ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
DƢƠNG THỊ NGỌC THƢƠNG
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA
NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
(TRÊN CƠ SỞ CÁC SỐ LIỆU ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH)
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. CHU THỊ TRANG VÂN
HÀ NỘI - 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
1.1.1 Trách nhiệm pháp lý 8
1.1.2 Trách nhiệm hình sự và các đặc điểm cơ bản của trách nhiệm
hình sự 8
1.1.3 Cơ sở của trách nhiệm hình sự 10
1.2 NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI VÀ TRÁCH NHIỆM
HÌNH SỰ CỦA NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI 11
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của ngƣời chƣa thành niên 11
1.2.2 Khái niệm trách nhiệm hình sự của ngƣời chƣa thành niên
phạm tội 15
1.3 SƠ LƢỢC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA NGƢỜI CHƢA THÀNH
NIÊN PHẠM TỘI 18
1.3.1 Giai đoạn từ khi sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trƣớc khi
ban hành Bộ luật hình sự đầu tiên năm 1985 18
1.3.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến nay 20
1.4 TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA NGƢỜI CHƢA THÀNH
NIÊN TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ CỦA MỘT SỐ NƢỚC TRÊN THẾ GIỚI 23
1.4.1 Trách nhiệm hình sự của ngƣời chƣa thành niên trong pháp luật
Quốc tế 23
1.4.2 Quy định về trách nhiệm hình sự của ngƣời chƣa thành niên
phạm tội trong Bộ luật hình sự của một số nƣớc trên thế giới 24
Chƣơng 2: TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA NGƢỜI CHƢA
THÀNH NIÊN PHẠM TỘI THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT
NAM HIỆN HÀNH VÀ THỰC TIỄN TRUY TỐ, XÉT XỬ
NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THỜI GIAN QUA 29
2.1. NGUYÊN TẮC XỬ LÝ ĐỐI VỚI NGƢỜI CHƢA THÀNH
NIÊN PHẠM TỘI TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
hợp ngƣời chƣa thành niên phạm tội nhiều lần, phạm tội liên tục 82
3.2.5 Hoàn thiện quy định liên quan đến quyết định hình phạt cho
ngƣời chƣa thành niên trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc
phạm tội chƣa đạt 82
3.3 HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ THỜI HIỆU TRUY CỨU
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VÀ THỜI HIỆU THI HÀNH BẢN
ÁN ĐỐI VỚI NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI 84
3.4 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ KHÁC 84
KẾT LUẬN 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
BLHS:
Bộ luật hình sự
BLTTHS:
Bộ luật tố tụng hình sự
NCTN:
Ngƣời chƣa thành niên
TNHS:
Trách nhiệm hình sự
TAND:
Toà án nhân dân
VKSND:
Viện kiểm sát nhân dân
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Số lƣợng NCTN bị khởi tố theo hai nhóm tuổi tại thành phố
Hồ Chí Minh 56
Bảng 2.2: Các nhóm tội phạm của NCTN thực hiện tại Thành phố Hồ
quốc tế hiện nay, nền kinh tế nƣớc ta phát triển theo kinh tế thị trƣờng định
hƣớng xã hội chủ nghĩa đã đạt đƣợc những thành tựu quan trọng trong việc
thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ nhƣ: ứng phó có kết quả trƣớc những diễn
biến phức tạp của kinh tế thế giới và trong nƣớc; cơ bản giữ vững ổn định
kinh tế vĩ mô, tốc độ phát triển đạt đƣợc mức khá cao, GDP trên đầu ngƣời
năm 2012 đã vƣợt mức 1.300 USD. Đời sống của nhân dân tiếp tục đƣợc cải
thiện; chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng - an ninh đƣợc tăng cƣờng; độc
lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ đƣợc giữ vững; hoạt động đối
ngoại, hội nhập quốc tế đƣợc mở rộng, vị thế, uy tín quốc tế của nƣớc ta ngày
càng đƣợc nâng cao.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đã đạt đƣợc, nƣớc ta vẫn còn
2
gặp nhiều khó khăn và thách thức to lớn nhƣ tiêu cực của quá trình toàn cầu
hóa kinh tế đã tác động, ảnh hƣởng nhất định đến đời sống kinh tế - văn hóa -
xã hội của nƣớc ta. Nguy cơ phá vỡ các nền văn hóa truyền thống của dân tộc,
nhất là các truyền thống văn hóa nhân văn nhƣ: lối sống, đạo đức, nghệ
thuật,… bởi quá trình toàn cầu hóa đã tạo điều kiện cho các dòng văn hóa thác
loạn, lối sống không tốt của các nƣớc tràn ngập vào ồ ạt, bất khả kháng không
thể chặn nổi. Trong đó, thanh niên và NCTN là đối tƣợng dễ bị tác động nhất.
Đối với mỗi quốc gia thanh niên bao giờ cũng giữ một vai trò hết sức to
lớn, họ là sức sống hiện tại và tƣơng lai của dân tộc. Thanh niên luôn là lực
lƣợng chiến lƣợc mà mỗi quốc gia, dân tộc quan tâm đầu tƣ, phát triển. Sinh
thời, Bác Hồ đã dạy “Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là
do các thanh niên” và tƣơng lai đất nƣớc “Việt Nam có được vẻ vang sánh
vai với các cường quốc năm châu được hay không chính là nhờ một phần rất
lớn ở công học tập của các cháu”.
Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 25/7/2008 Hội nghị lần thứ bảy Ban
Chấp hành Trung ƣơng khóa X về tăng cƣờng sự lãnh đạo của Đảng đối với
công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đã xác
tội của NCTN ngày càng nghiêm trọng hơn, thủ đoạn hoạt động tinh vi, xảo
quyệt hơn, đa dạng, sử dụng nhiều loại phƣơng tiện công cụ nguy hiểm, gây
ra hậu quả rất nghiêm trọng.
Từ các vấn đề trên, Tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài “TNHS của
NCTN phạm tội trong Luật hình sự Việt Nam trên cơ sở các số liệu địa bàn
Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn tốt nghiệp. Qua đó, nghiên cứu
một cách toàn diện về TNHS của NCTN phạm tội trong Luật hình sự Việt
Nam, đồng thời kiến nghị những giải pháp khắc phục nhằm hƣớng tới một hệ
thống pháp luật hình sự ngày càng hoàn thiện hơn, nhân văn hơn.
4
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Trong thời gian gần đây đã có một số công trình nghiên cứu khoa
học trực tiếp hoặc gián tiếp nghiên cứu đến đề tài này, hoặc nghiên cứu ở
trong tƣơng quan là một phần, một mục trong các sách giáo trình, sách
chuyên khảo, bình luận khoa học hoặc đề cập chung khi các nhà làm luật
nghiên cứu về TNHS.
Về sách bình luận khoa học, sách chuyên khảo, sách giáo trình có các
nghiên cứu: “Chương XVIII – Những đặc thù về TNHS đối với NCTN phạm
tội” trong giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), NXB Đại học quốc
gia Hà Nội, năm 2007, TS. Trịnh Quốc Toản, TS. Hoàng Văn Hùng;
“Chương XVI – TNHS đối với NCTN phạm tội”, trong sách giáo trình Luật
hình sự Việt Nam (Tập thể Tác giả do GS.TSKH Lê Văn Cảm chủ biên).
Đối với các công trình dƣới dạng bài viết đƣợc đăng trên các tạp chí
khoa học pháp lý có thể kể đến các công trình nhƣ: bài viết “Tư pháp hình sự
đối với NCTN; Những khía cạnh pháp lý hình sự, tố tụng hình sự, tội phạm
học và so sánh luật học (Phấn thứ I, những khía cạnh pháp lý hình sự)” của
GS.TSKH Lê Văn Cảm và TS. Đỗ Thị Phƣợng đăng trên Tạp chí Tòa án nhân
dân, số 20-10/2004; ThS. Nguyễn Thanh Trúc có bài viết “Biện pháp miễn
chấp hành có điều kiện thời hạn còn lại của hình phạt tù đối với NCTN phạm
hoàn thiện chế định này trong BLHS Việt Nam hiện hành.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu:
Thứ nhất, làm rõ một số vấn đề lý luận về TNHS của NCTN phạm
tội trong Luật hình sự Việt Nam. Trong đó tập trung nghiên cứu khái quát
về TNHS, TNHS của NCTN, các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam
về TNHS của NCTN và thực tiễn xét xử NCTN phạm tội tại địa bàn thành
phố Hồ Chí Minh
6
Thứ hai, nghiên cứu TNHS của NCTN phạm tội trong luật hình sự
Việt Nam hiện hành. Trong đó làm rõ các nguyên tắc xử lý, quy định hình
phạt và các biện pháp tƣ pháp áp dụng với NCTN phạm tội.
Thứ ba, đề xuất một số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật hình
sự Việt Nam và các biện pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định này.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu TNHS của NCTN phạm
tội, luận văn có một số giới hạn về phạm vi nghiên cứu cụ thể nhƣ sau:
Thứ nhất, về địa bàn nghiên cứu Tác giả chỉ tập trung vào nghiên cứu
trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh thông qua thực tiễn xét xử trong vòng 5
năm từ năm 2007 đến năm 2011.
Thứ hai, về số liệu thống kê dựa theo số liệu của VKSND thành phố
Hồ Chí Minh. Tác giả giới hạn số liệu thống kê về tình hình các vụ án do
NCTN thực hiện đƣợc đƣa ra xét xử trên 24 Quận Huyện của thành phố Hồ
Chí Minh giai đoạn 5 năm (2007 – 2011). Số liệu đƣợc Tác giả thu thập từ
VKSND thành phố Hồ Chí Minh.
4. CƠ SỞ PHƢƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Cơ sở phƣơng pháp luận
Cơ sở phƣơng pháp luận đƣợc sử dụng trong việc nghiên cứu đề tài
là Phép biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác Lê Nin và Chủ nghĩa duy
NCTN phạm tội.
8
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN
PHẠM TỘI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
1.1.1 Trách nhiệm pháp lý
Trong đời sống xã hội, chính trị và pháp lý “trách nhiệm” đƣợc hiểu
theo hai nghĩa tƣơng đồng, thống nhất nhƣ sau:
Một là, theo từ điển tiếng Việt “trách nhiệm” có nghĩa là điều phải
làm, phải gánh vác hoặc phải nhận về phía mình.
Hai là, “trách nhiệm” là hậu quả bất lợi do hành vi của một ngƣời gây
ra, vi phạm bổn phận, nghĩa vụ và ngƣời đó phải gánh chịu trƣớc ngƣời khác,
trƣớc Nhà nƣớc.
Trách nhiệm pháp lý đƣợc đặt ra tùy theo tính chất vi phạm của hành vi
đó đối với từng nhóm quan hệ xã hội khác nhau đƣợc pháp luật bảo vệ, bao
gồm các nội dung nhƣ: trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm hành chính, trách
nhiệm dân sự, TNHS v.v… Dƣới góc độ khoa học pháp lý “Trách nhiệm
pháp lý được hiểu là hậu quả bất lợi của một chủ thể vi phạm pháp luật phải
gánh chịu và được thể hiện bằng một hay nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà
nước được pháp luật quy định” [65, tr.41]
1.1.2 Trách nhiệm hình sự và các đặc điểm cơ bản của trách
nhiệm hình sự
Thuật ngữ “TNHS” không đƣợc ghi nhận dƣới dạng định nghĩa nhƣng
tinh thần của chế định TNHS lại đƣợc ghi nhận trực tiếp tại Điều 2, Điều 8 và
Điều 16 BLHS và gián tiếp nhƣ là sự liên kết xuyên suốt các quy định của phần
10
nhiều biện pháp cưỡng chế của nhà nước do luật hình sự quy định đối với
người phạm tội” [ 65, tr 46]
1.1.3 Cơ sở của trách nhiệm hình sự
Cở sở của TNHS đƣợc hiểu là yếu tố nền tảng, những căn cứ chung dựa
vào đó, các cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền mới có thể áp dụng TNHS đối
với ngƣời thực hiện hành vi phạm tội. Nhƣ vậy, cơ sở của TNHS là những
vấn đề lý luận nhằm lý giải cho vấn đề là tại sao một ngƣời thực hiện hành vi
phạm tội phải chịu TNHS về tội phạm đã thực hiện của mình. Việc tìm hiểu
về cơ sở của TNHS sẽ giúp chúng ta đi vào phân tích hai vấn đề cơ sở triết
học và cơ sở pháp lý của TNHS đối với NCTN phạm tội.
a. Về cơ sở triết học
Các nhà làm luật nƣớc ta buộc ngƣời thực hiện hành vi vi phạm pháp
luật phải chịu TNHS về hành vi tội phạm mà họ đã thực hiện, thông qua việc
phân tích về cơ sở triết học của TNHS đối với ngƣời phạm tội. Qua đó, giải
quyết mối quan hệ giữa tự do và trách nhiệm “Cơ sở của mọi trách nhiệm kể
cả trách nhiệm đạo đức và trách nhiệm pháp lý trong đó có TNHS là sự tự do
của con người. Con người phải chịu trách nhiệm khi có tự do” [33, tr 90]
Trách nhiệm chỉ đƣợc đặt ra khi con ngƣời có tự do và ngƣợc lại tự do là
cơ sở của trách nhiệm. Hành vi của con ngƣời không phải là sự phản ánh trực
diện đối với hoàn cảnh mà nó là sự phản ứng thông qua sự suy xét của lý trí và
sự quyết định của ý chí. Chính vì thế, khi đặt trong cùng một hoàn cảnh, chịu sự
tác động nhƣ nhau của những điều kiện bên ngoài nhƣng mỗi ngƣời khác nhau
lại có cách xử sự khác nhau. Trong trƣờng hợp họ lại chọn cách xử sự xâm hại
đến khách thể đƣợc luật hình sự bảo vệ thì họ phải chịu TNHS về chính hành vi
phạm tội của mình. Vì vậy, cơ sở để quy kết TNHS đối với ngƣời phạm tội
chính là do họ đã thể hiện sự tự do trong việc lựa chọn cách hành xử trái với quy
định pháp luật, trong khi họ vẫn có thể lựa chọn những cách hành xử khác phù
hợp với lợi ích của bản thân và lợi ích của cộng đồng, xã hội.
12
cộng đồng xã hội quan tâm và bảo vệ. Nghiên cứu khái niệm NCTN chính là
nghiên cứu về phạm vi các đối tƣợng đƣợc xem là NCTN.
Dƣới góc độ tâm sinh lý NCTN là những ngƣời đang trong giai đoạn
đầu của quá trình phát triển. Từ khi đƣợc sinh ra đến trƣởng thành con ngƣời
cần phải trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau từ sự phát triển toàn diện
về thể chất cũng nhƣ tinh thần. Ở giai đoạn đầu của lứa tuổi thanh niên, cùng
với sự phát triển mạnh mẽ của cơ thể, đời sống tâm sinh lý của NCTN cũng
bắt đầu có những biến đổi sâu sắc. NCTN chịu sự tác động chủ yếu của môi
trƣờng sống và họ chịu sự chi phối có tính chất quyết định bởi nền giáo dục
của gia đình, nhà trƣờng và xã hội. Chính vì vậy, có thể kết luận dƣới góc độ
tâm sinh lý, NCTN là ngƣời chƣa phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần.
Dƣới góc độ pháp luật Việt Nam theo hệ thống một số văn bản pháp
luật quy định về khái niệm NCTN cụ thể tại Điều 18 Bộ luật dân sự năm 2005
“Người từ đủ từ 18 tuổi trở lên là người thành niên…”, Điều 161 Bộ luật Lao
động năm 2012 “Người lao đồng chưa thành niên là người lao động dưới 18
tuổi”, Điều 68 BLHS hiện hành “NCTN từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi…”.
Việc xác định NCTN theo pháp luật Việt Nam có sự đồng nhất với các
Công ƣớc của Liên hợp quốc. Tuy nhiên, khái niệm NCTN trong pháp luật
Việt Nam không đồng nhất với khái niệm trẻ em nhƣ các Công ƣớc của Liên
hợp quốc. Theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 Điều 1
quy định“Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”, quy định này không
trái với các Công ƣớc của Liên hợp quốc vì tại Công ƣớc về quyền Trẻ em.
Nhƣ vậy, theo pháp luật Việt Nam khái niệm NCTN và trẻ em là hai khái
niệm khác biệt, NCTN là ngƣời chƣa đủ 18 tuổi, còn trẻ em là ngƣời chƣa đủ
16 tuổi. Nhƣ vậy, thông qua các quy định trong các Công ƣớc của Liên hợp
quốc và các văn bản pháp luật Việt Nam, chúng ta có thể kết luận: “NCTN là
người chưa đủ 18 tuổi”.
13
giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đúng chính sách, chủ trƣơng,
nguyên tắc và đƣờng lối xử lý hình sự đối với những ngƣời phạm tội ở các
nhóm tuổi khác nhau.
Vấn đề xác định tuổi theo quy định của luật hình sự là tính tuổi tròn,
tuổi đủ, nghĩa là phải đủ ngày, đủ tháng. Ví dụ: NCTN là ngƣời chƣa đủ 18
tuổi, nhƣ vậy 17 tuổi, 11 tháng 29 ngày vẫn đƣợc xem là ngƣời chƣa đủ 18
tuổi vẫn là NCTN.
Việc tính tuổi của NCTN sẽ căn cứ trên những giấy tờ có ghi nhận ngày
sinh mà trƣớc hết chính là giấy khai sinh của họ. Tuy nhiên, trên thực tế có
những trƣờng hợp không xác định đƣợc ngày, tháng, năm sinh của bị can, bị
cáo vì những lý do nhƣ: bị can, bị cáo không có giấy khai sinh, không có giấy
tờ tùy thân,… Điều này sẽ gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng
trong việc xác định tuổi của bị can, bị cáo. Chính vì thế, Viện Kiểm sát nhân
dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tƣ pháp, Bộ Lao động,
thƣơng binh và xã hội đã ban hành Thông tƣ liên tịch số 01/2011/TTLT –
VKSTC – TANDTC – BCA – BTP – BLĐTBXH ngày 12/7/2011 về hƣớng
dẫn thi hành một số quy định của BLTTHS đối với ngƣời tham gia tố tụng là
NCTN, theo đó tuổi chịu TNHS sẽ đƣợc tính dựa vào Điều 6 của Thông tƣ
liên tịch với những quy định rất cụ thể về xác định tuổi của bị can, bị cáo:
- Trong trƣờng hợp xác định đƣợc tháng sinh cụ thể nhƣng không
xác định đƣợc ngày thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh của
bị can, bị cáo.
- Trong Trƣờng hợp xác định đƣợc quý cụ thể của năm, nhƣng không
xác định đƣợc ngày tháng nào trong quý đó thì phải lấy tháng cuối cùng và
ngày cuối cùng của tháng đó trong quý làm ngày sinh của bị can, bị cáo;
- Trong trƣờng hợp xác định đƣợc cụ thể nửa đầu năm hay nửa cuối
15
năm, nhƣng không xác định đƣợc ngày tháng thì phải lấy ngày 30 tháng 6
(Nửa đầu năm) hoặc ngày 31 tháng 12 (nửa cuối năm) làm ngày sinh của
phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Bên
cạnh đó, Điều 68 của BLHS cũng quy định giới hạn ở ngƣỡng trên để xem xét
theo hệ thống áp dụng tƣ pháp“NCTN từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội
phải chịu TNHS theo những quy định của chương này, đồng thời theo những
quy định khác của phần chung Bộ luật không trái với những quy định của
chương này”. Từ những phân tích trên, có thể định nghĩa NCTN phạm tội
“NCTN phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS là tội phạm”.
Thứ ba, cơ sở của pháp lý của TNHS của NCTN phạm tội đƣợc quy
định trong BLHS Việt Nam cụ thể đƣợc quy định tại chƣơng X của BLHS
hiện hành và các văn bản pháp luật của Nhà nƣớc về các nội dung liên quan
đến NCTN phạm tội.
Thứ tư, NCTN thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của
họ trái với quy định của pháp luật hình sự Việt Nam. NCTN có quyền tự do
lựa chọn cách xử sự của mình cho phù hợp với lợi ích của bản thân mình và
lợi ích chung của xã hội. Tuy nhiên, họ lại chọn cách xử sự xâm hại đến
khách thể đƣợc luật hình sự bảo vệ thì trong trƣờng hợp này họ phải chịu
TNHS về chính hành vi phạm tội của mình gây ra.
Thứ năm, TNHS của NCTN mang tính chất công, chỉ có Nhà nƣớc
mới có quyền buộc NCTN phạm tội phải chịu TNHS trƣớc Nhà nƣớc, bản
án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Toà án là cơ sở pháp lý quan trọng
nhất để xác nhận NCTN thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật
hình sự quy định là bị cáo chính thức bị coi là “tội phạm” và“có tội”. Theo
nguyên tắc hiến định quy định tại Điều 72 Hiến pháp năm 1992 và Điều 9
17
BLTTHS năm 2003 quy định “không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án
kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật”, quy định này phù hợp với quy
định tại khoản 1 Điều 11 của Tuyên ngôn Thế giới về nhân quyền năm
1948 “Mỗi bị cáo dù đã buộc tội có quyền được coi là vô tội cho đến khi
ở một chƣơng riêng biệt, độc lập đó là chƣơng X của BLHS hiện hành. Việc
này xuất phát từ tính đặc biệt của chủ thể thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã
hội. Nội dung này cũng xuất phát từ chính sách nhân đạo Nhà nƣớc và phù
hợp với những quy định tại các Điều ƣớc, các Công ƣớc quốc tế.
1.3 SƠ LƢỢC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
1.3.1 Giai đoạn từ khi sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trƣớc
khi ban hành Bộ luật hình sự đầu tiên năm 1985
Cách mạnh tháng 8 năm 1945 thành công đã mở ra một thời kỳ mới của
dân tộc Việt Nam, ngày 02/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn
độc lập khai sinh ra nƣớc Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Từ năm 1945 đến năm
1959, nƣớc ta vẫn sử dụng các văn bản pháp luật đƣợc ban hành trong chế độ
thuộc địa trƣớc năm 1945. Trong Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 của Chủ
tịch chính phủ lâm thời Việt Nam tại Điều 1 quy định: “Cho đến khi ban hành
những bộ pháp luật duy nhất cho toàn cõi nước Việt Nam, các luật lệ hiện
hành ở Bắc, Trung và Nam bộ vẫn tạm thời giữ nguyên như cũ, nếu những
luật lệ ấy không trái với những điều thay đổi ấn định trong sắc lệnh này”.
Cùng với việc duy trì pháp luật của chế độ cũ nhƣ một giải pháp cấp
thiết, chính quyền cách mạng đã khẩn trƣơng xây dựng pháp luật của chế độ
mới nhằm đáp ứng các yêu cầu, đòi hỏi của cuộc kháng chiến cứu nƣớc.
Nguồn luật hình sự chủ yếu là các Sắc lệnh với số lƣợng tƣơng đối lớn trên
nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống, văn hoá xã hội. Giai đoạn 1945-1959
có sự xuất hiện và phát triển của hệ thống án lệ mới.