Những khác biệt trong văn hóa tiêu dùng của hà nội và của thành phố hồ chí minh và giải pháp cho các siêu thị việt nam - Pdf 14



TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI
NHỮNG KHÁC BIỆT TRONG VĂN HÓA TIÊU
DÙNG CỦA HÀ NỘI VÀ CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH
VÀ GIẢI PHÁP CHO CÁC SIÊU THỊ VIỆT NAM

Họ và tên sinh viên : Trần Vĩnh Ngọc
Lớp : Pháp 2- K42F
Giáo viên hướng dẫn: TS. Phạm Thu Hương
dùng 24

Chương II: Đặc điểm văn hóa tiêu dùng của Hà Nội và của
TP.Hồ Chí Minh và thực trạng hoạt động của siêu thị Việt
Nam…………………………………………………………………………29
I. Đặc điểm văn hóa tiêu dùng của Hà Nội và của TP.Hồ Chí Minh 29
Những khác biệt trong văn hóa tiêu dùng của Hà Nội và TP.HCM và giải pháp cho các
siêu thị Việt Nam
Trần Vĩnh Ngọc Lớp Pháp 2- K42F
1. Điều kiện tự nhiên, bối cảnh chính trị - xã hội, kinh tế, văn hóa, công
nghệ tại Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh hiện
nay 29
2. Đặc điểm văn hóa tiêu dùng của Hà Nội và của TP.Hồ Chí Minh 32
3. So sánh văn hóa tiêu dùng của Hà Nội và của TP.Hồ Chí
Minh 37

II. Thực trạng hoạt động của siêu thị Việt Nam hiện nay 43
1. Tình hình hoạt động của siêu thị Việt Nam hiện nay 44
2. Đánh giá hoạt động của siêu thị Việt Nam phù hợp với văn hóa tiêu
dùng ……….……………………………………………………………….53
III. Siêu thị có vốn đầu tư nước ngoài với văn hóa tiêu dùng Việt Nam 58

Chương III: Các giải pháp phát triển siêu thị Việt Nam phù hợp
với văn hóa tiêu dùng 60
I. Dự báo xu hướng văn hóa tiêu dùng trong tương
lai 60
1. Dự báo những biến đổi tác động tới văn hóa tiêu dùng trong tương
lai 60
2. Xu hướng văn hóa tiêu dùng trong thời gian tới……………………… 62
3. Những cơ hội và thách thức đối với sự phát triển siêu thị Việt Nam trước

Bảng 2: Phân loại siêu thị tới năm 2005 theo tiêu chuẩn phân loại trong
Quy chế siêu thị và trung tâm thương mại 44
Những khác biệt trong văn hoá tiêu dùng của Hà Nội và TP.HCM và giải pháp cho các
siêu thị Việt Nam
Trần Vĩnh Ngọc Lớp Pháp 2- K42F
1

LỜI MỞ ĐẦU

Từ những bước đi đầu tiên đầy khó khăn cách đây hơn 10 năm cho đến
nay, siêu thị Việt Nam đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế nước
nhà, song song với đó là sự hình thành lối sống văn minh, hiện đại mới ở các
đô thị Việt Nam. Tuy nhiên, so với các siêu thị có yếu tố nước ngoài thì các
siêu thị nội địa đang ở giai đoạn đầu của sự phát triển, chỉ mới đáp ứng được
một phần rất ít trong tổng cầu tiêu dùng trong nước, nhường phần lớn thị phần
cho các hình thức bán lẻ truyền thống như chợ hay các cửa hàng bán lẻ nhỏ và
các tập đoàn kinh doanh siêu thị ở nước ngoài. Trước áp lực cạnh tranh đến từ
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các siêu thị Việt Nam nói riêng và ngành
kinh doanh bán lẻ của Việt Nam nói chung có rất nhiều cơ hội nhưng cũng
gặp không ít thách thức. Ý thức được điều này, các siêu thị Việt Nam đã có
những nỗ lực không ngừng để vươn lên ngang tầm với các tập đoàn bán lẻ
quốc tế như liên kết thành tập đoàn, xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng đầu
tư… Nhưng không lâu nữa chúng ta sẽ mở cửa hoàn toàn cho các nhà phân
phối nước ngoài vào Việt Nam (01/01/2009), liệu rằng chỉ trong một thời gian
ngắn chúng ta có chuẩn bị được đầy đủ tiềm lực cho cuộc cạnh tranh khốc liệt
này không? Phải chăng các doanh nghiệp bán lẻ đang đầu tư theo hướng ngắn
hạn và không có chiều sâu, nhắm vào các đối thủ cạnh tranh mà quên mất

tế thế giới.
Trước khi đi vào nội dung chính của bài khóa luận, tôi xin gửi lời cảm ơn
chân thành trước hêt tới cô giáo hướng dẫn của tôi Tiến sĩ Phạm Thu Hương
đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp,
sau là gia đình và các bạn tôi đã có những đóng góp để tôi hoàn thành bài
khóa luận này.
Sinh viên thực hiện
Những khác biệt trong văn hoá tiêu dùng của Hà Nội và TP.HCM và giải pháp cho các
siêu thị Việt Nam
Trần Vĩnh Ngọc Lớp Pháp 2- K42F
3
Trần Vĩnh Ngọc CHƢƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ VĂN HOÁ
TIÊU DÙNG VÀ SIÊU THỊ
I. KHÁI QUÁT VỀ VĂN HOÁ TIÊU DÙNG
1. Khái niệm văn hoá
1.1. Định nghĩa văn hóa
Hiện có khoảng trên bốn trăm định nghĩa về văn hóa, mỗi định nghĩa là
một cách tiếp cận khác nhau về vấn đề này. Có thể tiếp cận văn hóa từ khái
niệm cụ thể nhất đến khái niệm khái quát nhất, từ cách hiểu theo nghĩa hẹp
nhất đến cách hiểu theo nghĩa rộng nhất.
Ở châu Âu, từ văn hoá bắt nguồn từ tiếng Latinh là Cultus, là trồng trọt,
nuôi dưỡng… Từ đó mà trong tiếng Anh và tiếng Pháp có culture, tiếng Đức
có kultur, tiếng Nga có kultura đều chỉ sự giáo dục và đào tạo con người.
Trong tiếng Việt, từ văn hoá có cội nguồn từ chữ Hán: văn là vẻ đẹp, là giá
trị; văn hoá là trở thành đẹp, thành có giá trị.
Trong cuộc sống hiện đại, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để
chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa); theo nghĩa

khách thể văn hóa. Do vậy văn hóa tiêu dùng cũng bao gồm các giá trị vật
chất và giá trị tinh thần tồn tại trong các sản phẩm tiêu dùng do con người
sáng tạo ra để phục vụ cho hoạt động tiêu dùng.
Khi khái niệm văn hóa được giới hạn trong từng lĩnh vực, chúng ta có
văn hóa giao tiếp, văn hóa kinh doanh, văn hóa tiêu dùng… Như vậy văn hóa
tiêu dùng chính là văn hóa trong hoạt động tiêu dùng.
Từ những lý luận cơ bản trên chúng ta có thể rút ra cách hiểu đơn giản
nhất văn hóa tiêu dùng là tất cả những gì liên quan đến tiêu dùng, bao gồm
các sản phẩm tiêu dùng và phong cách, tập quán tiêu dùng làm cho quan
Những khác biệt trong văn hoá tiêu dùng của Hà Nội và TP.HCM và giải pháp cho các
siêu thị Việt Nam
Trần Vĩnh Ngọc Lớp Pháp 2- K42F
5
điểm tiêu dùng của các cá nhân, các cộng đồng, các dân tộc có những nét
khác biệt nhau.
Nghiên cứu văn hóa tiêu dùng tức là nghiên cứu tâm lý, thị hiếu, thói
quen tiêu dùng, khả năng thanh toán của người tiêu dùng đối với các sản
phẩm tiêu dùng. Trước đó cần phải tìm hiểu về sự khác biệt môi trường sống
có ảnh hưởng đến hành vi mua sắm của người tiêu dùng. Nghiên cứu văn hóa
tiêu dùng là một khâu quan trọng trong nghiên cứu thị trường, giúp các nhà
kinh doanh tung ra các sản phẩm phù hợp với sở thích và bản sắc của từng
dân tộc, từng nền văn hóa nhằm thu được lợi nhuận cao và kinh doanh bền
vững.
2.2. Các yếu tố cấu thành nên văn hóa tiêu dùng
Các yếu tố cấu thành nên văn hóa tiêu dùng, bao gồm chủ thể tiêu dùng
(người tiêu dùng và người sáng tạo ra sản phẩm tiêu dùng) và khách thể tiêu
dùng (các sản phẩm tiêu dùng).
2.2.1. Chủ thể tiêu dùng
Tiêu dùng là hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người, do vậy
khi nghiên cứu chủ thể tiêu dùng cần đi sâu tìm hiểu người tiêu dùng với vai

theo trật tự hình tháp từ dưới lên, từ nhu cầu cơ bản nhất đến nhu cầu ít cơ
bản nhất.
Thứ tự quan trọng của chúng là: nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu
cầu xã hội, nhu cầu được quý trọng và nhu cầu tự khẳng định mình.
Sơ đồ 1: Tháp nhu cầu của Maslow
Nhng khỏc bit trong vn hoỏ tiờu dựng ca H Ni v TP.HCM v gii phỏp cho cỏc
siờu th Vit Nam
Trn Vnh Ngc Lp Phỏp 2- K42F
7

Ngun: Qun tr Marketing, Philip Kotler (2003), trang 211

+ Nhu cu sinh lý: nhu cu v n, mc, , tỡnh dc
+ Nhu cu an ton: nhu cu c bo v, an tõm trc nguy him
+ Nhu cu xó hi: nhu cu c giao lu tỡnh cm vi xó hi.
+ Nhu cu c quý trng: mun c tụn trng, cụng nhn v nng
lc.
+ Nhu cu t khng nh mỡnh: nhu cu th hin bn thõn qua hnh ng
Theo Maslow, con ngi luụn c gng tha món nhu cu quan trng
nht trc tiờn. õy l nhng nhu cu thiu ht vỡ nu thiu cỏc nhu cu ny
con ngi s u tranh cú c nú. Khi nhu cu ú ó c tha món ri
con ngi s hng ti tha món nhu cu quan trng tip theo v c th nhu
cu ca con ngi cng ngy cng phỏt trin v ũi hi cao hn bi nhng
nhu cu bc cao luụn khú t n hn v phi tha món nhu cu c bn
mi cú th hng ti nhu cu bc cao ny. Quỏ trỡnh tiờu dựng theo ú cng
din ra liờn tc bi mt nhu cu c tha món s to ra mt chui nhng nhu
cu khỏc. Nh vy, nhng nhu cu c bn úng vai trũ nh ngun nh hng
v nhng nhu cu cao hn l nhng nc thang trong hot ng tiờu dựng ca
mt cỏ nhõn. Vic bit c mt cỏ nhõn ang cú nhu cu no trong thỏp nhu
Sinh lý

Sơ đồ 2: Các yếu tố cơ bản ảnh hƣởng đến hành vi của ngƣời tiêu dùng

Văn hóa

Nền văn hóa
Xã hội
Nhóm tham khảo
Cá nhân
Tuổi và đường đời
Tâm lý
Nhánh văn
hóa

Gia đình
Nghề nghiệp
Động cơ
Người
mua
Hoàn cảnh KT
Nhận thức
Lối sống
Hiểu biết
Tầng lớp
XH
Vai trò và địa vị
Cá tính và tự ý thức
Niềm tin, thái độ

thành thái độ và quan điểm của mình. Nhóm tham khảo thứ nhất là nhóm sơ
cấp, gồm gia đình, bạn bè, hàng xóm, đồng nghiệp… có ảnh hưởng trực tiếp
Những khác biệt trong văn hoá tiêu dùng của Hà Nội và TP.HCM và giải pháp cho các
siêu thị Việt Nam
Trần Vĩnh Ngọc Lớp Pháp 2- K42F
10
đến thái độ, hành vi của các thành viên. Nhóm thứ hai là nhóm thứ cấp như
các nhóm tôn giáo, nghề nghiệp, công đoàn… ít đòi hỏi các thành viên giao
tiếp thường xuyên hơn. Ngoài ra con người cũng chịu ảnh hưởng của những
nhóm mà họ không là thành viên như nhóm ngưỡng mộ và nhóm tẩy chay.
Các nhóm tham khảo tác động đến hành vi một cá nhân theo ba cấp độ
khác nhau tùy theo sản phẩm và nhãn hiệu. Có thể chia các nhóm thành hai
nhóm theo cách phân loại như trên hoặc thành ba nhóm tùy vào cấp độ ảnh
hưởng của nhóm đó: nhóm một là nhóm gây ảnh hưởng đến hành vi và phong
cách mới của cá nhân, nhóm hai tác động đến thái độ và quan niệm của cá
nhân về bản thân mình, nhóm ba gồm những cá nhân tạo ra những ảnh hưởng
có tính chất áp lực buộc thành viên phải tuân theo và có thể tác động đến cách
lựa chọn sản phẩm của người đó [2,202].
+ Gia đình: Gia đình là yếu tố có ảnh hưởng mạnh thậm chí quan trọng
nhất tới hành vi tiêu dùng một cá nhân bởi hai lý do: một là giáo dục từ gia
đình tạo thành những chuẩn mực cơ bản nhất đối với một người; hai là gia
đình là chủ thể tiêu dùng quyết định số lượng, cơ cấu hàng hóa trên thị
trường.
Có thể phân biệt hai gia đình trong đời sống người mua. Gia đình định
hướng gồm bố mẹ của người đó, những người định hướng cho một cá nhân
đối với tôn giáo, chính trị, kinh tế, tình yêu… Ảnh hưởng trực tiếp hơn đến
hành vi mua sắm hàng ngày là gia đình riêng của người đó, tức là vợ chồng và
con cái. Ảnh hưởng của các thành viên lẫn nhau không đơn thuần là mối quan
hệ một chiều như trong gia đình định hướng mà đa chiều hơn rất nhiều do vai
trò và vị trí của chồng, vợ rất khác nhau trong mỗi gia đình. Tùy thuộc vào

Các doanh nghiệp khi chọn tuổi tác và đường đời làm tiêu chí phân khúc thị
trường cần lưu ý đến những đặc trưng tâm sinh lý ở mỗi giai đoạn, đặc biệt ở
những thời điểm mang tính bước ngoặt từ độ tuổi này sang độ tuổi khác, có
tác động lớn tới sự lựa chọn hàng hóa , thậm chí nhiều loại hàng hóa trước
đó bị tẩy chay giờ lại được ưa chuộng.
Những khác biệt trong văn hoá tiêu dùng của Hà Nội và TP.HCM và giải pháp cho các
siêu thị Việt Nam
Trần Vĩnh Ngọc Lớp Pháp 2- K42F
12
+ Nghề nghiệp: Nghề nghiệp có ảnh hưởng nhất định đến loại sản phẩm
được chọn. Doanh nghiệp cần cố gắng nhận biết khách hàng theo nhóm nghề
nghiệp khác nhau và quan tâm thích đáng đến sự khác biệt nhu cầu của các
nhóm. Thậm chí doanh nghiệp có thể chuyên môn hóa việc sản xuất những
sản phẩm cho một nhóm nghề nghiệp nào đó.
+ Hoàn cảnh kinh tế: Khả năng mua sắm thực tế của một người phụ
thuộc vào hai yếu tố: khả năng tài chính của họ và hệ thống giá cả hàng hóa,
dịch vụ. Vì vậy hoàn cảnh kinh tế bao gồm: thu nhập, phần tiết kiệm, nợ và
khả năng vay mượn, quan điểm về chi tiêu- tích lũy… có ảnh hưởng rất lớn
đến cách thức tiêu dùng của mỗi người. Các nhà kinh tế học nhận thấy sự
nhạy cảm về cầu của các loại hàng hóa khác nhau phụ thuộc rất nhiều vào thu
nhập thực tế – thu nhập danh nghĩa tính theo chỉ số giá tiêu dùng - của họ.
Điều này đòi hỏi các công ty phải thường xuyên theo dõi những biến động
hoàn cảnh kinh tế của các cá nhân và những biến động giá cả, lãi suất, lạm
phát để điều chỉnh chiến lược kinh doanh cho phù hợp.
+ Lối sống: Lối sống của một người thể hiện qua hành động, sự quan
tâm và quan điểm của người đó về môi trường xung quanh. Những người có
cùng xuất thân từ một nhánh văn hóa, tầng lớp xã hội, cùng nghề nghiệp và
hoàn cảnh gia đình có thể có những lối sống hoàn toàn khác nhau. Lối sống
phác họa một cách đầy đủ và sinh động nhất chân dung một con người. Sự lựa
chọn hàng hóa, dịch vụ của người tiêu dùng thể hiện lối sống của họ. Các nhà

của con người. Niềm tin là một ý nghĩ khẳng định của con người về một sự
việc nào đó [2,214]. Thái độ là sự đánh giá những tình cảm và là những xu
hướng hành động có tính chất tốt hay xấu về một khách thể nào đó. Niềm tin
và thái độ dẫn con người đến quyết định thích hay không thích một đối tượng
nào đó, đến với nó hay xa rời nó. Những yếu tố này rất khó thay đổi, đòi hỏi
nhận thức lâu dài vì nó dẫn dắt họ hành động theo một thói quen khá bền
vững mà người ta có thể tiết kiệm được công sức và sự suy nghĩ khi hành
động.
2.2.2. Khách thể tiêu dùng
Những khác biệt trong văn hoá tiêu dùng của Hà Nội và TP.HCM và giải pháp cho các
siêu thị Việt Nam
Trần Vĩnh Ngọc Lớp Pháp 2- K42F
14
Khách thể tiêu dùng chính là các sản phẩm phục vụ cho sinh hoạt hàng
ngày của người tiêu dùng, bao gồm các hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng. Sản
phẩm tiêu dùng được chia thành các nhóm sau: ăn uống, làm đẹp, nhà ở, dụng
cụ gia đình, đi lại, học tập, chăm sóc sức khỏe và vui chơi giải trí.
2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa tiêu dùng
Các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa tiêu dùng rất phức tạp và đa dạng,
bao gồm những yếu tố cơ bản là: môi trường tự nhiên, môi trường nhân khẩu
học, môi trường kinh tế, môi trường chính trị – luật pháp và môi trường công
nghệ.
2.3.1. Môi trường tự nhiên: Mỗi quốc gia có vị trí địa lý khác nhau, từ
đó dẫn đến những khác biệt về tự nhiên như khí hậu, địa hình tài nguyên; nhu
cầu và tập quán tiêu dùng của các quốc gia, dân tộc do vậy là khác nhau.
2.3.2. Môi trường nhân khẩu học
Môi trường nhân khẩu học bao gồm các yếu tố sau:
 Quy mô dân số: cho phép chúng ta xác định được dung lượng thị
trường, độ tuổi trung bình, kết cấu dân số già hay trẻ và tầm vóc, kích cỡ của
người tiêu dùng ở một quốc gia.

phẩm quốc dân GNP, tổng sản phẩm quốc nội GDP, thu nhập bình quân trên
đầu người, chỉ số xếp hạng kinh tế của một quốc gia, kim ngạch và cơ cấu
xuất nhập khẩu…để có quyết định kinh doanh phù hợp.
2.3.4. Môi trường chính trị – luật pháp
Môi trường chính trị có ảnh hưởng một phần đến tâm lý tiêu dùng. Tình
hình chính trị ổn định thì người dân sẽ tăng chi tiêu và giảm tiết kiệm, và
ngược lại chính trị bất ổn buộc người dân giảm chi tiêu, tăng tiết kiệm và mua
các sản phẩm tự vệ, bảo hiểm nhiều hơn.
Những khác biệt trong văn hoá tiêu dùng của Hà Nội và TP.HCM và giải pháp cho các
siêu thị Việt Nam
Trần Vĩnh Ngọc Lớp Pháp 2- K42F
16
Môi trường chính trị còn bao gồm cả môi trường luật pháp. Một hệ
thống pháp luật hoàn thiện, chặt chẽ và có lợi cho người dân là một yếu tố
góp phần làm tăng đầu tư, sản xuất cũng như tiêu dùng.
2.3.5. Môi trường công nghệ
Công nghệ đang phát triển mạnh mẽ góp phần làm vòng đời sản phẩm
ngắn lại. Các sản phẩm công nghệ cao lại thường bị lỗi thời nhanh chóng. Do
vậy nhu cầu và quan điểm tiêu dùng của con người trong môi trường công
nghệ cao, đặc biệt với các quốc gia có nền công nghệ phát triển luôn thay đổi.
Hoạt động kinh doanh phải thay đổi theo để thích ứng với sự thay đổi đó. Quá
trình chuyển giao công nghệ từ những nước phát triển sang các nước kém
phát triển cũng sẽ tạo ra sự thay đổi về tiêu dùng tại các nước này.
II. KHÁI QUÁT VỀ SIÊU THỊ
1. Khái niệm chung về siêu thị
Siêu thị
Siêu thị là từ dịch ra từ các thuật ngữ nước ngoài : “supermarket” (tiếng
Anh) hay “supermarché” (tiếng Pháp), trong đó “super” có nghĩa là “siêu” và
“market” là chợ. Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về siêu thị tùy
theo từng quốc gia, chúng ta có thể tham khảo một số định nghĩa sau:

hàng, giá cả, phương thức quản lý quầy hàng, gian hàng, trưng bày hàng hóa,
biển hiệu và hình thức bên ngoài [13,21].
1.3. Hệ thống siêu thị
Hệ thống siêu thị là mạng lưới tất cả cửa hàng bán lẻ hợp nhất áp dụng
phương pháp bán hàng tự phục vụ các hàng hóa tiêu dùng phổ biến của người
dân, bao gồm siêu thị nhỏ, siêu thị và đại siêu thị [13,21].
Tuy nhiên do sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống phân phối, hiện nay
khái niệm siêu thị, chuỗi siêu thị hay hệ thống siêu thị cũng đều muốn nói đến
các dạng cửa hàng bán lẻ áp dụng phương thức bán hàng hiện đại.
Tiêu chí phân biệt siêu thị với các loại hình kinh doanh thương mại
khác là: phương thức tự phục vụ, diện tích mặt bằng, số lượng mặt hàng tối
thiểu và đặc điểm hàng hóa bày bán trong siêu thị là hàng tiêu dùng phổ biến.
2. Phân loại siêu thị
Phân loại siêu thị theo quy mô
Những khác biệt trong văn hoá tiêu dùng của Hà Nội và TP.HCM và giải pháp cho các
siêu thị Việt Nam
Trần Vĩnh Ngọc Lớp Pháp 2- K42F
18
Việc phân loại siêu thị theo quy mô được hầu hết các nước trên thế giới
áp dụng và họ dựa trên hai tiêu chí cơ bản để xác định là diện tích mặt bằng
và tập hợp hàng hóa của siêu thị. Từ đây có thể phân chia siêu thị ra các loại
[13,22]:
- Siêu thị nhỏ (minimart): là cửa hàng bán lẻ nhỏ, chủ yếu bán hàng thực
phẩm theo phương thức tự phục vụ, hợp nhất, thường nằm giữa các khu dân
cư đô thị (ở Pháp quy định diện tích bán hàng là từ 120 đến dưới 400 m
2
).
- Siêu thị (supermarket): khái niệm đã nêu ở mục 1.1.
- Đại siêu thị (hypermarket): là các cửa hàng thương mại bán lẻ khối
lượng lớn tại một địa điểm, dựa trên nguyên tắc bán hàng tự phục vụ và quy

1.000
Hạng III
Siêu thị kinh doanh tổng
hợp
500
4000
Siêu thị chuyên doanh
250
500
Những khác biệt trong văn hoá tiêu dùng của Hà Nội và TP.HCM và giải pháp cho các
siêu thị Việt Nam
Trần Vĩnh Ngọc Lớp Pháp 2- K42F
19
Nguồn: Siêu thị, phương thức kinh doanh bán lẻ hiện đại ở Việt Nam,
Bộ Thương mại, chủ biên Nguyễn Thị Nhiễu (2006), trang 93.
Phân loại siêu thị theo hàng hóa kinh doanh
Hàng hóa kinh doanh trong siêu thị theo truyền thống là hàng thực
phẩm. Tuy nhiên, nhu cầu con người ngày càng đa dạng nên siêu thị ngày nay
phục vụ cho tiêu dùng phổ biến của người dân từ thực phẩm đến quần áo, đồ
gia dụng…dù thực phẩm vẫn là mặt hàng kinh doanh quan trọng nhất của các
siêu thị. Như vậy có thể chia thành [13,26]:
- Siêu thị tổng hợp: là siêu thị bán nhiều loại hàng hóa cho nhiều loại
khách hàng, ở đó người tiêu dùng có thể mua hầu như tất cả mọi loại hàng
hóa phục vụ cho sinh hoạt của mình.
- Siêu thị chuyên doanh: là các cửa hàng chuyên doanh áp dụng phương
thức bán hàng tự chọn như các cửa hàng chuyên bán quần áo, giày dép, đồ nội
thất, vật liệu xây dựng… Siêu thị chuyên doanh cung cấp tập hợp hàng hóa
hẹp nhưng sâu.
Phân loại theo tính chất thật ảo của siêu thị
Những ứng dụng của công nghệ, đặc biệt là của Internet vào kinh doanh

Nguồn: Siêu thị, phương thức kinh doanh bán lẻ hiện đại ở Việt Nam,
Bộ Thương mại, chủ biên Nguyễn Thị Nhiễu (2006), trang 23.
Tuy nhiên hệ thống siêu thị thường được dùng để chỉ tất cả các cửa hàng
bán lẻ hiện đại áp dụng phương thức kinh doanh tự phục vụ. Nếu hiểu theo
cách này thì có thể nói siêu thị chiếm vị trí quan trọng nhất trong ngành bán
lẻ. Không chỉ các nước phát triển nơi siêu thị chiếm thị phần lớn trong các
loại hình kinh doanh, ngay ở các nước đang phát triển doanh thu từ siêu thị
cũng đang ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng mức bán lẻ toàn xã hội. Ví
dụ như Thái Lan 54% hay Việt Nam là 15,1% (theo điều tra của báo Sài Gòn
tiếp thị năm 2006) và có xu hướng tăng lên mỗi năm.
Ngƣời sản xuất
Đại lý, môi giới
Ngƣời bán
buôn
Người bán buôn
Ngƣời bán lẻ
CH
tiện lợi
Siêu
thị
Đại
siêu
thị
CH
bách
hóa
CH đại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status