ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
NGUYỄN VĂN DUẨN
NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH VỀ VAI TRÒ CỦA ASEAN ĐỐI VỚI
VIỆT NAM
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quan hệ quốc tế
Mã số: 60.31.40
Người hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ Đào Minh Hồng
Hà Nội - 2011
MỤC LỤC
MỤC LỤC .................................................................................................... 1
MỞ ĐẦU…………………………………………………………………..…5
1. Lý do chọn đề tài ..................................................................................... 5
2. Mục đích nghiên cứu ............................................................................... 5
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................ 6
4. Lịch sử vấn đề và nguồn tư liệu ............................................................... 7
5. Phương pháp nghiên cứu ......................................................................... 9
6. Những đóng góp của đề tài .................................................................... 11
7. Bố cục của đề tài ................................................................................... 12
Chương 1: ASEAN VÀ VIỆT NAM ......................................................... 13
1.1 Khái quát quan hệ Việt Nam – ASEAN ............................................. 13
1.1.1 Quan hệ Việt Nam – ASEAN thời kỳ 1967 – 1978 ............................. 13
1.1.2 Quan hệ Việt Nam - ASEAN thời kỳ 1979 – 1991 .............................. 18
3.2.1 Nguyên nhân khách quan…………………………………………………….68
3.2.2 Nguyên nhân chủ quan…………………………………………………….…70
3.3 Những kiến nghị và đề xuất………………………………….…………..…..72
3.3.1 Khắc phục nguyên nhân khách quan………………………………………....72
3.3.2 Khắc phục nguyên nhân chủ quan…………………………………………...74
KẾT LUẬN ................................................................................................. 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 80
PHỤ LỤC………………………………………………………………………….82
2
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
AEC
Cộng đồng Kinh tế ASEAN
AEM
Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN
AFTA
Khu vực mậu dịch Tự do ASEAN
Cộng đồng An ninh ASEAN
ASCC
Cộng đồng Xã hội Văn hóa ASEAN
CEPT
Chương trình Thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung
CAJ
Liên đoàn báo chí ASEAN
COC
Bộ quy tắc ứng sử Biển Đông
DOC
Tuyên bố về cách ứng sử của các bên ở Biển Đông
EAC
Cộng đồng Đông Á
IAI
Sáng kiến Liên kết ASEAN
B/ DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Cán cân Thương mại Việt Nam – Trung Quốc ...................................... 35
Biểu đồ 2: Tỉ lệ sinh viên khảo sát theo niên học ................................................... 49
Biểu đồ 3:Tỉ lệ chọn quốc gia đến du lịch của sinh viên ........................................ 59
Biểu đồ 4: Tầm quan trọng của các quốc gia trong ASEAN ................................... 63
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chủ nghĩa khu vực hay khu vực hóa đã và đang trở thành một xu thế
phát triển tất yếu. Vì thế, các cộng đồng khu vực đang hình thành và phát
triển mạnh mẽ ở nhiều nơi trên thế giới như EU ở châu Âu, ASEAN ở Đông
Nam Á hay APEC, NAFTA…
Lợi ích của mỗi quốc gia khi tham gia vào một tổ chức khu vực là dễ
thấy và rất rõ ràng, nhất là lợi ích kinh tế và an ninh. Đây cũng chính là lý do
Việt Nam gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 1995,
cộng đồng khu vực này hình thành từ năm 1967. Điều đáng lưu ý là tham gia
vào một tổ chức khu vực không chỉ là công việc của nhà nước và lãnh đạo các
cấp từ trung ương đến địa phương mà ở một góc độ nào đó còn cần có sự
tham gia của người dân. Nhận thức của người dân về vai trò của ASEAN đối
với Việt Nam tác động trực tiếp đến mức độ tham gia và ủng hộ của người
dân đối với ASEAN, đồng thời ảnh hưởng không nhỏ đến mức độ tham gia
của Việt Nam vào ASEAN và đến sự phát triển của tổ chức này trong tương
lai. Vì thế, việc tìm hiểu nhận thức của người Việt Nam về vai trò của
ASEAN đối với Việt Nam là một đề tài nên làm và đáng được quan tâm.
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu về vai trò của ASEAN đối với Việt Nam là tìm hiểu về vai trò
viên này và các học giả nghiên cứu.
Thứ hai: Khối sinh viên nhóm ngành khoa học xã hội và nhân văn đã
được trang bị đầy đủ và đạt chuẩn kiến thức tổi thiểu về ASEAN.
Thứ ba: Chính nguồn nhân lực tương lai này sẽ là cầu nối vững chắc cho
quan hệ Việt Nam – ASEAN.
6
4. Lịch sử vấn đề và nguồn tư liệu
Trên cơ sở khảo sát những tài liệu hiện có, chúng tôi nhận thấy đây là
một đề tài mới, chí ít là ở Việt Nam nên chưa có công trình nghiên cứu nào
giống hay gần giống với đề tài đã được xuất bản. Quan điểm và nhận thức của
các học giả trong và ngoài nước về vai trò của ASEAN đối với Việt Nam
được phổ biến trong các bài báo khoa học, sách hay các công trình nghiên cứu
về ASEAN và quan hệ Việt Nam – ASEAN nói chung hay về tiến trình gia
nhập của Việt Nam vào ASEAN….Đây chính là nguồn tài liệu để chúng tôi
tham khảo, triển khai thực hiện đề tài này.
Nguyễn Thu Mỹ, một trong số ít những nhà nghiên cứu Việt Nam
chuyên sâu về ASEAN, đã có nhiều công trình nghiên cứu và bài viết về
Đông Nam Á. Trong bài nghiên cứu “Cộng đồng an ninh ASEAN từ ý tưởng
đến hiện thực” sau khi phân tích mục đích, nguyên tắc và các giải pháp xây
dựng, bà đã đưa ra triển vọng của việc xây dựng cộng đồng an ninh (ASC).
Hay trong cuốn “Hợp tác ASEAN+3 quá trình phát triển, thành tựu và triển
vọng” [2008], tác giả Nguyễn Thu Mỹ đề cập và thảo luận tới khả năng hợp
tác rộng lớn hơn (khu vực Đông Á) với Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc.
Đây chính là ý tưởng để tác giả bàn luận về mô hình hợp tác ASEAN+3 và
quá trình hình thành của nó, trước khi bàn luận tiếp về quá trình phát triển để
rồi đánh giá về thành tựu sau 10 năm phát triển cũng như sự tham gia của Việt
Nam với tiến trình hợp tác ASEAN+3.
các cơ sở hình thành ASEAN từ đó nhìn nhận đánh giá vai trò của tổ chức
này trên trường quốc tế trước khi đưa ra các nhận định về triển vọng cũng như
thách thức của nó. Ngoài ra, về mặt tư liệu tham khảo, chúng tôi còn tìm thấy
một số nghiên cứu của các tác giả khác như: Linh Lan, Hoàng Tuấn Anh…
Về phương pháp nghiên cứu, công trình “The EU through the eyes of
Asia: media, public and elite perceptions in China, Japan, Korea, Singapore
8
and Thailand” của nhóm tác giả Martin Holland, Peter Ryan, Alojzy
Z.Nowak and Natalia Chaban [2007] và “The EU through the eyes of Asia,
volume II: new cases, new findings” của cùng nhóm tác giả trên được thực
hiện trên cơ sở khảo sát nhận thức của người dân các nước châu Á về EU hay
nói khác là khảo sát về hình ảnh của EU trong mắt người dân châu Á bằng
cách lấy tư liệu cấp 1 thông qua ba phương pháp (1) khảo sát bằng bảng hỏi;
(2) phỏng vấn trức tiếp lãnh đạo các ban ngành; và (3) khảo sát EU qua các
tin tức báo chí và truyền hình. Nghiên cứu này được thực hiện tại Việt Nam
với sự tham gia của nhóm ba tác giả Phạm Quang Minh, Bùi Hải Đăng và
Trần Bách Hiếu. Đây là hai công trình quan trọng mà từ đó chúng tôi học hỏi
được nhiều về phương pháp nghiên cứu và khảo sát. Đây cũng chính là
phương pháp quan trọng nhất mà chúng tôi sử dụng để thực hiện nghiên cứu
này.
Tuy các nhà khoa học ít nhiều đã bàn về vai trò của ASEAN đối với sự
phát triển của Việt Nam trong một số lĩnh vực khác nhau, nhưng chủ yếu là
trong hợp tác và phát triển kinh tế mặc dù còn tản mạn với những đánh giá
không thật sự sâu sắc. Nhìn chung cho đến nay chúng tôi vẫn không tìm thấy
một khảo cứu thấu đáo nào về vai trò của ASEAN đối với sự phát triển của
Việt Nam bên cạnh không phải ít những bài viết, nghiên cứu về vài trò của
Việt Nam trong ASEAN. Đây chính là lý do, động lực để chúng tôi theo đuổi
mảng đề tài này.
Kết quả là người viết thu được 500 bảng hỏi theo phương pháp bán phỏng
vấn, phỏng vấn nhanh được 10 sinh viên phục vụ cho quá trình nghiên cứu.
Hạn chế lớn nhất của đề tài là chưa thể tiến hành chọn mẫu hợp lý để
kết quả thu được có thể đại diện cách đánh giá của toàn bộ người dân
TP.HCM do một số lý do khách quan như: (1) thời gian tiến hành đề tài khá
10
ngắn; (2) quá trình tiến hành khảo sát cũng gặp hạn chế cả về kinh phí lẫn
nhân lực nên người viết không thể tổ chức chọn mẫu ở quy mô lớn hơn, hợp
lý hơn.
6. Những đóng góp của đề tài
So sánh giữa nhận thức của một nhóm người với quan điểm của các
học giả về một vấn đề, mà cụ thể ở đây là về vai trò của ASEAN đối với Việt
Nam, tìm ra những tương đồng và cả những khác biệt đều mang lại những
đóng góp về cả khoa học lẫn thực tiễn. Về mặt khoa học, những kết luận của
đề tài này giúp chúng tôi có được cái nhìn toàn diện hơn về vai trò của
ASEAN đối với Việt Nam từ đó có thể nhận thức đúng đắn hơn về vai trò của
một tổ chức khu vực đối với sự phát triển của quốc gia thành viên ở các khu
vực trên thế giới cũng như chính vai trò của ASEAN đối với các quốc gia
thành viên khác. Bên cạnh đó, đây chắc chắn là một hướng nghiên cứu mới.
Về mặt thực tiễn, khảo sát và nắm bắt được nhận thức của một nhóm
người về một vấn đề rõ ràng có ý nghĩa quan trọng trong việc nhìn nhận lại
những tác động của vấn đề đó đối với nhóm người này. Ở đây là vai trò của
ASEAN đối với Việt Nam, mà sinh viên ngành khoa học xã hội và nhân văn
là nhóm đối tượng khảo sát. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của đề tài, về mặt
thực tiễn là nguồn tham khảo cho lãnh đạo các cấp trong việc thúc đẩy hơn
Việt Nam vào ASEAN cũng như việc đề ra những chiến lược và chính sách
đưa ASEAN đến gần hơn với người dân, từ đó tăng cường nhận thức về tầm
sử và những điều kiện tự nhiên, kinh tế, nếu quan hệ tốt đẹp, láng giềng hữu
nghị sẽ tạo thuận lợi cho quá trình phát triển của nhau và ngược lại. Trải qua
bao nhiêu thăng trầm trong quan hệ khu vực đó, cho tới nay, Việt Nam là một
thành viên tích cực, có vai trò rất quan trọng trong các hoạt động quốc tế. Kể
từ khi Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) ra đời năm 1967, trải
qua hơn bốn thập kỷ quan hệ Việt Nam với các nước trong ASEAN cũng qua
thăng trầm lịch sử, có thể chia ra đại thể làm 2 thời kỳ chính: thời kỳ chiến
tranh lạnh và thời kỳ sau chiến tranh lạnh.
1.1.1
Quan hệ Việt Nam – ASEAN thời kỳ 1967 – 1978
Mới được thành lập ở giai đoạn này ASEAN chưa có hoạt động gì đáng
kể về mặt chính trị cũng như kinh tế. Lúc này thế giới đang diễn ra chiến
tranh lạnh và tình trạng đối đầu giữa hai hệ thống xã hội. Các nước ASEAN
cũng bị tình hình trên tác động mạnh, và một số nước ở những mức độ khác
nhau có dính líu vào cuộc chiến tranh Đông Dương.
Vào cuối những năm 1960, đầu năm 1970, ở khu vực đã diễn ra một số
chuyển biến có ý nghĩa chiến lược, trong đó quan trọng nhất là sự thất bại đã
trở nên rõ ràng của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam, được đánh dấu bằng
cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân (1968) của Việt Nam. Sau sự kiện này, Mỹ
buộc phải ngồi vào bàn đàm phán với Việt Nam ở Pari (10-5-1968) và chuyển
sang thực hiện Học thuyết Nixon (25-7-1969), chủ trương giảm bớt các cam
kết của Mỹ ở Châu Á, thực hiện Việt Nam hoá chiến tranh, chuẩn bị rút dần
13
quân khỏi Việt Nam và Đông Nam Á. Ngày 28-9-1969, Mỹ và Thái Lan bắt
đầu thương lượng về việc Mỹ rút 48.000 quân khỏi Thái Lan.
Trong khi ảnh hưởng của Anh và Mỹ bị suy giảm ở khu vực, thì ảnh
giảm thiểu sự dính líu của mình vào cuộc Chiến tranh Việt Nam. Tháng 10 1969, Philippines công bố kế hoạch rút một phần quân và tháng 12-1969 đã
rút hơn 1000 công dân vụ khỏi Việt Nam. Tháng 9-1970 Thái Lan cũng bắt
đầu rút 12.000 quân khỏi Việt Nam. Đến cuối năm 1970, Malaysia đã đình
chỉ việc đào tạo cảnh sát và cố vấn cho ngụy quyền Sài Gòn và đầu năm 1972
đã từ chối yêu cầu của ngụy quyền Sài Gòn đề nghị Malaysia lên án cuộc tấn
công của quân và dân Việt Nam ở miền Nam Việt Nam. Singapore tỏ thái độ
hữu nghị với Việt Nam Dân chủ cộng hoà bằng cách để cho Việt Nam đặt cơ
quan Tổng công ty xuất nhập khẩu vào tháng 7-1971.
Bên cạnh việc chấm dứt dính líu vào cuộc chiến tranh Việt Nam, năm
1972, một số nước ASEAN như Philippines, Malaysia, Singapore đã bắt đầu
thăm dò khả năng phát triển quan hệ với Việt Nam, cả về kinh tế, thương mại
và ngoại giao. Tuy nhiên, quan hệ giữa hai bên vẫn chưa có tiến triển gì đáng
kể hơn.
Giai đoạn 1973-1978, tình hình khu vực có nhiều chuyển biến lớn, dẫn
đến sự đảo lộn mạnh mẽ trong cán cân lực lượng ở đây. Tháng 1-1973, Hiệp
định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết.
Tháng 8-1973, Mỹ buộc phải chấm dứt mọi hoạt động quân sự ở Đông
Dương. Xu thế hoà bình, trung lập ở khu vực phát triển mạnh, nổi bật là
phong trào đấu tranh của sinh viên, thanh niên trí thức Thái Lan chống đế
quốc đã đưa đến sự sụp đổ của chế độ độc tài quân sự thân Mỹ Thanon vào
tháng 10-1973. Chính quyền mới ở Thái Lan đã yêu cầu Mỹ rút quân khỏi
Thái Lan … Những sự kiện trên đây đã buộc các nước ASEAN phải điều
chỉnh mạnh mẽ chính sách đối ngoại của mình.
15
Trên bình diện quốc tế, các nước ASEAN đã đẩy mạnh quan hệ với các
nước xã hội chủ nghĩa, nhất là với Trung Quốc và Liên Xô, thực hiện chính
sách cân bằng giữa các nước lớn. Ngày 22-6-1973, tại Liên hợp quốc,
Malaysia là nước ASEAN đầu tiên đã gặp Trung Quốc ở cấp Đại sứ để bàn về
của nhau, cùng tồn tại trong hòa bình không để lãnh thổ của mình cho nước
ngoài sử dụng, giải quyết các tranh chấp thông qua thương lượng phát triển
hợp tác khu vực.
Để tranh thủ sự ủng hộ cho chính sách trên, tháng 7-1976, Thứ trưởng
ngoại giao Việt Nam Phan Hiền đã lần lượt đi thăm Philippines, Singapore,
Indonesia, Malaysia và các nước ASEAN đều tuyên bố ủng hộ chính sách 4
điểm của Việt Nam. Trong thời gian này quan hệ ngoại giao Viêt Nam –
Malaysia đã được thiết lập và phía Malaysia đã hứa giúp Viêt Nam khôi phục
kinh tế theo khả năng của họ, đặc biệt là trong lĩnh vực cao su. Tháng 8-1976,
Việt Nam và Thái Lan cũng thỏa thuận quan hệ ngoại giao giữa hai nước.
Như vậy, đến tháng 8-1976, Viêt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ
với tất cả các nước thành viên ASEAN. Trong các năm 1977 và 1978, quan
hệ song phương Viêt Nam với từng nước ASEAN đã phát triển mạnh mẽ với
các chuyến thăm hữu nghị của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, thăm 5 nước
ASEAN (tháng 9 và tháng 10-1979) và của Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn
Duy Trinh thăm 5 nước ASEAN (tháng 12-1977 và tháng 1-1978). Trong các
chuyến đi, giữa Việt Nam và các nước ASEAN đã ký nhiều hiệp định về hợp
tác kinh tế thương mại, hợp tác khoa học kỹ thuật, hàng không, hàng hải, đặc
biệt trong chuyến thăm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Việt Nam và các
nước này đều đề ra thông cáo chung nêu lên các nguyên tắc chỉ đạo (quan hệ
chung sống hòa bình). Ngoài ra, Việt Nam còn cử nhiều đoàn đại biểu của các
ngành triển khai các hoạt động hợp tác cụ thể khác.
17
Việt Nam đã lần lượt lập Đại sứ quán tại Manila (11-1976), Kuala
Lumpur (7-1977), Bangkok (2-1978) và các nước Philippines, Malaysia, Thái
Lan cũng đã lập đại sứ quán tại Việt Nam vào các thời điểm tương ứng. Các
cuộc đàm phán với Indonesia về thềm lục địa chồng lấn ở cấp chuyên viên
Tháng 1-1980, Việt Nam đề nghị ký hiệp định không xâm lược
giữa các nước Đông Nam Á và sẵn sàng thảo luận việc lập một “ khu vực
Đông Nam Á hòa bình, độc lập, tự do, trung lập, ổn định và phồn vinh” (thực
chất là chấp nhận ZOPFAN) với các nước ASEAN.
Tháng 1-1981, Việt Nam đề nghị họp hội nghị khu vực giữa hai
nhóm nước Đông Dương và ASEAN.
Tháng 9-1981, tại Liên Hiệp Quốc, Lào thay mặt ba nước Đông
Dương đưa ra 7 nguyên tắc chỉ đạo quan hệ giữa hai nhóm nước Đông Dương
và ASEAN “Vì một Đông Nam Á hòa bình, ổn định, hữu nghị và hợp tác”.
Tháng 7-1982, Việt Nam tuyên bố đơn phương rút một số quân
khỏi Campuchia, đồng thời đề nghị họp “Hội nghị quốc tế về Đông Nam Á”
với sự tham gia của hai nhóm nước Đông Dương và ASEAN.
Tháng 3-1983, theo đề nghị của Việt Nam, Hội nghị cấp cao
không liên kết lần thứ bảy ở Niu Đêli đã ra nghị quyết kêu gọi tất cả các nước
Đông Nam Á tiến hành đối thoại để giải quyết mối bất đồng giữa hai nhóm
nước và lấy đề nghị của ASEAN về ZOPFAN làm cơ sở để thảo luận về việc
biến Đông Nam Á thành khu vực hòa bình, ổn định.
Tháng 4-1985, Việt Nam khẳng định lại đề nghị triệu tập hội
nghị quốc tế bàn tất cả các vấn đề có liên quan đến hòa bình, ổn định ở Đông
Nam Á bao gồm các nước trong và ngoài khu vực liên quan trực tiếp hoặc đã
đóng góp vào hòa bình ổn định khu vực.
Tại diễn đàn Liên Hợp Quốc, từ năm 1980 đến năm 1985, hàng
năm Việt Nam, Lào cùng với một số bạn bè nêu vấn đề “hòa bình, ổn định và
19
cùng hợp tác ở Đông Nam Á” nhằm thúc đẩy xu hướng đối thoại giữa Đông
Dương và ASEAN đổi lại vấn đề tình hình Campuchia do ASEAN đưa ra tại
diễn đàn này.
ra cuộc gặp đối thoại đầu tiên giữa Việt Nam và Indonesia tại Thành phố Hồ
Chí Minh. Cuộc gặp trên đã dẫn đến việc ra đời hội nghị không chính thức về
Campuchia.
Tại Đại hội VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam (năm 1986), đề ra một
đường lối đổi mới toàn diện, trong đó Việt Nam chủ trương thực thi chính
sách đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ. Thực hiện đường lối này,
Việt Nam đã rút hết quân khỏi Campuchia, trở ngại lớn nhất trong quan hệ hai
bên đang dần được gỡ bỏ, vấn đề Campuchia đi dần vào giải pháp hòa bình.
Trong tình hình đó, các nước ASEAN bắt đầu phát triển quan hệ song phương
với Việt Nam và hoan nghênh việc Việt Nam tham gia vào hợp tác khu vực.
Tháng 12-1987, tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ ba họp tại Manila, Tổng
thống Philippiness Aquino tuyên bố không coi Việt Nam là mối đe doạ đối
với Philippiness. Tiếp đó, tháng 2-1983, Bộ trưởng Ngoại giao Philippiness
tuyên bố “không chống việc Việt Nam gia nhập ASEAN ”. Còn Thủ tướng
Thái Lan Chatichai khi lên cầm quyền tháng 8 năm 1988 đã đưa ra chủ trương
biến Đông Dương từ chiến trường thành thị trường. Chính sách trên của Thái
Lan đã được Thủ tướng Malaysia tuyên bố ủng hộ (6-1989). Về phần mình,
Việt Nam cũng luôn bày tỏ lòng mong muốn phát triển quan hệ hữu nghị và
hợp tác với các nước ASEAN.
Sự xích lại gần nhau giữa Việt Nam và ASEAN có thêm những nhân tố
thúc đẩy mới bởi thái độ Việt Nam kiên trì chính sách đàm phán để giải quyết
mọi tranh chấp về lãnh thổ với các nước láng giềng, cùng với việc Việt Nam
21
giữ đúng cam kết rút hết quân khỏi Campuchia trước thời hạn năm 1988, mặc
dù lúc đó chưa đạt được giải pháp về vấn đề Campuchia. Điều đó đã tạo dựng
được lòng tin vào thiện chí của Việt Nam trong chính sách tăng cường hợp tác
khu vực. Quan hệ Việt Nam – ASEAN được đẩy mạnh trong năm 1989 và
Quan hệ Việt Nam – ASEAN thời kỳ 1992 – 1995
Cùng với việc kết thúc chiến tranh lạnh, ở Đông Nam Á, việc ký kết
Hiệp định hòa bình Pari về Campuchia (tháng 10-1991) đã đặt ra cho cả Việt
Nam lẫn các nước ASEAN nhiều cơ hội và thách thức mới.
Lần đầu tiên sau nhiều năm chiến tranh, xung đột, đối đầu, tất cả các
quốc gia và nhân dân khu vực đã có những cơ hội thực sự để phát triển nhằm
thiết lập một nền hòa bình bền vững và lâu dài cũng như vun đắp cho tình hữu
nghị và thịnh vượng chung ở khu vực, cơ hội để khởi xướng và tăng cường
phát triển sự hợp tác về tiến bộ chung, chuẩn bị bước vào thế kỷ XXI, thế kỷ
châu Á – Thái Bình Dương.
Bên cạnh những cơ hội nói trên, không ít thách thức cũng xuất hiện ở
khu vực mà cả Việt Nam và ASEAN đều phải đối phó. Sự tan rã của Liên Xô
đã làm mất đi thế giới hai cực trong quan hệ quốc tế đưa đến sự thay đổi trong
cán cân lực lượng trên thế giới và ở khu vực. Ở Đông Nam Á, cả Mỹ và Nga
đều bắt đầu giảm thiểu sự hiện diện quân sự của mình ở khu vực. Việc này đã
tạo một khoảng trống quyền lực ở khu vực. Những cố gắng nhằm đẩy mạnh
vai trò cả về chính trị, kinh tế, quân sự, của một vài cường quốc châu Á đã
làm tăng mối lo ngại truyền thống về an ninh của các nước ASEAN và các
nước Đông Nam Á khác về một nguy cơ thực sự đối với khu vực. Hơn nữa,
sự rút lui của Mỹ đã làm mất đi chỗ dựa truyền thống về an ninh của các nước
ASEAN, trong khi vấn đề Campuchia chưa phải thật sự đã chấm dứt và bên
cạnh đó lại nảy sinh những nguy cơ tiềm tàng ở Biển Đông...
23
Đó là những thách thức rất lớn đối với ASEAN, buộc họ phải tính toán
nhằm tìm ra một cơ chế đảm bảo an ninh, gìn giữ hòa bình mỏng manh mới