đại học quốc gia hà nội
KHOA LUT
l-ơng duy hinh
CC TI PHM TRONG LNH VC QUN Lí V
S DNG T AI TRONG LUT HèNH S VIT NAM
(Trờn c s nghiờn cu thc tin trờn a bn thnh ph H Ni)
luận văn thạc sĩ luật học
Hà nội - 2013 2 đại học quốc gia hà nội
KHOA LUT
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƯỜI CAM ĐOAN
Lương Duy Hinh
4
MỤC LỤC
7
1.2.
Khái niệm và ý nghĩa của việc quy định các tội phạm trong
lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai trong luật hình sự
13
1.2.1.
Khái niệm các tội phạm trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai
13
1.2.2.
Ý nghĩa của việc quy định các tội phạm trong lĩnh vực quản lý
và sử dụng đất đai trong luật hình sự
19
1.3.
Khái quát lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam quy định về các
tội phạm trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai
22
1.3.1.
Giai đoạn từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến trước khi
ban hành Bộ luật hình sự năm 1985
22
1.3.2.
Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước
khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999
28
Chương 2: CÁC TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ VÀ SỬ
DỤNG ĐẤT ĐAI THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999
35
2.1.
Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai
Thực tiễn xét xử các tội phạm trong lĩnh vực quản lý và sử
dụng đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội
79
3.1.1.
Đặc điểm tình hình vi phạm pháp luật và tội phạm trong lĩnh
vực quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội
79
3.1.2.
Kết quả xét xử các tội phạm trong lĩnh vực quản lý và sử dụng
đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội
89
3.1.3.
Những tồn tại, hạn chế trong xét xử các tội phạm trong lĩnh
vực quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn thành phố và những
nguyên nhân của nó
95
3.2.
Nhu cầu hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về tội
phạm trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai và nâng cao
hiệu quả áp dụng
101
3.3.
Các giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự
về tội phạm trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai
105
3.3.1.
Về dấu hiệu "đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn
vi phạm"
105
3.3.2.
3.4.2.
Nâng cao vai trò của Viện kiểm sát và chất lượng thực hành
quyền công tố
114
3.4.3.
Nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án
115
3.4.4.
Thực hiện tốt một số biện pháp hỗ trợ phòng ngừa tội phạm
116
KẾT LUẬN
117
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
119 7
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS
: Bộ luật hình sự
CNXH
: Chủ nghĩa xã hội
CTTP
: Cấu thành tội phạm
với tội Sử dụng trái phép tài sản
78
3.1
Tình hình vi phạm pháp luật do Công an thành phố khám
phá, phát hiện
82
3.2
So sánh tình hình tội phạm vi phạm các quy định về quản
lý và sử dụng đất đai với tình hình tội phạm về trật tự
quản lý kinh tế, tội phạm về chức vụ và tổng số tội phạm
xảy ra trên địa bàn thành phố Hà Nội
83
3.3
Số vụ vi phạm các quy định về quản lý và sử dụng đất đai
đã khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử
86
3.4
So sánh giữa án xét xử sơ thẩm các tội phạm trong lĩnh
vực quản lý và sử dụng đất đai với tổng số án hình sự sơ
thẩm, các tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và các tội
phạm về chức vụ trên địa bàn Hà Nội
90
3.5
Cơ cấu loại tội phạm trong lĩnh vực quản lý và sử dụng
đất đai trên địa bàn Hà Nội
91
3.6
So sánh kết quả giải quyết án phạm tội về sử dụng đất đai
trên địa bàn Hà Nội và cả nước
92
quyền trong các cơ quan nhà nước vì động cơ tư lợi cá nhân đã có hành vi làm
trái, lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn… dẫn đến gây ra nhiều hậu
quả xấu về kinh tế - xã hội. Khi "tấc đất" ngày càng khẳng định giá trị là "tấc
vàng", những sai phạm về đất đai cũng ngày càng nhiều hơn. Liên tục xảy ra
những vụ án liên quan đến sai phạm trong quản lý và sử dụng đất đai thời
gian qua, cho thấy loại tội phạm này đang có chiều hướng gia tăng và phức
tạp. Sự phức tạp không chỉ thể hiện ở số người vi phạm, mức độ thiệt hại mà còn
là sự cấu kết của một số cán bộ có chức, có quyền, với những thủ đoạn hết sức
tinh vi, xảo quyệt. Nhiều vụ việc gây bức xúc trong dư luận cả nước, đủ yếu tố
cấu thành tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự, đòi hỏi cần có sự vào
cuộc sát sao, mạnh mẽ của các cấp, các ngành, trong đó, không thể không kể
đến vai trò của các cơ quan bảo vệ pháp luật cần phải nghiêm khắc xử lý.
10
Thủ đô Hà Nội - trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị, khoa học kỹ
thuật và giao lưu quốc tế của cả nước. Những năm gần đây, cùng với tác động
của cơ chế thị trường và xu hướng đô thị hóa ở nhiều địa phương, trên địa bàn
thành phố đang ngày càng gia tăng số vụ vi phạm về quản lý và sử dụng đất
đai, mà đối tượng bao gồm cả đội ngũ cán bộ, công chức, người có thẩm
quyền trong các cơ quan nhà nước cho đến mọi người dân. Yêu cầu trên đặt ra
công tác quản lý và sử dụng đất đai một cách hiệu quả, hợp lý là mục tiêu
quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của thành phố giai đoạn
2010 - 2020, tầm nhìn đến 2050 mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố
lần thứ XV đã đề ra. Để đạt được những mục tiêu đó, cần phải có sự phối hợp
chặt chẽ của các cấp chính quyền, ban, ngành thành phố có liên quan. Bên
cạnh việc tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao ý thức chấp hành pháp
luật về đất đai cho mọi tầng lớp nhân dân, phải đi đôi với việc xử lý nghiêm
những trường hợp vi phạm; truy cứu TNHS đối với những vụ việc đã đủ yếu
tố CTTP, nhằm lập lại trật tự kỷ cương ngay trong hệ thống các cơ quan nhà
nước và tại các địa phương. Giải quyết tình trạng này là một vấn đề không
chung, các tội phạm trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai nói riêng, góp
phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật.
Nhìn chung, không chỉ ở Việt Nam mà nhiều quốc gia trên thế giới
đều dựa trên các điều kiện về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội cụ thể để đưa
ra những thiết chế pháp luật riêng cho mình nhằm đấu tranh phòng, chống tội
phạm trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai. Chọn đề tài này tác giải
mong muốn góp tiếng nói nhất định trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp
luật Việt Nam nói chung, đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng ngừa loại tội
phạm này nói riêng trên địa bàn Hà Nội.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống các
tội phạm trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai, nêu được thực trạng tình
hình vi phạm cũng như công tác đấu tranh xử lý nhóm tội phạm này. Qua đó,
chỉ ra được những vấn đề đang tồn tại, bất cập trong xử lý tội phạm; đề xuất
những giải pháp mang tính đồng bộ, có hệ thống về công tác phòng, chống tội
12
phạm trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai trên phạm vi cả nước nói
chung và thành phố Hà Nội nói riêng cho phù hợp với sự phát triển của Thủ
đô trong giai đoạn hiện nay, góp phần nâng cao tính khả thi trong quá trình áp
dụng pháp luật trên thực tế.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu những
quy định của pháp luật liên quan đến các tội phạm trong lĩnh vực quản lý và
sử dụng đất đai; phát hiện những tồn tại, bất cập trong những quy định của
pháp luật cũng như thực tế đấu tranh phòng, chống tội phạm, để từ đó đưa ra
những kiến nghị, giải pháp, đề xuất hợp lý.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
cấp độ luận văn thạc sĩ luật học, nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống
về thực trạng đấu tranh phòng, chống các tội phạm trong lĩnh vực quản lý và
sử dụng đất đai (trên cơ sở nghiên cứu thực trạng đấu tranh xử lý trên địa bàn
thành phố Hà Nội). Có thể xem những nội dung sau đây là những đóng góp
mới về khoa học của luận văn:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về các tội phạm trong lĩnh
vực quản lý và sử dụng đất đai;
- Đánh giá đúng thực trạng tình hình tội phạm trong lĩnh vực quản lý
và sử dụng đất đai cả nước nói chung, trên địa bàn thành phố Hà Nội nói
riêng. Phân tích, làm rõ những tồn tại và hạn chế trong xét xử các tội phạm
trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội và
những nguyên nhân của nó;
- Xác định sự cần thiết hoàn thiện các quy định pháp luật hình sự về
tội phạm trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai và nâng cao hiệu quả áp
14
dụng. Đồng thời đề xuất các giải pháp có tính khả thi nhằm hoàn thiện các
quy định pháp luật hình sự cũng như nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh
chống, phòng ngừa các tội phạm trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai nói
chung, trên địa bàn Hà Nội nói riêng.
7. Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu và những kiến nghị của luận văn có ý nghĩa quan
trọng đối với việc nâng cao hiệu quả đấu tranh chống và phòng ngừa các tội
phạm trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai trên phạm vi cả nước nói
chung và thành phố Hà Nội nói riêng. Thông qua kết quả nghiên cứu và các
kiến nghị, tác giả mong muốn đóng góp một phần vào kho tàng lý luận về luật
hình sự, cũng như công cuộc đấu tranh phòng, chống nhóm tội phạm có tính
phức tạp, nhạy cảm này.
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác
nghiên cứu, giảng dạy về khoa học pháp lý nói chung, khoa học luật hình sự
quốc gia; là sự bảo hiểm cho cuộc sống, bảo hiểm về tài chính thông qua sự
chuyển nhượng của cải qua các thế hệ và là nguồn lực cho các mục đích sản
xuất và tiêu dùng.
Ở nước ta, việc quản lý đất đai đã được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan
tâm ngay từ những ngày đầu giành độc lập, thống nhất đất nước. Tại phần mở
đầu của Luật Đất đai năm 1993 đã ghi:
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản
xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống,
là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn
hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng. Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta
đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai
như ngày nay [53].
16
Từ khi chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước theo định hướng XHCH thì nhu cầu sử dụng đất (nhất là đất đô thị)
của người dân, các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội nhằm phục vụ cho việc
phát triển đất nước là rất lớn. Cho nên, có nhiều vấn đề đã nảy sinh trong quá
trình quản lý và sử dụng đất đai, như việc sử dụng đất không theo quy hoạch,
kế hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; sử dụng lãng
phí, sử dụng không đúng mục đích hoặc vi phạm các quy định về giao đất, thu
hồi, cho thuê, chuyển quyền, chuyển mục đích sử dụng, lấn chiếm đất… đang
diễn ra hết sức phức tạp. Có nơi, có lúc còn để xảy ra tình trạng buông lỏng
quản lý dẫn đến hàng loạt các vi phạm nghiêm trọng trong việc sử dụng đất.
Thực trạng này đặt ra cho Nhà nước phải quan tâm hơn trong công tác quản lý
đất đai, tăng cường việc phát hiện, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, cố
tình vi phạm và lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ, quyền hạn để vi phạm.
Công tác đấu tranh phòng, chống các vi phạm nói chung, tội phạm nói
riêng trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai nhằm giữ vững an ninh chính
nhân dân, cùng các cơ quan bảo vệ pháp luật và các cơ quan nhà nước, tổ
chức chính trị, chính trị - xã hội, xã hội, đoàn thể tham gia vào cuộc đấu tranh
phòng, chống tội phạm về đất đai, bảo đảm mọi hành vi xâm phạm đều bị
phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời và đúng pháp luật, không bỏ lọt tội
phạm và người phạm tội, tránh làm oan - sai người vô tội.
Đóng vai trò là một công cụ pháp lý quan trọng trong cuộc đấu tranh
phòng, chống tội phạm nói chung, trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai
nói riêng, phải kể đến Luật hình sự với tư cách là một ngành luật duy nhất
trong hệ thống pháp luật của Nhà nước, có chức năng bảo vệ các quan hệ xã
hội quan trọng thuộc các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân và trật tự xã hội; quy định những hành vi nguy
hiểm cho xã hội nào là tội phạm, TNHS, hình phạt và các biện pháp pháp lý
hình sự cần áp dụng đối với những người đã thực hiện các hành vi nguy hiểm
cho xã hội đó. Song song với việc bảo vệ an ninh quốc gia, Luật hình sự còn
bảo vệ các lợi ích khác của xã hội, đó là chế độ kinh tế, nền văn hóa, trật tự,
an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân… nhằm giữ
vững pháp chế, kỷ cương và bảo đảm trật tự pháp luật XHCN. Trong đó,
18
nhóm khách thể loại - các quan hệ xã hội thuộc lĩnh vực trật tự quản lý kinh tế
được quy định và bảo vệ tại Chương XVI của Bộ luật hình sự (BLHS), còn trật
tự quản lý đất đai là các quan hệ xã hội (khách thể) trực tiếp nằm trong số đó.
Trật tự quản lý kinh tế là các quan hệ xã hội đảm bảo cho sự ổn định
và phát triển của nền kinh tế quốc dân, nói cách khác, là sự quản lý của Nhà
nước đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân bằng quyền lực của Nhà nước,
thông qua pháp luật, chính sách, công cụ, môi trường, lực lượng vật chất và
tài chính trên tất cả các lĩnh vực bao gồm tất cả các thành phần kinh tế. Nền
kinh tế đó phải là "nền kinh tế độc lập, tự chủ trên cơ sở phát huy nội lực, chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế" được Nhà nước thực hiện bằng "chính sách
phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" [47, Điều 15].
lượt mình, Nhà nước đòi hỏi tất cả các cơ quan, tổ chức, công dân phải tuân
thủ nghiêm chỉnh pháp luật và các quy tắc XHCN. Cho nên, dưới góc độ pháp
luật, tất cả các hành vi xâm phạm "trật tự quản lý đất đai" đều gây nên những
thiệt hại nhất định cho Nhà nước, tổ chức, công dân và gây mất ổn định trật tự
xã hội. Do đó cần thiết phải bị xử lý. Tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm
của hành vi vi phạm mà áp dụng hình thức xử lý khác nhau, từ kỷ luật, xử
phạt hành chính đến xử lý hình sự.
Có thể nói, ngay từ khi giành được chính quyền, bên cạnh việc bảo vệ
thành quả cách mạng, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc xây dựng
và bảo vệ nền kinh tế của đất nước nói chung, các quan hệ xã hội phát sinh
trong lĩnh vực quản lý đất đai nói riêng không chỉ trên phương diện ban hành
hàng loạt các văn bản có liên quan, mà còn có những biện pháp thiết thực để
cụ thể hóa và đưa các văn bản đó vào thực tiễn cuộc sống. Từ Hiến pháp năm
1959 quy định: "đất hoang… là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu của toàn dân"
[44 , Điều 12], Hiến pháp 1980: "Đất đai… là của Nhà nước - đều thuộc sở hữu
toàn dân" [45, Điều 19] và "Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch
chung, nhằm bảo đảm đất đai được sử dụng hợp lý và tiết kiệm" [45, Điều 20]; đến
Hiến pháp 1992 thì Nhà nước ta khẳng định nhất quán quan điểm: "đất
đai… là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân" [46, Điều 17], "Nhà
nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm
sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả… Tổ chức và cá nhân có trách nhiệm
20
bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm đất, được chuyển quyền sử
dụng đất được Nhà nước giao theo quy định của pháp luật" [ 46, Điều 18].
Để bảo vệ "trật tự quản lý đất đai" với tư cách là khách thể quan trọng
của Luật hình sự, ngay từ lần pháp điển hóa BLHS đầu tiên của nước Cộng
hòa XHCN Việt Nam năm 1985, đã được quy định tại Điều 180 (thuộc
Chương XIII- Các tội phạm về kinh tế). Tuy nhiên, quá trình áp dụng pháp
luật và nhận thức dưới góc độ khoa học pháp lý cho thấy: việc xây dựng tên
sở hữu tư nhân và sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng" [5, tr.287].
Cho nên, để bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị, Nhà nước đã quy định
những hành vi nguy hiểm cho xã hội nào là tội phạm và áp dụng chế tài (hình
phạt) đối với người đã thực hiện hành vi đó. Tội phạm luôn chứa đựng trong
nó đặc tính chống đối lại Nhà nước, chống đối lại xã hội, đi ngược lại lợi ích
chung của cộng đồng, trật tự xã hội, xâm phạm đến quyền, tự do và các lợi
ích hợp pháp của con người.
Tội phạm tồn tại và phát triển cùng với lịch sử tồn tại, phát triển của
xã hội loài người. Đấu tranh phòng, chống tội phạm không chỉ đòi hỏi phải
hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật hình sự nói riêng, mà còn
làm sáng tỏ nguyên nhân và điều kiện của nó để đưa ra các biện pháp phòng
ngừa mang tính xã hội và dựa trên những quy luật tất yếu gắn liền với từng
giai đoạn tương ứng của xã hội. Vì thế:
Đổi mới chính sách xã hội chính là một phương hướng quan
trọng góp phần phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm trong giai đoạn
mới…
Đây là một phương sách vừa có ý nghĩa chiến lược, vừa hiệu
quả, kinh tế và nhân bản. Bản chất của phòng ngừa tội phạm, xét
cho cùng là tạo ra một môi trường sống lành mạnh, trong đó mỗi
người có điều kiện phát triển tự do, hài hòa với cộng đồng và loại
bỏ nhiều nhất các yếu tố làm nảy sinh và phát triển những tiêu cực
xã hội [18, tr. 202, 204].
22
Nghiên cứu BLHS năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009), các
nhà làm luật nước ta đã ghi nhận định nghĩa pháp lý của khái niệm tội phạm:
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định
trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực
hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống
nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ
khác (Khoản 3,4 Điều 8 BLHS).
Quay trở lại việc tìm hiểu về khái niệm tội phạm trong lĩnh vực quản
lý và sử dụng đất đai. Chúng ta đều biết: nền tảng của chính sách hình sự
trong việc bảo vệ các quan hệ xã hội về quản lý và sử dụng đất đai ở Việt
Nam, trước hết, đã được ghi nhận ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946
của Nhà nước ta - Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Qua nhiều lần sửa
đổi, thay thế, đến nay Hiến pháp năm 1992 tiếp tục khẳng định: "đất đai, rừng
núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất… đều thuộc sở hữu toàn
dân" [46, Điều 17] và "Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy
hoạch và pháp luật" [46, Điều 18]. Chính sách hình sự còn được thể hiện rõ
nét bằng việc chính thức ghi nhận loại tội phạm này trong BLHS năm 1985
(Điều 180 - tội Vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ đất đai) và gần đây
nhất là BLHS năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã thể chế hóa
thành các tội danh cụ thể tại Điều 174 (tội Vi phạm các quy định về quản lý
đất đai) và Điều 173 (tội Vi phạm các quy định về sử dụng đất đai), cùng
được đặt trong Chương XVI - Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế.
Trước khi tìm hiểu khái niệm về tội phạm trong lĩnh vực quản lý và sử
dụng đất đai, chúng ta cần hiểu tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế là gì?
Như đã phân tích ở trên, xuất phát từ khái niệm "trật tự quản lý kinh
tế" được hiểu là tổng hợp các quan hệ xã hội đảm bảo cho sự ổn định và phát
triển của nền kinh tế quốc dân, nói cách khác, là sự quản lý của Nhà nước đối
với toàn bộ nền kinh tế quốc dân bằng quyền lực của Nhà nước, thông qua
pháp luật, chính sách, môi trường, lực lượng vật chất và tài chính trên tất cả
các lĩnh vực, bao gồm tất cả các thành phần kinh tế. Nếu xem xét vấn đề dưới
24
góc độ khoa học pháp lý về tội phạm, PGS. TS. Dương Tuyết Miên đưa ra
định nghĩa: "Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế là những hành vi nguy
hiểm cho xã hội, xâm hại nền kinh tế quốc dân, gây thiệt hại cho lợi ích của
Nhà nước, lợi ích hợp pháp của tổ chức và của công dân qua việc vi phạm
chưa nêu bật được các dấu hiệu thuộc về mặt hình thức, năng lực TNHS và
yếu tố lỗi của tội phạm, mà chủ yếu là mô tả hành vi thuộc mặt khách quan
của tội phạm.
Dưới góc độ khoa học luật hình sự, khái niệm tội Vi phạm các quy
định về quản lý đất đai phải được xem xét trên cả ba bình diện, tương ứng với
việc thể hiện được đầy đủ năm dấu hiệu (đặc điểm) cơ bản của tội phạm như
đã phân tích ở trên. Do đó, khái niệm tội phạm này, theo chúng tôi, được hiểu
là hành vi lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ, quyền hạn để giao đất, thu hồi,
cho thuê, cho phép chuyển quyền sử dụng, cho phép chuyển mục đích sử
dụng đất trái pháp luật, xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về đất
đai, do người có chức vụ, quyền hạn cố ý thực hiện, thuộc một trong ba
trường hợp: đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, đất có diện
tích lớn hoặc có giá trị lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng.
* Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai (Điều 173).
Cũng theo quan điểm của PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chí, cho rằng: "Tội
vi phạm các quy định về sử dụng đất đai là việc người có hành vi lấn chiếm
hoặc chuyển quyền sử dụng đất trái với quy định của Nhà nước về quản lý và
sử dụng đất đai gây hậu quả nghiêm trọng" [6, tr. 397]. Định nghĩa này có ưu
điểm là đã chỉ rõ được khách thể trực tiếp mà tội phạm xâm phạm đến, nhưng
điểm hạn chế là mới chỉ mô tả được một số hành vi thuộc mặt khách quan của
tội phạm và chưa nêu được các dấu hiệu về chủ thể của tội phạm này. Vì vậy,
theo chúng tôi, dưới góc độ khoa học luật hình sự, khái niệm tội phạm này
cần hiểu là hành vi lấn chiếm đất hoặc chuyển quyền sử dụng đất, sử dụng đất
trái với các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng đất đai, do người có
năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS cố ý thực hiện, gây hậu quả nghiêm