ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐOÀN VĂN LÂM
CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG CỦA CON NGƢỜI
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM (TRÊN CƠ SỞ CÁC
SỐ LIỆU XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN TỈNH BÌNH DƢƠNG)
Chuyên ngành: Luật hình sự - tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trịnh Quốc Toản
HÀ NỘI - 2013
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM
TÍNH MẠNG CỦA CON NGƢỜI 7
1.1. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về các tội xâm
phạm tính mạng của con ngƣời 7
1.1.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành BLHS năm 1985 7
1.1.2. Giai đoạn từ khi ban hành BLHS năm 1985 đến trước khi ban
hành BLHS năm 1999 19
1.2. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm tính
mạng của con ngƣời 21
1.2.1. Khái niệm các tội xâm phạm tính mạng của con người 21
1.2.2. Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của các tội xâm phạm tính mạng
của con người 25
1.2.3. Chính sách hình sự áp dụng đối với các tội xâm phạm tính mạng
của con người 45
1.3. Phân biệt các tội xâm phạm tính mạng của con ngƣời với một
số tội phạm khác 52
Kết luận Chƣơng 1 57
Chƣơng 2: THỰC TIỄN XÉT XỬ CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH
MẠNG CON NGƢỜI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƢƠNG
GIAI ĐOẠN 2008 – 2012 59
2.1. Đặc điểm chính trị, kinh tế-xã hội tỉnh Bình Dƣơng 59
2.2. Thực tiễn áp dụng các quy định của BLHS năm 1999 trong
điều tra, truy tố, xét xử các tội xâm phạm tính mạng con
ngƣời ở tỉnh Bình Dƣơng 62
lẫn nhau 94
3.3.2. Củng cố và kiện toàn tổ chức hệ thống cơ quan điều tra, VKSND,
TAND đáp ứng yêu cầu với tình hình mới 96
Kết luận chƣơng 3 100
KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS:
Bộ luật hình sự
LPHS:
Lập pháp hình sự
CSHS:
Chính sách hình sự
LHS:
Luật hình sự
TNHS:
Trách nhiệm hình sự
TAND:
Toà án nhân dân
TANDTC:
Toà án nhân nhân tối cao
VKSND:
Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC:
Viện kiệm sát nhân dân tối cao
Bảng 2.9: Thống kê án bị đình chỉ, trả hồ sơ các tội xâm phạm tính mạng
của con người ở tỉnh Bình Dương từ năm 2008 đến 2012. 72
1
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Quyền sống là một trong những quyền tự nhiên, quan trọng nhất mà ai
cũng có như một lẽ đương nhiên. Các thiết chế xã hội đặc biệt là Nhà nước
có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ quyền sống của con người, chống lại bất kỳ
hành vi nào xâm phạm đến quyền này. Luật Quốc tế về nhân quyền đưa ra
các tiêu chí về quyền con người và các đảm bảo quyền con người, trong đó
có quyền sống.
Ngay sau khi Cách mạng tháng 8 thành công, trong bản tuyên ngôn độc
lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình đã khẳng định:
“Mọi người sinh ra có quyền được sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh
phúc…”. Với tinh thần đó, pháp luật nước ta luôn khẳng định bảo vệ quyền
con người tại Điều 71 – Hiến pháp 1992 nước ta quy định: “Công dân có
quyền bất khả xâm phạm về thân thể được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức
khoẻ, danh dự, nhân phẩm…”.
Trên cơ sở Hiến pháp năm 1992, Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999
(được sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã qui định các tội xâm phạm tính mạng
con người và hình phạt tương ứng áp dụng đối với những người phạm tội. Các
qui định của BLHS đã góp phần tích cực trong bảo vệ quyền được sống, bảo
vệ tính mạng con người, góp phần làm ổn định trật tự, an toàn xã hội.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc đấu tranh phòng
ngừa các hành vi xâm phạm tính mạng của các cơ quan tiến hành tố tụng còn
bộc lộ nhiều hạn chế, ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo vệ tính mạng con
người. Những hạn chế đó thể hiện ở việc vẫn còn hiện tượng bỏ lọt tội phạm,
bỏ lọt những hành vi xâm phạm tính mạng con người, không bị điều tra xử lý.
3
tội xâm phạm tính mạng con người được đề cập trong nhiều giáo trình, sách
pháp lý, đề tài nghiên cứu như: Giáo trình LHS Việt Nam trong Phần các tội
phạm của Khoa luật, Đại học quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN), Nhà xuất bản
ĐHQGHN; Giáo trình LHS Việt Nam, tập II của Trường Đại học Luật Hà
Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân năm 1998; Bình luận khoa học BLHS
của Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1987 sau đó tái bản năm 1992, 1997.
Sau khi BLHS năm 1999 được ban hành, đề tài “Các tội xâm phạm tính
mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người” của TS Trần Văn
Luyện, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000; Giáo trình LHS Việt
Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà
Nội, 2000; Giáo trình LHS Việt Nam, Phần các tội phạm của Khoa luật,
ĐHQGHN, Nhà xuất bản ĐHQGHN, Hà Nội, 2002, Tập thể tác giả do
GS.TSKH Lê Văn Cảm chủ biên; Bình luận khoa học BLHS 1999 - Phần các
tội phạm của PGS.TS Phùng Thế Vắc và các tác giả khác, Nhà xuất bản Công
an nhân dân, Hà Nội, 2001; Bình luận khoa học BLHS, Phần các tội phạm,
tập I (Bình luận chuyên sâu) của Th.S Đinh Văn Quế, NXB thành phố Hồ Chí
Minh, 2002; Bình luận khoa học BLHS (được sửa đổi, bổ sung) của PGS.TS
Trần Minh Hưởng, NXB Hồng Đức, 2012.
Các công trình nói trên đã đề cập tội xâm phạm tính mạng con người
dưới góc độ pháp lý hình sự nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một
cách toàn diện và có hệ thống về nhóm tội này. Vì vậy, việc lựa chọn đề tài
các tội xâm phạm tính mạng của con người làm luận văn thạc sĩ luật học là
phù hợp với thực tế yêu cầu về xây dựng và hoàn thiện pháp luật hình sự
(PLHS) hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Mục đích nghiên cứu:
- Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận chung về các tội xâm phạm tính
5
tác giả xác định phạm vi nghiên cứu các tội xâm phạm tính mạng con người
là các tội phạm quy định tại Chương XII của BLHS năm 1999 và thực tiễn xử
lý các tội xâm phạm tính mạng con người trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
+ Phạm vi về thời gian: Khảo sát thực tế 5 năm, từ năm 2008 đến
năm 2012.
5. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
- Cơ sở lý luận:
Cơ sở lý luận của luận văn là hệ thống các quan điểm của Chủ nghĩa
Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng cộng sản Việt Nam về xây
dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân và pháp luật về đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, tội xâm
phạm tính mạng con người nói riêng; là các văn bản pháp luật, các giáo trình
về LHS nói chung và các tội xâm phạm tính mạng con người nói riêng.
- Cơ sở thực tiễn:
Là kết quả khảo sát tình hình xử lý tội phạm xâm phạm tính mạng con
người trên địa bàn tỉnh Bình Dương trong 5 năm từ năm 2008 đến năm 2012
trên cả hai phương diện: Những kết quả đạt được, hạn chế thiếu sót và nguyên
nhân hạn chế, thiếu sót.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu áp dụng những phương pháp nghiên cứu:
Tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh, điều tra xã hội học, tọa đàm trao đổi
và phương pháp chuyên gia.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Ý nghĩa lý luận:
Nội dung của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo
trong quá trình giảng dạy chuyên ngành luật và nghiên cứu hoàn thiện
PLHS Việt Nam.
6
phạm tính mạng của con ngƣời
1.1.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành BLHS năm 1985
Trải qua các giai đoạn lịch sử hình thành và phát triển, xuất phát từ đặc
điểm riêng của mình, LHS Việt Nam nhìn chung có nhiệm vụ bảo vệ chế độ,
quyền làm chủ của nhân dân, quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo
vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức; bảo
vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội; đồng thời
giáo dục mọi người có ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và
chống tội phạm.
Từ khi ra đời đến nay, LHS Việt Nam đã trải qua nhiều thời kỳ thay
đổi, phát triển, từng bước đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc, tăng
cường giao lưu hội nhập với quốc tế của đất nước, xây dựng Nhà nước pháp
quyền Việt Nam XHCN.
* Thời kỳ 1945-1954:
Thời kỳ này đánh dấu bước phát triển quan trọng của quá trình lập pháp
hình sự. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền nhân dân
non trẻ phải đối mặt với những khó khăn chồng chất. Nền kinh tế của đất
nước vốn đã nghèo nàn, lạc hậu, trong khi đó các thế lực thù địch câu kết với
nhau dùng nhiều thủ đoạn thâm độc nhằm đánh đổ chính quyền nhân dân do
Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta phải đánh đổi biết bao mồ hôi,
xương máu mới giành được. Miền Nam, được sự yểm trợ của quân Anh, Thực
dân Pháp xâm chiếm Sài Gòn, rồi sau đó các tỉnh Nam Bộ và Nam Trung Bộ.
8
Trong những ngày đầu giành được chính quyền và liên tiếp thời gian
sau đó, để ổn định an ninh trật tự trong điều kiện chưa xây dựng được hệ
thống luật pháp hình sự, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký lệnh ban hành hàng loạt
các sắc lệnh nhằm giải quyết những vấn đề phát sinh trước mắt. Trong giai
đoạn 1945-1954, Nhà nước ta đã ban hành các văn bản sau:
- Sắc lệnh số 21/SL ngày 14/2/1946 trừng trị bọn phản cách mạng, bọn
Bước vào thời kỳ toàn quốc kháng chiến, kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí
Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (19-12-1946) đến ngày 20-7-
1954, quân dân cả nước đã tiến hành cuộc kháng chiến ròng rã chín năm với
nhiều đau thương mất mát và cuối cùng đã giành được thắng lợi: Đánh đuổi
đế quốc Pháp ra khỏi đất nước, mở ra thời kỳ mới- Cách mạng XHCN ở Miền
Bắc và Cách mạng dân tộc dân chủ ở Miền Nam.
Nghiên cứu các văn bản quy phạm PLHS được ban hành trong thời kỳ
này liên quan đến các tội xâm phạm tính mạng con người nói riêng và các qui
định của LHS nói chung có một số đặc điểm như sau:
- Về tội phạm, PLHS thời kỳ này chưa có quy phạm định nghĩa về tội
phạm, mà chỉ quy định những tội phạm cụ thể và các biện pháp pháp lý hình
sự áp dụng đối với chúng, nhằm phục vụ yêu cầu của cuộc kháng chiến. Chế
định đồng phạm được ghi nhận ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật hình sự,
nhưng mới chỉ được xem xét ở một số khía cạnh nhất định, vẫn chưa có quy
định về khái niệm đồng phạm. Phạm vi đồng phạm được quy định rộng, được
hiểu với nghĩa là đồng thực hành.
- Về hình phạt, các hình phạt được quy định trong thời kỳ này đã được
chia làm hai loại: Hình phạt chính và hình phạt phụ. Các hình phạt chính bao
gồm: Phạt tiền; tù có thời hạn; tù chung thân; tử hình. Các hình phạt phụ bao
gồm: Tịch thu tài sản; tước quyền công dân; phạt tiền; quản thúc. Hình phạt
tiền vừa là hình phạt chính vừa là hình phạt bổ sung.
10
Trong giai đoạn này, không có văn bản nào quy định riêng về tội giết
người mà tội giết người chỉ được đề cập trong các văn bản quy định về một
nhóm tội cần tập trung trấn áp để bảo vệ chính quyền, công sản và một số đối
tượng đặc biệt nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phản đế, phản phong. Theo
Điều 4, Mục 2, Sắc lệnh số 133-SL ngày 20/01/1953, trừng trị những tội xâm
phạm an ninh đối nội và an toàn đối ngoại của Nhà nước quy định:“Kẻ nào
phạm những tội vây quét, bắt, giết, tra tấn, khủng bố, hà hiếp cán bộ và nhân
và nhân dân, áp bức, bóc lột, cướp phá nhân dân, bắt phu, bắt lính, thu thuế
cho địch, sẽ tùy tội nặng nhẹ mà xử phạt như sau: a) Bọn chủ mưu, tổ chức,
chỉ huy sẽ bị xử tử hình hoặc chung thân; b) Bọn hoạt động đắc lực làm hại
nhiều người sẽ bị phạt tù từ 10 năm trở lên; c) Những kẻ phạm các tội trên mà
tội trạng tương đối nhẹ, sẽ bị phạt tù từ 10 năm trở xuống; Điều 6 Sắc lệnh số
151-SL ngày 12/4/1953 trừng trị địa chủ chống pháp luật quy định: Những kẻ
bị cưỡng bức hay bị lừa gạt mà phạm tội thì tùy tội nặng nhẹ, thái độ hối lỗi
của họ mà sẽ bị phạt tù từ 10 năm trở xuống.
Về đường lối xử lí, người phạm tội xâm phạm tính mạng con người mà
tập trung ở tội giết người đã được mở rộng với nhiều loại và mức hình phạt có
tính chất nghiêm khắc khác nhau. Như tại Điểm 3, Thông tư số 442-TTg ngày
19/01/1955 quy định: Cố ý giết người phạt tù từ 5 năm đến 20 năm, nếu có
trường hợp nhẹ thì có thể hạ xuống đến 1 năm, giết người có dự mưu có thể
phạt đến tử hình. Đối với hình phạt bổ sung, được quy định và áp dụng đối
với người phạm tội giết người nhằm hỗ trợ cho hình phạt chính và mở thêm
khả năng pháp lí cho toà án có thể lựa chọn hình phạt phù hợp với tính chất,
mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và nhân thân người phạm tội.
Điều 6 Sắc lệnh số 151-SL ngày 12/4/1953, trừng trị địa chủ chống pháp luật
quy định: Địa chủ nào phạm một trong những tội sau đây: Cấu kết với đế
quốc, ngụy quyền, gián điệp thành lập hay cầm đầu những tổ chức, những
12
đảng phái phản động để chống Chính phủ, phá hoại kháng chiến, làm hại nhân
dân, giết hại nông dân, cán bộ và nhân viên;… thì sẽ bị phạt tù từ 10 năm đến
chung thân hoặc xử tử hình, phải bồi thường thiệt hại cho nông dân, bị tịch
thu một phần hay tất cả tài sản.
* Thời kỳ 1954-1975:
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, miền
Bắc hoàn toàn được giải phóng, miền Nam bị đế quốc Mỹ và bọn tay sai
thống trị. Miền Bắc tiến hành cách mạng XHCN, quyết tâm phát triển đi lên
trong các văn bản của ngành Tòa án cũng đã đề cập các giai đoạn: Âm mưu
phạm tội; Chuẩn bị phạm tội; Phạm tội chưa đạt; Tội phạm hoàn thành.
Xuất phát từ việc phòng chống tội phạm phản cách mạng – là nhóm tội rất
nghiêm trọng cần phải trấn áp ngay từ khi kẻ phạm tội bắt đầu biểu hiện ý
nghĩ phản cách mạng nên hình thành khái niệm về “âm mưu phạm tội” - là
giai đoạn đầu của việc tiến hành các tội phản cách mạng.
Các văn bản quy phạm PLHS thời kỳ này đối với tội xâm phạm tính
mạng con người (giết người) đã đề cập đến khái niệm chuẩn bị phạm tội.
Theo Bản tổng kết số 452-HS2 ngày 10-8-1970 của TANDTC: Muốn gọi là
có dự mưu, việc chuẩn bị kế hoạch giết người của can phạm phải được suy
nghĩ tương đối kỹ càng trước khi bước vào hành động.
Tương tự như giai đoạn chuẩn bị phạm tội, giai đoạn phạm tội chưa đạt
và tội phạm hoàn thành cũng chỉ được đề cập đối với tội giết người trong văn
bản trên: Tội giết người hoàn thành khi người bị nạn chết. Đối với trường hợp
giết người, nhưng không chết, nên thống nhất gọi là giết người chưa đạt; trong
trường hợp này tuy giết người chưa đạt, nạn nhân không chết, nhưng can phạm
cho là đã làm hết mọi việc cần thiết để giết người và tưởng nạn nhân đã chết.
Cùng với sự phát triển của khoa học LHS, khái niệm đồng phạm đã bắt
14
đầu xuất hiện trong các sách báo pháp lý, các báo cáo tổng kết của ngành Tòa
án. Phạm tội có tổ chức lần đầu tiên được đề cập trong Thông tư số 442-TTg
ngày 19-1-1955 của Thủ tướng Chính phủ nhưng thế nào là "có tổ chức" thì
chưa được giải thích.
Nhìn chung trong giai đoạn này có các văn bản PLHS tiêu biểu như:
- Sắc lệnh số 267 ngày 15/6/1956 về trừng trị âm mưu và hành động
phá hoại tài sản nhà nước, hợp tác xã và tài sản riêng của công dân;
- Pháp lệnh ngày 30/10/1967 trừng trị tội phản cách mạng…
Để thực hiện đường lối mà Đảng ta đề ra trong giai đoạn từ năm 1955
đến năm 1976, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và TANDTC đã
So với giai đoạn trước, quy định về tội xâm phạm tính mạng con người
trong giai đoạn này đã có sự phát triển đáng kể trong việc phân hoá TNHS
cũng như trong đường lối xử lí người phạm tội. Cụ thể là:
- Nhiều tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ được bổ sung thêm
trong giai đoạn này. Nhưng điểm đáng chú ý nhất là lần đầu tiên LHS có sự
phân biệt tình tiết tăng nặng chung với tình tiết tăng nặng đặc biệt và tình tiết
giảm nhẹ chung với tình tiết giảm nhẹ đặc biệt.
- Những tình tiết tăng nặng đặc biệt được quy định trong tội giết người
gồm: Giết người vì động cơ đê hèn hoặc có tính chất côn đồ; giết phụ nữ mà
biết là có mang; giết người bằng thủ đoạn nguy hiểm có thể làm chết nhiều
người; giết người trong khi được giao nhiệm vụ công tác hoặc vì nạn nhân thi
hành nhiệm vụ; can phạm có nhân thân rất xấu.
- Những tình tiết giảm nhẹ đặc biệt được quy định trong tội giết người
gồm: Giết người trong tình trạng bị nạn nhân ngược đãi, áp bức tàn tệ; giết
người vượt quá phạm vi phòng vệ cần thiết; giết trẻ em mới đẻ; giết người vì
mê tín; giết người hủi, người điên, người tàn tật, giết trẻ em vì sợ bị lây bệnh
hoặc để khỏi phải nuôi nấng khổ sở trong hoàn cảnh khốn quẫn về kinh tế.
16
- Những tình tiết tăng nặng thông thường được quy định trong tội giết
người gồm: Giết người với lỗi cố ý trực tiếp; giết người có tổ chức; giết người
có sự lợi dụng chức vụ, chuyên môn, nghề nghiệp, vũ khí được giao phó; giết
người gây ảnh hưởng chính trị xấu một cách rõ rệt…
- Những tình tiết giảm nhẹ thông thường được quy định trong tội
giết người gồm: Giết người có sự đồng tình của nạn nhân; can phạm là vị
thành niên…
Lần đầu tiên, đường lối xử lí người phạm tội giết người được quy định
một cách rõ ràng trong LHS như khi nào thì có thể và nên áp dụng hình phạt
tử hình, khi nào thì có thể áp dụng án treo, cần xét xử như thế nào khi vừa có
tình tiết tăng nặng đặc biệt, vừa có tình tiết giảm nhẹ đặc biệt. Cụ thể là:
được ban hành cũng như những văn bản pháp luật khác của Chính phủ cách
mạng lâm thời vẫn tiếp tục được áp dụng. Nhưng nếu có điều khoản nào đã
được quy định một cách quá tổng quát, thì có thể và cần thiết phải vận dụng
luật lệ đã được thi hành ở miền Bắc. Đối với vấn đề nào mà ở miền Nam
trước đây chưa có luật lệ mà miền Bắc đã có, thì vận dụng luật lệ đang được
thi hành ở miền Bắc, nhưng phải xem xét vận dụng vào tình hình, đặc điểm
của miền Nam cho phù hợp. Đối với miền Bắc, các vấn đề nào mà miền Bắc
chưa có hoặc tuy đã có nhưng chưa thích hợp mà miền Nam đã có và tiến bộ
hơn thì áp dụng luật lệ ở Miền Nam.
Nhìn chung, trước tình hình cách mạng mới của đất nước, LHS cũng có
nhiều đổi mới quan trọng. Tuy nhiên, nhiệm vụ chủ yếu, xuyên suốt từ sau giải
phóng đến nay của pháp LHS là bảo vệ vững chắc Nhà nước XHCN, chế độ
XHCN, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, tạo điều kiện để
Nhà nước ta thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước.
18
Tiêu biểu trong công tác LPHS thời kỳ từ năm 1975 đến trước năm
1985 là Sắc luật số 03-SL/76 ngày 15/3/1976 quy định các tội phạm và hình
phạt. Sắc luật gồm 4 chương, 12 điều, quy định 7 loại tội phạm: Tội phản
cách mạng; Tội xâm phạm tài sản công cộng; Tội xâm phạm đến thân thể và
nhân phẩm của công dân; Tội phạm kinh tế; Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn
và tội hối lộ; Tội xâm phạm tài sản riêng của công dân; Tội xâm phạm đến
trật tự công cộng, an toàn công cộng và sức khỏe của nhân dân. Các qui định
này tiếp tục được hoàn chỉnh, bổ sung thành nhiều chương trong phần các tội
phạm của BLHS năm 1985 và 1999 sau này như các chương: Tội xâm phạm
an ninh quốc gia; tội xâm phạm tính mạng sức khỏe con người; tội xâm phạm
trật tự quản lý kinh tế và chức vụ…
Về tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con
người, Sắc luật số 03/SL ngày 15/3/1976 nêu 5 tội thuộc nhóm tội xâm phạm
tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người là tội giết người, tội