểm sát viên.
Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS là những người tiến hành tố tụng
có nhiệm vụ tổ chức và chỉ đạo thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt
động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự đảm bảo yêu cầu giải
quyết vụ án hình sự đúng pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật về
những hành vi và quyết định của mình theo quy định của pháp luật.
Theo Điều 36 BLTTHS thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS là chức
danh pháp lý trong hoạt động tố tụng hình sự; nhiệm vụ, quyền hạn và trách
nhiệm của Viện trưởng VKS được quy định rất cụ thể, trong đó phân biệt rõ
chức năng quản lý hoạt động tố tụng hình sự và chức năng tiến hành tố tụng.
Viện trưởng VKS là người đứng đầu VKS có những nhiệm vụ, quyền
hạn rất quan trọng, khi thực hiện chức năng quản lý hoạt động tố tụng của
VKS, Viện trưởng VKS có những nhiệm vụ và quyền hạn tổ chức và chỉ đạo
các hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong hoạt động TTHS; quyết định phân công Phó Viện trưởng, KSV thực
15
hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố
tụng đối với vụ án hình sự; kiểm tra các hoạt động TTHS của Phó Viện
trưởng và KSV; kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án theo quy định của pháp luật;
quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp
vắng mặt) và trong trường hợp này chỉ một Phó Viện trưởng được ủy quyền
mới có các nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm đó mà thôi và chịu trách
nhiệm trước Viện trưởng về việc thực hiện ủy quyền đó.
Khi được phân công thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự đối với các vụ án hình sự, Phó Viện
trưởng có những nhiệm vụ và quyền hạn giống như Viện trưởng trong việc
thực hiện chức năng tiến hành tố tụng.
Về trách nhiệm, ngoài trách nhiệm tuân thủ các quy định của pháp luật
khi tiến hành tố tụng và phải chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về các
hành vi, quyết định của mình, Phó Viện trưởng VKS còn phải chịu trách
nhiệm trước Viện trưởng về nhiệm vụ được giao.
Mối quan hệ giữa Viện trưởng và Phó Viện trưởng VKS trong các hoạt
động tố tụng là mối quan hệ tố tụng. Nếu trong quan hệ quản lý hành chính
được thực hiện theo chế độ ký thay thì trong hoạt động thực hành quyền công
tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự được thực hiện
theo chế độ ủy quyền. Với tư cách là người giúp Viện trưởng trong việc quản
lý hoạt động tố tụng của VKS thì trường hợp Viện trưởng vắng mặt, một Phó
Viện trưởng được Viện trưởng ủy quyền thực hiện quyền hạn của Viện
trưởng. Khi được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự, Phó Viện trưởng VKS với tư
cách là một chức danh tố tụng độc lập có những nhiệm vụ, quyền hạn được
quy định như đối với Viện trưởng VKS.
Theo quy định của BLTTHS thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS là
chức danh tố tụng, đồng thời cũng là Kiểm sát viên. Như vậy, khi tiến hành tố
17