Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ trong luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Thái Nguyên) - Pdf 29

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

DƢƠNG DIỆP QUẦN

TỘI CHẾ TẠO, TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, SỬ DỤNG,
MUA BÁN TRÁI PHÉP HOẶC CHIẾM ĐOẠT VẬT LIỆU NỔ
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
(trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Thái Nguyên) LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2014
HÀ NỘI - 2014

3
Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.

Tác giả luận văn D-ơng Diệp Quần

4
MỤC LỤC

mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ
10
1.3.
Các yếu tố cấu thành tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử
dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ
16
1.3.1.
Khách thể của tội phạm
16
1.3.2.
Mặt khách quan của tội phạm
17
1.3.3.
Mặt chủ quan của tội phạm
23
1.3.4.
Chủ thể của tội phạm
25
1.3.5.
Hậu quả của tội phạm
26

Chương 2: TỘI CHẾ TẠO, TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, SỬ DỤNG,
MUA BÁN TRÁI PHÉP HOẶC CHIẾM ĐOẠT VẬT LIỆU
NỔ THEO ĐIỀU 232 BỘ LUẬT HÌNH SỰ 1999 VÀ THỰC
TIỄN XÉT XỬ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN
28
2.1.
Các quy định của bộ luật hình sự Việt Nam về tội chế tạo,
tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm

51
2.2.2.
Thực tiễn áp dụng pháp luật về tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển,
sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ
59

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP
DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI CHẾ TẠO,
TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, SỬ DỤNG, MUA BÁN TRÁI
PHÉP HOẶC CHIẾM ĐOẠT VẬT LIỆU NỔ
74
3.1.
Cần có những quy định, hướng dẫn cụ thể để thống nhất áp
dụng Điều 232 Bộ luật Hình sự
74
3.2.
Hạn chế những nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh, phát
triển tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái
phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ
78
3.3.
Tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân thực hiện
Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm trong đó có tội
phạm chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái
phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ
80
3.4.
Chấn chỉnh công tác thống kê, báo cáo tình hình tội phạm chế
tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc
chiếm đoạt vật liệu nổ

Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
2.1
Thành phần của những người phạm tội chế tạo, tàng trữ,
vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt
vật liệu nổ 56 tại tỉnh Thái Nguyên
56

8
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ sau Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 6 (năm 1986) đến
nay, trên đất nước ta đã và đang diễn ra quá trình đổi mới sâu sắc và toàn
diện. Đời sống chính trị - xã hội đã có những biến đổi quan trọng. Đặc biệt,
nền kinh tế - xã hội đã có những bước phát triển lớn, tạo tiền đề vững chắc
cho sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
Tuy nhiên, sau một thời gian xóa bỏ cơ chế quản lý kinh tế tập trung
quan liêu, bao cấp để bước vào nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội
chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước, tình hình kinh tế, xã hội nước ta vẫn
còn chịu ảnh hưởng và tác động lớn của cơ chế quản lý cũ và tác động của
mặt trái của cơ chế thị trường, do đó tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật
khác còn nhiều phức tạp, gây thiệt hại đáng kể đến tài sản xã hội chủ nghĩa và
tài sản của công dân, ảnh hưởng đến an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội.
Trong điều kiện đất nước ta hiện nay, công tác đấu tranh phòng,

2010; Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), của Khoa Luật -
Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1997; Đinh Văn
Quế, Bình luận khoa học luật Hình sự, Phần các tội phạm, tập 2, Nxb Thành
phố Hồ Chí Minh, 2002.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, khảo sát trên đây cho thấy, ở nước ta
đã có một số công trình nghiên cứu cơ bản. Tuy nhiên, những nghiên cứu về
tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt
vật liệu nổ mới chỉ dừng lại ở các công trình nghiên cứu chung về phần các
tội phạm hoặc các tội phạm xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng,
chưa nghiên cứu độc lập, đánh giá lý luận và tổng kết thực tiễn về tội chế tạo,
tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ.
10
Như vậy, tình hình nghiên cứu trên đây lại một lần nữa cho phép khẳng
định việc nghiên cứu đề tài "Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng,
mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ trong luật hình sự Việt Nam
(trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Thái Nguyên)" là đòi hỏi
khách quan, cấp thiết, vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn.
3. Mục tiêu, nội dung nghiên cứu và đối tƣợng, phạm vi nghiên
cứu của luận văn
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
3.1.1. Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu của luận văn là nghiên cứu các quy định của pháp luật hình
sự về tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc
chiếm đoạt vật liệu nổ dưới khía cạnh lập pháp hình sự và áp dụng trong thực
tiễn, từ đó luận văn đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về
tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt
vật liệu nổ trong luật hình sự Việt Nam, cũng như đề xuất những giải pháp
nâng cao hiệu quả của việc áp dụng những quy định của loại tội này trong
thực tiễn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
3.1.2. Mục tiêu cụ thể

đoạt vật liệu nổ, đồng thời phân tích làm rõ những tồn tại, hạn chế xung
quanh việc áp dụng và những nguyên nhân cơ bản của nó;
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện các quy định về tội chế tạo, tàng
trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ trong
Bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành, cũng như những giải pháp nâng cao
hiệu quả áp dụng của tội này trong thực tiễn.
3.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định của pháp luật hình sự
Việt Nam về tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép
12
hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ, tìm hiểu thực trạng về tội chế tạo, tàng trữ, vận
chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ trên địa bàn
tỉnh Thái Nguyên trong những năm gần đây.
Dựa trên cơ sở Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm
2009, đề tài tập trung nghiên cứu, làm rõ những vấn đề:
- Các vấn đề trọng tâm liên quan đến tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển,
sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ như: Khái niệm, các
trường hợp áp dụng
- Nghiên cứu thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên về tội chế
tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu
nổ trong thời gian gần đây và đưa ra những nhận xét, đánh giá.
- Trên cơ sở nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn về tội chế tạo, tàng
trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ theo
quy định của luật hình sự và thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
hiện nay, luận văn đề xuất một số kiến nghị nhằm khắc phục những hạn chế
còn tồn tại, nâng cao hiệu quả của các quy định của pháp luật về tội chế tạo,
tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ.
Nghiên cứu tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái
phép hoặc chiếm đoạt vật nổ trên cơ sở thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên từ năm 2009 đến năm 2013.

hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền
và cải cách tư pháp hiện nay ở Việt Nam.
Ngoài ra, luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho những
người nghiên cứu, cho người làm công tác thực tiễn liên quan đến việc áp
dụng các quy định của pháp luật hình sự về tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển,
sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ trong thực tế. Đồng
thời là nguồn tham khảo cho những cá nhân quan tâm đến pháp luật hình sự
nói chung và tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép
14
hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ nói riêng, tạo tiền đề cho việc hiểu rõ hơn các quy
định cũng như những tồn tại, hạn chế của loại tội này.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về về tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử
dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ.
Chương 2: Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái
phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ theo Điều 232 Bộ luật Hình sự 1999 và thực
tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình
sự về về tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc
chiếm đoạt vật liệu nổ.

15
Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỘI CHẾ TẠO, TÀNG TRỮ,
VẬN CHUYỂN, SỬ DỤNG, MUA BÁN TRÁI PHÉP

tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt
vật liệu nổ.
Để đấu tranh, phòng chống tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng,
mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ đạt hiệu quả cao vấn đề đầu
tiên cần phải xác định rõ khái niệm của tội phạm này. Bởi vì, chỉ trên cơ sở
nhận thức đúng và đầy đủ về tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua
bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ mới có thể đề ra được các phương
hướng, giải pháp cụ thể để đấu tranh, phòng chống. Thực tiễn của nước ta
hiện nay càng khẳng định ý nghĩa, tầm quan trọng và sự cần thiết phải làm
sáng tỏ vấn đề đó.
Theo Từ điển bách khoa mở, Vật liệu nổ là chất hóa học hay các hợp
chất, các vật liệu có khả năng tạo thành một thể tích khí lớn (gấp 15.000 lần
thể tích ban đầu), phát ra nhiệt độ cao (3.000 - 4.000 độ C), áp suất rất cao,
trong thời gian rất ngắn (1/10.000 giây). Các đặc trưng của một vật liệu nổ:
Nó là một chất hóa học hay hợp chất hóa học không an định (không bền). Sự
tăng lên đột ngột của chất nổ thường kết hợp bởi việc tạo ra nhiệt độ cao và
thay đổi rất lớn về áp suất. Chất nổ có khả năng tạo ra một vụ nổ khi có kích
thích ban đầu. Các kích thích ban đầu có thể là các xung cơ học, đâm chọc, va
đập, cọ xát, nhiệt.
Qua khái niệm trên cho thấy định nghĩa về vật liệu nổ theo phương
diện hóa học, qua đó thể hiện các chất tạo thành vật liệu nổ, chu trình hoạt
động của các chất tạo ra chất nổ.
Tại Điều 3 Pháp lệnh số 16/2011/UBTVQH12 ngày 30 tháng 6 năm
2011 giải thích về vật liệu nổ như sau:
17
6. Vật liệu nổ gồm thuốc nổ và các phụ kiện nổ.
7. Vật liệu nổ quân dụng là vật liệu nổ sử dụng cho mục
đích quốc phòng, an ninh
8. Vật liệu nổ công nghiệp là vật liệu nổ sử dụng cho mục
đích sản xuất công nghiệp, kinh tế, dân sinh [43].

1. Người nào chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép
hoặc chiếm đoạt chất nổ, chất cháy, chất độc hoặc chất phóng xạ thì
bị phạt tù từ một năm đến năm năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị
phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:
a) Có tổ chức;
b) Vật phạm pháp có số lượng lớn;
c) Gây hậu quả nghiêm trọng;
d) Tái phạm nguy hiểm;
3. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị
phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân [23].
Việc quy định loại tội này cụ thể trong điều luật chính là bước ngoặt
quan trọng, tạo cơ sở cho việc xử lý các hành vi vi phạm luật về chất nổ, thể
hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đối với việc chế tạo, tàng trữ, sử
dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất nổ.
Mặc dù đã được pháp điển hóa thành Bộ luật, nhưng việc quy định
trong cùng một điều luật về chất nổ, chất cháy, chất độc hoặc chất phóng xạ
tạo nên khó khăn trong quá trình áp dụng điều luật, mặt khác nếu chỉ quy định
về chất nổ sẽ không bao quát hết các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến
loại tội này, dễ bỏ lọt tội phạm, gây nhiều tranh cãi về việc xử lý hành vi
phạm pháp. Do vậy khi Bộ luật Hình sự năm 1999 ra đời trên cơ sở kế thừa
những quy định tại Điều 96 Bộ luật Hình sự năm 1985, Điều 232 Bộ luật
Hình sự năm 1999 quy định như sau:
19
1. Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua
bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ, thì bị phạt tù từ một năm
đến năm năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị
phạt tù từ ba năm đến mười năm:
a) Có tổ chức;

đối với người thực hiện hành vi đó, bởi vì Bộ luật Hình sự chỉ quy định về
chất nổ chứ không quy định các phụ kiện nổ như kíp nổ, dây nổ Việc sử
dụng thuật ngữ "chất nổ" theo quy định tại Điều 96 Bộ luật Hình sự năm 1985
đã không bao quát được hết các hành vi vi phạm, người phạm tội sẽ lợi dụng
kẽ hở của pháp luật nhằm thu lợi bất chính vì ngoài thuốc nổ còn rất nhiều vật
khác liên quan đến thuốc nổ như kíp nổ, mồi nổ , những vật này chính là một
bộ phận để đảm bảo cho thuốc nổ có thể phát huy công dụng. Bộ luật Hình sự
năm 1999 ra đời đã thay thế thành thuật ngữ "vật liệu nổ", điều này đã đáp
ứng được yêu cầu xử lý loại tội này, bởi vì vật liệu nổ sẽ bao hàm cả thuốc nổ
và các loại phụ kiện nổ như dây nổ, dây cháy chậm, mồi nổ, các vật phẩm
chứa thuốc nổ có tác dụng tạo kích thích ban đầu làm nổ khối thuốc nổ hoặc
các loại thiết bị chuyên dùng có chứa thuốc nổ.
Ngoài ra tại Điều 232 Bộ luật Hình sự năm 1999 còn bổ sung thêm
hành vi "vận chuyển" là hành vi phạm tội mà Điều 96 Bộ luật Hình sự năm
1985 chưa quy định. Quy định thêm về hành vi "vận chuyển" trái phép vật
liệu nổ đã đáp ứng yêu cầu bức thiết trong quá trình hoàn thiện pháp luật hình
sự, bởi vì sau khi Bộ luật Hình sự năm 1985 ra đời hành vi phạm tội vận
chuyển vật liệu nổ khi không được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
xảy ra rất nhiều, người phạm tội lợi dụng pháp luật hình sự không quy định về
hành vi vận chuyển trái phép vật liệu nổ khi bị phát hiện dù người phạm tội
trên thực tế đang tàng trữ trái phép vật liệu nổ trong người thì cũng khai là
vận chuyển, hoặc do điều luật không quy định đó là hành vi phạm tội cho nên
21
khi được thuê vận chuyển trái phép vật liệu nổ, người được thuê sẽ không do
dự mà đồng ý thực hiện ngay nhằm thu được một nguồn lợi nhất định. Chính
vì Bộ luật Hình sự năm 1985 không quy định về hành vi vận chuyển dẫn đến
khó khăn trong việc điều tra, xử lý đối tượng phạm pháp thuộc trường hợp
này. Chính vì vậy, khi Bộ luật Hình sự năm 1999 ra đời tại Điều 232 đã bổ
sung thêm hành vi "vận chuyển" trái phép vật liệu nổ, từ đó có cơ sở để xử lý
người phạm tội, không bỏ lọt tội phạm.

luật, làm cho việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội trong nhiều
trường hợp còn nhẹ, không đảm bảo tính nghiêm khắc của pháp luật hình sự.
Ví dụ nếu căn cứ theo Điều 96 Bộ luật Hình sự năm 1985 chỉ quy định về tình
tiết định khung hình phạt là "Vật phạm pháp có số lượng lớn" tại khoản 2 của
điều luật. Như vậy người phạm tội mua bán trái phép chất nổ có số lượng
100kg so với người phạm tội mua bán trái phép chất nổ có số lượng 400kg,
khi quyết định hình phạt đều áp dụng khoản 2 Điều 96 là "Vật phạm pháp có
số lượng lớn". Chính vì vậy, Điều 232 Bộ luật Hình sự năm 1999 đã bổ sung
thêm các yếu tố định khung hình phạt là "Vật phạm pháp có số lượng rất lớn"
và "Vật phạm pháp có số lượng đặc biệt lớn" để đảm bảo việc áp dụng pháp
luật được chính xác, việc áp dụng hình phạt tương ứng đúng với hành vi phạm
tội, số lượng vật phạm pháp.
Điều 232 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định thêm về hình phạt bổ
sung đối với tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép
hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ. Cụ thể như sau: "5. Người phạm tội còn có thể bị
phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt quản chế hoặc cấm
cư trú từ một năm đến năm năm" [26].
Việc quy định về hình phạt bổ sung chính là một bước tiến trong quá
trình hoàn thiện pháp luật, căn cứ vào từng hành vi phạm tội, từng vụ án cụ
thể mà có thể áp dụng hình phạt bổ sung đối với người phạm tội. Hình phạt
23
tiền ngoài mục đích trừng phạt người phạm tội về lĩnh vực tài chính thì việc
áp dụng hình phạt này còn với mục đích là tạo nguồn thu cho ngân sách nhà
nước, từ đó thông qua các chương trình cụ thể của Đảng và Nhà nước để khắc
phục một phần những thiệt hại do người phạm tội gây ra cho con người, xã
hội, cho môi trường xung quanh. Khi áp dụng hình phạt quản chế hoặc cấm
cư trú tại một địa phương nhất định, các cơ quan có thẩm quyền sẽ dễ dàng
kiểm tra, giám sát người phạm tội tại địa phương đó hoặc do hậu quả của
người phạm tội gây ra cho một địa phương nào đó mà xét thấy cần thiết phải
cấm cư trú đối với người phạm tội thì có thể cấm người phạm tội cư trú tại địa

hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ xảy ra ai cũng sợ hãi, có thể gây ra hậu quả chết
người hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của con người, gây thiệt hại cho xã hội.
Cùng với việc gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến tài sản, tính
mạng, sức khỏe của con người thì hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử
dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ còn gây mất trật tự nơi
công cộng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động bình thường của cộng
đồng, gây náo động nơi công cộng.
Đối tượng tác động của tội phạm này là vật liệu nổ, bao gồm thuốc nổ
và các phụ kiện nổ là các loại kíp nổ, dây nổ, dây cháy chậm, mồi nổ, các vật
phẩm chứa thuốc nổ có tác dụng tạo kích thích ban đầu làm nổ khối thuốc nổ
hoặc các loại thiết bị chuyên dùng có chứa thuốc nổ. Tuy nhiên, nếu vật liệu
nổ là vật liệu nổ quân dụng thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình
sự về tội "chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc
chiếm đoạt vũ khí quân dụng", chỉ vật liệu nổ công nghiệp mới là đối tượng
của tội phạm này.
1.3.2. Mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua
bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ là những biểu hiện diễn ra hoặc tồn
tại bên ngoài thế giới khách quan. Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng,
25
mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ có dấu hiệu khách quan khác là
dấu hiệu bắt buộc của cấu thành, đó là:đối với hành vi chế tạo, tàng trữ, vận
chuyển, sử dụng, mua bán vật liệu phải là trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu
nổ thì mới cấu thành tội phạm, nếu việc chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử
dụng, mua bán vật liệu nổ được phép thì không thuộc trường hợp phạm tội
quy định tại Điều 232 Bộ luật Hình sự. Ví dụ như các cơ quan chuyên môn
đặc thù được Nhà nước cho phép chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua
bán vật liệu nổ thì không coi là phạm tội này.
Khi xác định hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán
có trái phép hay không trong một số trường hợp cần chú ý: Nếu người được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status