Tội chống người thi hành công vụ trong luật hình sự Việt Nam ( Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn ở Hà Tĩnh) - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ NHƢ QUỲNH
TỘI CHỐNG NGƢỜI THI HÀNH CÔNG VỤ
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM (TRÊN CƠ SỞ
NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN Ở HÀ TĨNH)
Chuyên ngành : Luật hình sự
Mã số : 603840 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS. TS Đỗ Ngọc Quang
HÀ NỘI - 2013


4. XXST - Xét xử sơ thẩm
5. TP - Thành phố
6. VKS - Viện kiểm sát
7. UBNN - Uỷ ban nhân dân MỤC LỤC

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các chữ viết tắt Danh mục các bảng MỞ ĐẦU
1

Chƣơng 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI CHỐNG
NGƢỜI THI HÀNH CÔNG VỤ TRONG PHÁP LUẬT HÌNH
SỰ VIỆT NAM
8

TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN
ÁP DỤNG
32
2.1.
Quy định của Bộ luật Hình sự về Tội chống người thi hành công vụ
32

2.1.1.
Các dấu hiệu pháp lý về Tội chống người thi hành công vụ
32
2.1.2.
Chính sách hình sự trong xử lý đối với hành vi chống người thi hành
công vụ
33
2.2.
Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về Tội chồng người thi hành
công vụ
47
2.2.1.
Khái quát về tình hình Tội chống người thi hành công vụ trong
phạm vi cả nước
47
2.2.2.
Tình hình của tội phạm chống người thi hành công vụ trên địa bàn
tỉnh Hà Tĩnh
54
2.2.3.
Những tồn tại trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về Tội
chống người thi hành công vụ
66

89

KẾT LUẬN
95

TÀI LIỆU THAM KHẢO
97

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tỷ lệ XXST Tội chống người thi hành công vụ trong tổng số tội
phạm từ năm 2008- 2012. 50
Bảng 2.2 Số vụ và số bị can/bị cáo phạm Tội chống người thi hành công vụ bị
khởi tố, truy tố, xét xử sơ thẩm từ năm 2008 đến năm 2012 trên địa
bàn cả nước. 51
Bảng 2.3: Tỷ lệ số vụ án XXST về Tội chống người thi hành công vụ trong
tổng số tội phạm trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2008- 2012. 54
Bảng 2.4: Số vụ và số bị can/bị cáo phạm Tội chống người thi hàn công vụ bị
khởi tố, truy tố, xét xử sơ thẩm từ năm 2008 đến năm 2012 trên địa
bàn tỉnh Hà Tĩnh. 55
Bảng 2.5: Các hình phạt được áp dụng đối với Tội chống người thi hành công
vụ trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. 57

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xã hội ngày càng phát triển kéo theo những tác động của nền kinh tế
thị trường, với những mặt tiêu cực vốn có đã làm ảnh hưởng tới nhiều khía

người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh có xu hướng tăng lên với
tính chất ngày càng phức tạp và mức độ nguy hiểm ngày càng cao. Lựa chọn
đề tài luận văn về Tội chống người thi hành công vụ gắn liền với thực tế trên
địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, tác giả muốn góp một phần tiếng nói nhằm ngăn chặn
và đẩy lùi Tội chống người thi hành công vụ trên quê hương mình.
Hiện nay trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh nói riêng và trên địa bàn cả nước
nói chung thực trạng Tội chống người thi hành công vụ ngày càng gia tăng và
trở thành một hiện tượng khá phố biến. Lựa chọn “Tội chống người thi hành
công vụ trong luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn ở Hà
Tĩnh)” làm đề tài luận văn, tìm hiểu và nghiên cứu đề tài dưới góc độ khoa
học Luật hình sự tác giả mong muốn sẽ góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý
luận của Tội chống người thi hành công vụ từ đó đưa ra được cái nhìn tổng
quát về nguyên nhân, điều kiện, thực trạng của Tội chống người thi hành công
vụ cũng như có những phương hướng, giải pháp, kiến nghị đóng góp vào
công cuộc hoàn thiện pháp luật đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này trên
địa bàn tỉnh Hà Tĩnh nói riêng và địa bàn cả nước nói chung.
2. Tình hình nghiên cứu
Tội chống người thi hành công vụ được quy định tại Chương XX Các
tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính trong Bộ luật Hình sự Việt Nam năm
1999. Từ trước tới nay, xét về mặt pháp lý và phạm vi nghiên cứu rộng trên
địa bàn cả nước đã có khá nhiều các bài viết và các công trình nghiên cứu về
tội phạm này như:

3
1. Luận văn thạc sỹ: Tội chống người thi hành công vụ trong Luật Hình
Sự Việt Nam và đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này (năm 2006) của tác
giả Vũ Văn Kiệm.
2.Thực trạng, nguyên nhân Tội chống người thi hành công vụ và các
biện pháp phòng ngừa (năm 1993) của tác giả Tác giả Bùi Hữu Hùng _ Viện
Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Với mục đích như đã nêu luận văn có các nhiệm vụ sau:
Về mặt lý luận: Tìm hiểu những quy định về Tội chống người thi hành
công vụ trong lịch sử và trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành, làm rõ khái
niệm, các dấu hiệu pháp lý của Tội chống người thi hành công vụ được quy định
tại Điều 257 Chương XX Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính.
Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu, đánh giá nguyên nhân, điều kiện và
thực trạng của Tội chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh từ
năm 2008 đến năm 2012, trên cơ sở đó luận văn sẽ đưa ra được cái nhìn đúng
đắn nhất về Tội chống người thi hành công vụ và đưa ra được những phương
hướng hoàn thiện pháp luật và phương hướng đấu tranh phòng ngừa có hiệu
quả tội phạm này trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian tới.
3.3. Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu về một số vấn đề lý luận về Tội chống người thi
hành công vụ. Thực trạng của tội phạm này trên địa bàn cả nước nói chung và
trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh nói riêng, cũng như việc áp dụng những quy định
của Luật hình sự trong thực tiễn xét xử Tội chống người thi hành công vụ.
Đồng thời qua đó góp phần đấu tranh, phòng, chống Tội chống người thi hành
công vụ trong thời gian tới trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh nói riêng và địa bàn cả
nước nói chung.

5
3.4. Phạm vi và thời gian nghiên cứu của luận văn
Phạm vi: Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn của
Tội chống người thi hành công vụ được quy định tại Điều 257 Chương XX
Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính trong Bộ luật Hình sự Việt Nam
năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và dưới góc pháp luật hình sự.
Bên cạnh đó để có cái nhìn tổng quan và cụ thể hơn về tội phạm này luận văn
cũng đã đề cập tới một số Thông tư, Nghị quyết liên quan đến Tội chống
người thi hành công vụ nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết nhiệm vụ và đối

người thi hành công vụ trên địa bàn tĩnh Hà Tĩnh giai đoạn 2008-2012. Từ đó
chỉ ra được những tồn tại, vướng mắc của pháp luật cũng như những hạn chế,
khó khăn trong việc áp dụng các quy định pháp luật liên quan đến Tội chống
người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh nói riêng và trên địa bàn cả
nước nói chung.
Đưa ra những kiến nghị, giải pháp, đóng góp ý kiến nhằm mục đích
hoàn thiện hơn những quy định của pháp luật về Tội chống người thi hành
công vụ cũng như ngăn ngừa và đấu tranh, phòng chống tội phạm này trên địa
bàn tỉnh Hà Tĩnh cũng như trên cả nước trong giai đoạn hiện nay. Ngoài việc
nhìn nhận đánh giá Tội chống người thi hành công vụ dưới góc độ pháp luật
hình sự luận văn còn đề cập tới những khía cạnh tiêu cực, những hệ lụy và
hậu quả của loại tội phạm này gây nên.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận: Luận văn là công trình nghiên cứu một cách tương đối cụ
thể và có hệ thống về Tội chống người thi hành công vụ trong Luật hình sự Việt
Nam, thực tiễn của tội phạm này trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh và các giải pháp hoàn
thiện pháp luật về Tội chống người thi hành công vụ, ngăn ngừa và đẩy lùi tội
phạm này trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh cũng như trong phạm vi cả nước.

7
Về mặt thực tiễn: Luận văn sẽ đưa lại một cái nhìn tổng quát về lịch sử
phát triển của Tội chống người thi hành công vụ trong Luật hình sự Việt Nam,
phân biệt tội phạm và những vi phạm hành chính có liên quan đến hành vi
chống người thi hành công vụ. Với nhiệm vụ chính là phân tích và nghiên cứu
những quy định của pháp luật hình sự về Tội chống người thi hành công vụ và
tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh,
luận văn sẽ đề xuất những biện pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao việc
đấu tranh phòng, chống tội phạm này một cách có hiệu quả trên địa bàn tỉnh
Hà Tĩnh nói riêng và cả nước nói chung.
7. Bố cục của luận văn

mà chỉ được gián tiếp đề cập trong các văn bản pháp luật bảo vệ sức khỏe và
tính mạng của con người nói chung. Nói như thế không có nghĩa là ở giai
đoạn này, những hành vi phạm đến quyền lợi, sức khỏe và tính mạng của
người thi hành công vụ không xuất hiện, mà trên thực tế những hành vi đó có
xảy ra, với tính chất và mức độ khác nhau. Những hành vi xâm hại đến người

9
thi hành công vụ ở thời kỳ này sẽ là yếu tố để cấu thành cho các tội phạm khác
như: Tội phá hoại công sản; Các tội bắt cóc, tống tiền và ám sát; Tội xâm phạm
an ninh đối nội và an toàn đối ngoại của Nhà nước; Sắc lệnh số 151-SL ngày
12/4/1953 trừng trị địa chủ chống pháp luật; Thông tư số 442-TTg ngày
19/01/1955 tổng kết án lệ về một số tội phạm thông thường. Cụ thể như sau:
Điều 4 Mục 2 Sắc lệnh số 133-SL ngày 20/01/1953 trừng trị những tội
xâm phạm an ninh đối nội và an toàn đối ngoại của Nhà nước quy định:
Kẻ nào phạm những tội vây quét, bắt, giết, tra tấn, khủng bố, hà hiếp cán
bộ và nhân dân, áp bức, bóc lột, cướp phá nhân dân, bắt phu, bắt lính, thu thuế
cho địch, sẽ tuỳ tội nặng nhẹ mà xử phạt như sau: a) Bọn chủ mưu, tổ chức, chỉ
huy sẽ bị xử tử hình hoặc chung thân; b) Bọn hoạt động đắc lực làm hại nhiều
người sẽ bị phạt tù từ 10 năm trở lên; c) Những kẻ phạm các tội trên mà tội trạng
tương đối nhẹ, sẽ bị phạt tù từ 10 năm trở xuống [15].
Điều 6 Sắc lệnh số 151-SL ngày 12/4/1953 trừng trị địa chủ chống
pháp luật quy định:
Địa chủ nào phạm một trong những tội sau đây: 1) Cấu kết với đế quốc,
ngụy quyền, gián điệp thành lập hay cầm đầu những tổ chức, những đảng phái
phản động để chống Chính phủ, phá hoại kháng chiến, làm hại nhân dân, giết
hại nông dân, cán bộ và nhân viên;… thì sẽ bị phạt tù từ 10 năm đến chung
thân hoặc xử tử hình…[15].
Công văn số 452-HS2 ngày 10/8/1970 của Toà án nhân dân tối cao về
thực tiễn xét xử tội giết người quy định những tình tiết tăng nặng đặc biệt
được quy định trong Tội giết người gồm:

mới về pháp luật hình sự nói riêng và pháp luật nói chung là đòi hỏi cấp bách
trong giai đoạn này. Ra đời trong hoàn cảnh đất nước ta đang chập chững
những bước đầu cho sự pháp triển trên cơ sở nền kinh tế bao cấp, xã hội đầy

11
những rối gen, các mối quan hệ xã hội chưa đi vào ổn định…. chính vì vậy
ngay từ khi ra đời Bộ luật Hình sự năm 1985 đã bộc lộ nhiều thiếu sót và chưa
thực sự phù hợp với những yêu cầu của đất nước trong thời kỳ đổi mới.
Tuy nhiên chúng ta cũng không thể phủ nhận những thành tựu, những
kết quả mà Bộ luật Hình sự năm 1985 đem lại cho xã hội ta trong giai đoạn ấy
và đó cũng chính là nền tảng cho sự pháp triển của luật hình sự về sau. Trong
khoảng 15 năm tồn tại, Bộ luật Hình sự năm 1985 đã được sửa đổi, bổ sung 4
lần vào các năm 1989, 1991, 1992 và 1997, trong quá trình ấy đã có trên 100
lượt điều luật được sửa đổi hoặc bổ sung, đáp ứng được phần nào nhu cầu của
công cuộc đổi mới. So với pháp luật hình sự trong những giai đoạn trước thì Bộ
luật Hình sự năm 1985 có phạm vi điều chỉnh rộng hơn, với những quy định rõ
ràng về tội phạm và hình phạt. Hầu hết những tội phạm xảy ra trên thực tế đời
sống đều được quy định thành các điều luật riêng và có chế tài xử lý riêng.
Trong Bộ luật Hình sự năm 1985, Tội chống người thi hành công vụ
được quy định thành một tội phạm riêng tại Điều 205 Mục C các tội xâm
phạm trật tự quản lý hành chính thuộc Chương VIII Các tội xâm phạm an toàn,
trật tự công cộng và trật tự quản lý hành chính. Bên cạnh đó dấu hiệu chống
người thi hành công vụ còn được quy định tại Điều 101 Tội giết người và Điều
109 Tội cố ý gây thương tích hoạc gây tổn hại sức khỏe cho người khác. Cụ thể,
Điều 205 Tội chống người thi hành công vụ quy định:
Người nào dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực chống người thi hành công
vụ cũng như dùng mọi thủ đoạn cưỡng ép họ thực hiện những hành vi trái pháp
luật, nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 101 và Điều 109, thì bị phạt cải
tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Phạm
tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm.

Điều 101 Tội giết người. Nghị quyết số 04/ HĐTP ngày 29-11-1986 của Hội
đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng về Điều 101

13
cũng đã giải thích “Công vụ là một công việc mà cơ quan Nhà nước hoặc tổ
chức xã hội giao cho một người thực hiện” [20].
Ngoài ra hành vi chống người thi hành công vụ còn được quy định là
dấu hiệu để cấu thành Tội phá rối an ninh được quy định tại Điều 83, mục A,
Chương I các tội xâm phạm an ninh Quốc gia: “Người nào nhằm chống lại
chính quyền nhân dân mà kích động, lôi kéo, tụ tập nhiều người phá rối an
ninh chống người thi hành công vụ, cản trở hoạt động của cơ quan Nhà nước
hoặc tổ chức xã hội thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm” [30].
Như vậy cùng là hành vi chống người thi hành công vụ nhưng tùy vào
từng hoàn cảnh, mục đích và hậu quả khác nhau thì sẽ bị xem là các loại tội
phạm khác nhau và có các mức xử lý khác nhau.
Những quy định về Tội chống người thi hành công vụ và các hành vi
liên quan đến người thi hành công vụ được quy định trong giai đoạn này mà
cụ thể là trong Bộ luật Hình sự năm 1985 tuy chưa cụ thể và có phạm vi điều
chỉnh chưa thực sự hợp lý nhưng đã phần nào cho thấy thực trạng về Tội
chống người thi hành công vụ ở nước ta trong giai đoạn này. Thông qua đó
cũng thể hiện sự quan tâm của các nhà lập pháp trong việc điều chỉnh các
hành vi liên quan đến người thực thi công vụ bao gồm việc: bảo vệ quyền lợi
hợp pháp của người thi hành công vụ, xét xử những hành vi chống người thi
hành công vụ cũng như xử lý những sai phạm từ phía người thi hành công vụ.
Năm 1999 Bộ luật Hình sự thứ hai của nước ta được ban hành, sự ra
đời của Bộ luật Hình sự năm 1999 đã thể hiện một bước phát triển mới của
Luật hình sự Việt Nam, góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính
trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, đấu
tranh phòng chống tội phạm trên địa bàn cả nước. Trên cơ sở những nền tảng
của Bộ luật Hình sự năm 1985, Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được sửa đổi,


15
BLHS năm 1985) được giảm xuống còn từ 2 năm đến 7 năm tại Khoản 2
(Điều 257 BLHS năm 1999).
Về cấu thành tội phạm: Không quy định tình tiết loại trừ tội phạm trong
Khoản 1 Điều 205 BLHS năm 1985 “nếu không thuộc trường hợp quy định ở
Điều 101 và Điều 109” tại Khoản 1 Điều 257 BLHS năm 1999. Tại khoản 2
Điều 257 BLHS năm 1999 đã bổ sung và quy định cụ thể, rõ ràng hơn về
những tình tiết định khung tăng nặng, theo đó không chỉ có tình tiết “gây hậu
quả nghiêm trọng” như quy định tại Khoản 2 Điều 205 BLHS năm 1985 mới
được xem là tình tiết định khung tăng nặng mà còn bổ sung thêm các tình tiết
khác, quy định như sau: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì
bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm: Có tổ chức; Phạm tội nhiều lần; Xúi giục, lôi
kéo, kích động người khác phạm tội; Gây hậu quả nghiêm trọng; Tái phạm
nguy hiểm.
Nhìn chung những quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về Tội
chống người thi hành công vụ đã có sự cụ thể và rõ ràng hơn, tạo điều kiện
thuận lợi cho quá trình xét xử, đặc biệt là những quy định cụ thể tại Khoản 2
đã mở rộng phạm vi điều chỉnh phù hợp và sát sao hơn với thực tiễn tình hình
Tội chống người thi hành công vụ.
Tuy nhiên theo ý kiến của bản thân tác giả, cũng như trên cơ sở thực
tiễn của Tội chống người thi hành công vụ trong giai đoạn hiện nay thì một số
sửa đổi về Tội chống người thi hành công vụ tại Điều 257 Bộ luật Hình sự
năm 1999 so với những quy định tại Điều 205 Bộ luật Hình sự năm 1985 là
chưa thực sự phù hợp:
- Việc giảm khung hình phạt cao nhất tại khoản 2 từ 10 năm xuống còn
7 năm là quá nhẹ trong khi đó tình hình tội phạm chống người thi hành công
vụ ngày càng phức tạp, nguy hiểm và có chiều hướng gia tăng về cả số lượng
và nghiêm trọng hơn về hậu quả so với thời kỳ ban hành Bộ luật Hình sự năm


Công vụ là một loại lao động mang tính quyền lực và pháp lý được thực thi
bởi đội ngũ công chức nhằm thực hiện các chính sách của nhà nước trong quá
trình quản lý toàn diện các mặt của đời sống xã hội do công chức nhân danh
nhà nước tiến hành. Còn hoạt động công vụ chính là việc thực hiện các nhiệm
vụ, chức năng của nhà nước, gắn với quyền lực nhà nước, nhân danh nhà
nước và được điều chỉnh bởi ý chí nhà nước nhằm phục vụ lợi ích của nhân
dân và xã hội do công chức thực hiện theo quy định của pháp luật và được
pháp luật bảo vệ. Ngoài ra hoạt động công vụ còn là những hoạt động của các
tổ chức do nhà nước thành lập (được nhà nước uỷ quyền công vụ được).
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia:“Công vụ là một hoạt động
do công chức nhân danh nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật và
được pháp luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân và xã hội.” [62].
Nghị quyết Nghị quyết số 04/ HĐTP ngày 29-11-1986 của Hội đồng thẩm
phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng về Điều 101 Tội giết người
của BLHS năm 1985 cũng đã định nghĩa khái niệm công vụ như sau:“Công
vụ là một công việc mà cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội giao cho một
người thực hiện”. Từ những khái niệm trên ta có thể đưa ra những đặc điểm
và tính chất của công vụ cũng như mục đích phục vụ nhân dân và xã hội của
công vụ:
Nội dung hoạt động công vụ gắn với việc thực hiện chức năng, nhiệm
vụ của nhà nước trong quản lý mọi mặt của đời sống xã hội, đồng thời thực
hiện chức năng tổ chức phục vụ các nhu cầu chung của xã hội không vì mục
đích lợi nhuận; chủ thể thực thi công vụ là công chức. Hoạt động công vụ
không chỉ thuần tuý mang tính quyền lực nhà nước, mà còn bao gồm cả hoạt
động của các tổ chức do nhà nước thành lập (được nhà nước uỷ quyền) để
phục vụ các nhu cầu của nhân dân. Các hoạt động này đều do công chức,
nhân danh nhà nước tiến hành. Nó bao gồm các hoạt động nhân danh quyền

18
lực và các hoạt động của các tổ chức được nhà nước uỷ quyền. Ở các nước

danh quyền lực nhà nước. Theo ý kiến của tác giả “Công vụ là hoạt động của
bộ máy nhà nước do công chức thực hiện, quản lý, kiểm soát mọi mặt của đời
sống nhằm mục đích phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội theo quy định của
pháp luật và được pháp luật bảo vệ đồng thời thể hiện rõ nhất vai trò quản lý
mọi mặt đời sống xã hội của nhà nước”.
Ở nước ta hiện nay, chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào đưa
ra cách hiểu thống nhất về công vụ, trong khi đó khái niệm về công vụ là một
trong những yếu tố quan trọng để chúng ta xây dựng Luật công vụ. Khái niệm
về công vụ cần được ban hành dựa trên bản chất và chức năng của nhà nước,
phù hợp với những đặc điểm riêng của nhà nước pháp quyền XHCN Việt
Nam tuy nhiên cũng phải đáp ứng xu thế chung của thế giới.
1.2.2. Khái niệm người thi hành công vụ
Để xác định như thế nào là Người thi hành công vụ phải xét ở ba khía
cạnh: về chủ thể, về phạm vi thực hiện nhiệm vụ và về thời gian thực hiện
nhiệm vụ. Về chủ thể: Người thi hành công vụ phải là cán bộ, công chức, viên
chức của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức
chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội hoặc cũng có thể là một công dân
bất kỳ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền huy động, yêu cầu thực hiện
nhiệm vụ. Về phạm vi thực hiện nhiệm vụ: Chỉ có thể coi là thi hành công vụ
khi công việc mà họ làm là thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của các cơ
quan nhà nước, các tổ chức nhằm phục vụ lợi ích chung của Nhà nước, của xã
hội. Người đang thi hành công vụ phải là người thi hành một công vụ hợp
pháp, mọi thủ tục, trình tự thi hành phải bảo đảm đúng pháp luật. Về thời gian
thực hiện nhiệm vụ: Người đang thi hành công vụ là người đã bắt đầu thực
hiện nhiệm vụ và chưa kết thúc nhiệm vụ đó.

Trích đoạn Hoàn thiện Điều 257 Bộ luật hình sự Hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành đối với Điều 257 Bộ luật Hình sự Công tác tổ chức Công tác cán bộ Tăng cường các điều kiện vật chất, tinh thần cho các cơ quan tư pháp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status