BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
o0o
NGUYỄN THỊ MAI TRINH
MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VĂN HÓA NHÀ
TRƯỜNG Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ
HÀNG HẢI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
NGHỆ AN –Tháng 06 năm 2014
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập nghiên cứu và triển khai đề tài: “Một số giải
pháp xây dựng văn hóa nhà trường ở Trường Cao Đẳng Nghề Hàng Hải
TPHCM ”. Đến nay tôi đã hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình.
Tôi xin bày tỏ tấm lòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo – PGS.TS
Nguyễn Bá Minh - người thầy đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình
tôi nghiên cứu và thực hiện luận văn này.
Đồng thời tôi cũng chân thành cảm ơn tới lãnh đạo nhà trường, các cán
bộ, giáo viên thuộc các phòng, ban, khoa, tổ bộ môn, các đoàn thể, các em
học sinh, sinh viên trong Trường Cao Đẳng Nghề Hàng Hải TPHCM đã giúp
đỡ để tôi hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu này.
Do thời gian nghiên cứu có hạn, kết quả nghiên cứu có thể còn những
thiếu xót. Tác giả rất mong nhận được sự góp ý của các độc giả để đề tài
nghiên cứu được hoàn thiện hơn.
Tác
giả
Nguyễn Thị Mai Trinh
3
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 2.1
Cơ cấu tổ chức
Bảng
3.5.1
Kết quả đánh giá về mức độ cần thiết của những giải pháp. 98
Bảng
2.5.2
Kết quả đánh giá về tính khả thi của những giải pháp 100
Bảng
2.5.3
Tổng hợp đánh giá tính cần thiết và tính khả thi của các GP 102
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
4
Xã hội hóa giáo dục (XHHGD) là một trong những tư tưởng cốt lõi về giáo
dục (GD) của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời là chủ trương, quan điểm xuyên
suốt của Đảng và Nhà nước ta từ thời lập quốc đến nay.
Từ ngày có Đảng, nhất là từ sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, tư
tưởng Hồ Chí Minh về tầm quan trọng của sự học, xem học tập là nhu cầu của cuộc
sống đã được thể hiện một cách nhất quán trong đường lối, chủ trương của Đảng và
Nhà nước. Ngay từ những ngày đầu mới giành được độc lập, khi vận mệnh nước nhà
đang như ngàn cân treo sợi tóc, Đảng và Bác Hồ đã chủ trương huy động tối đa các
nguồn lực để cùng một lúc chống ba thứ giặc "giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm",
xem chống giặc dốt cũng quan trọng, cấp bách như chống giặc đói để dân được ấm no
và chống giặc ngoại xâm để bảo vệ nền độc lập nước nhà.
Giáo dục và Đào tạo (GD & ĐT) ngày nay là yếu tố quyết định tương lai của
mỗi dân tộc, sự phát triển của mỗi quốc gia, trong bối cảnh toàn cầu hoá phát triển
rộng khắp, cách mạng khoa học - công nghệ đạt những bước tiến thần kỳ, cách
mạng thông tin bùng nổ, tri thức của nhân loại có sự tiến bộ không ngừng. Đảng và
Nhà nước ta luôn quan tâm và coi trọng công tác GD & ĐT, phát triển GD & ĐT
cùng với khoa học công nghệ được xác định là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho GD
là đầu tư cho phát triển. Phát triển GD & ĐT là một động lực quan trọng thúc đẩy
Ngày 18 tháng 4 năm 2005, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-
CP về đẩy mạnh XHH các hoạt động GD, y tế, văn hoá và thể dục thể thao; ngày 30
tháng 5 năm 2008, Chính phủ ban hành Nghị định 69/2008/NĐ-CP về chính sách
khuyến khích XHH đối với các hoạt động trong lĩnh vực GD, dạy nghề, y tế, văn hoá,
thể thao, môi trường. Nghị quyết số 05 của Chính phủ xác định: "Qua 7 năm triển
khai thực hiện Nghị quyết 90/1997/NQ-CP và 5 năm thực hiện Nghị định
73/1999/NĐ-CP, công tác XHH các hoạt động GD, y tế, văn hoá và thể dục thể thao
đã thu được những kết quả quan trọng… Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện XHH
đã bộc lộ những mặt hạn chế, bất cập. Hạn chế lớn nhất là tốc độ XHH còn chậm so
với tiềm năng và chỉ tiêu định hướng của Nghị quyết 90; mức độ phát triển XHH
không đồng đều giữa các vùng miền và cả giữa các tỉnh, thành phố, địa phương có
6
điều kiện kinh tế - xã hội như nhau". "Công tác quản lý còn bất cập cả trong định
hướng phát triển, quy hoạch và chỉ đạo thực hiện. Việc triển khai thực hiện còn chậm
và nhiều lúng túng. Quản lý nhà nước vừa gò bó, vừa buông lỏng; cơ chế chính sách
chưa cụ thể, rõ ràng, thiếu đồng bộ, còn chưa phù hợp với cơ chế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Các lực lượng xã hội chưa được tổ chức và phối hợp tốt để
chủ động, tích cực tham gia vào quá trình XHH ". "Nguyên nhân của những hạn
chế trước hết là do nhận thức còn chưa đầy đủ, xem XHH chỉ là biện pháp huy động
sự đóng góp của nhân dân trong điều kiện ngân sách nhà nước hạn hẹp. Tư tưởng và
thói quen bao cấp vẫn còn khá nặng nề" [22].
Bình Thuận là một tỉnh ở miền Đông Nam Bộ với đặc điểm tình hình kinh tế -
xã hội còn nhiều khó khăn; cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, nông nghiệp còn chiếm
tỷ trọng lớn; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội chưa đồng bộ; việc cụ thể hoá Nghị
quyết số 05/2005/NQ-CP còn nhiều khó khăn, thiếu sót: nhận thức về XHHGD
không đồng đều; chưa có cơ chế, chính sách cụ thể tạo thuận lợi cho công tác
XHHGD; kết quả huy động các nguồn lực xã hội cho sự nghiệp GD còn khiêm tốn
Hiện nay, ở Bình Thuận chưa có công trình nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống
về vấn đề XHHGD. Để góp phần phát triển kinh tế - xã hội, huy động có hiệu quả các
nguồn lực xã hội cho sự nghiệp GD, tạo sự chuyển biến quan trọng về chất lượng
thu thập các thông tin thực tiễn để xây dựng cơ sở thực tiễn của đề tài. Thuộc nhóm
phương pháp nghiên cứu thực tiễn có các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
+ Phương pháp điều tra xã hội học;
+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm GD;
+ Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia;
- Phương pháp thống kê toán học để xử lý các kết quả nghiên cứu.
7. Đóng góp của luận văn
7.1. Về lý luận
8
- Khẳng định tầm quan trọng của XHHGD trong sự nghiệp GD, từ đó, nhấn
mạnh sự cần thiết phải tăng cường công tác quản lý XHHGD trên địa bàn tỉnh Bình
Thuận.
- Xác định cụ thể các yếu tố của quản lý XHHGD cần phải thay đổi để thích
ứng với thực tiễn, hướng công tác quản lý XHHGD đáp ứng yêu cầu nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực, chất lượng GD của tỉnh Bình Thuận.
7.2. Về thực tiễn
- Chỉ ra những hạn chế, khiếm khuyết về nhận thức và hành động của các
cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân về XHHGD; về công tác quản lý XHHGD
trên địa bàn tỉnh Bình Thuận.
- Đề xuất được một số giải pháp khoa học, khả thi nhằm nâng cao hiệu quả
công tác quản lý XHHGD, góp phần nâng cao chất lượng GD của tỉnh Bình Thuận
đến năm 2018.
8. Cấu trúc nội dung luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục nghiên cứu, đề
tài còn có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý xã hội hoá giáo dục.
Chương 2: Thực trạng quản lý công tác xã hội hoá giáo dục ở tỉnh Bình Thuận.
Chương 3: Một số giải pháp quản lý công tác xã hội hoá giáo dục ở tỉnh Bình
Thuận.
CHƯƠNG 1
triển kinh tế - xã hội của đất nước và xu thế phát triển chung của thời đại.
10
Trước yêu cầu phát triển đất nước và hội nhập ngày càng sâu rộng vào các thể
chế kinh tế - xã hội toàn cầu, Đảng ta đã kịp thời ban hành những chủ trương, quyết
sách đúng đắn về GD & ĐT. Từ Đại hội VII đến Đại hội XI của Đảng, Đảng ta luôn
xác định "GD & ĐT là quốc sách hàng đầu", ''XHH'' là một trong những quan điểm,
chủ trương lớn để hoạch định hệ thống các chính sách xã hội.
Bàn về vấn đề XHHGD, các nhà nghiên cứu, nhà quản lý GD đều có chung
nhận định về vai trò, vị trí, ý nghĩa chiến lược của công tác XHHGD trong sự
nghiệp GD & ĐT ở nước ta.
Tác giả Phạm Minh Hạc đã viết: “XHH công tác GD, một con đường phát
triển GD nước ta” [39].
Tác giả cho rằng, XHHGD là "Làm cho xã hội nhận rõ trách nhiệm đối với
GD, GD phục vụ đắc lực cho phát triển KT - XH, thực hiện việc kết hợp GD trong
nhà trường và ngoài nhà trường, tạo điều kiện để GD kết hợp với lao động, học đi
đôi với hành; XHHGD có quan hệ hữu cơ với dân chủ hoá GD". “XHH công tác
GD là một tư tưởng chiến lược, một bộ phận của đường lối chiến lược, một con
đường phát triển GD của nước ta… Sự nghiệp GD không chỉ là của Nhà nước mà
là của toàn xã hội, mọi người cùng làm GD, nhà nước và xã hội, Trung ương và địa
phương cùng làm GD” [40].
Theo tác giả Lê Ngọc Lan: “Trong thực tiễn đấu tranh cách mạng Việt Nam,
khái niệm XHHGD ngày càng được mở rộng và phong phú hơn. Đây không phải là
giải pháp tình thế nhằm tháo gỡ khó khăn của nước nghèo. Ngay khi chúng ta đạt
được mức tăng trưởng nhiều lần so với hiện nay thì tư tưởng XHHGD vẫn giữ được
giá trị chủ đạo cơ bản” [45].
Tác giả Đặng Quốc Bảo quan niệm: “XHHGD phản ánh bản chất của luận
đề: GD cho tất cả mọi người, tất cả cho sự nghiệp GD”. Vậy, huy động toàn xã hội
làm GD, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền GD quốc dân dưới
sự quản lý của Nhà nước không phải là một ý tưởng mới lạ. PGS.TS Đặng Quốc
Bảo nhấn mạnh: “Không có xã hội nào có thể tồn tại nếu không có sự GD và mọi sự
Bộ GD & ĐT đã đề xuất với Chính phủ ban hành Đề án đẩy mạnh công tác
XHHGD và đào tạo giai đoạn 2012 - 2016 [63].
Ngoài ra, được sự hướng dẫn của các nhà khoa học, nhiều luận văn thạc sĩ,
luận văn tiến sĩ trong nước đã đề cập đến vấn đề XHHGD ở nhiều khía cạnh khác
nhau. Trên địa bàn tỉnh, cũng có nhiều nghiên cứu về vấn đề XHHGD ở cấp huyện.
Trên cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn công tác XHHGD của địa phương, hầu hết các
nghiên cứu đã đề xuất được giải pháp quan trọng, có tính khả thi để đẩy mạnh công
tác quản lý XHHGD ở địa phương mình, song, hạn chế chung nhất của các nghiên
cứu này là chưa tập trung đề xuất vấn đề mấu chốt, cốt lõi, có tính chi phối hiệu quả
công tác quản lý XHHGD: Đề xuất cơ chế, chính sách đẩy mạnh công tác XHHGD.
1.1.2. Những nghiên cứu ở nước ngoài
Cũng như nước ta, các nước phát triển trên thế giới đều coi trọng chính sách
XHHGD, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho GD phát triển và quan tâm sâu sắc đến
hiệu quả GD mang lại cho nền kinh tế - xã hội. Nhiều quốc gia chú trọng phát huy
sức mạnh tổng hợp của xã hội trong cải cách GD để bảo đảm ai cũng học tập, ai
cũng được hưởng thụ GD, ai cũng tham gia phát triển GD.
Năm 1947, Nhật Bản đặt GD vào vị trí hàng đầu của các chính sách quốc
gia. Nhật Bản đẩy mạnh cải tổ hệ thống GD nhằm tạo ra một hệ thống GD mở với
mục đích tạo cho học sinh lòng ham học, tự chủ trong suy nghĩ, phát triển những
năng lực khác nhau nhằm tạo cơ hội thích hợp với nhu cầu học tập và nghề nghiệp
của học sinh, luôn dành cho địa phương và nhà trường quyền tự chủ. Năm 1971,
Nhật Bản thành lập Bộ GD, đề ra chính sách: Đối với các trường TH bắt buộc thì
"sự bình đẳng'' là nguyên tắc tối cao. Còn đối với các trường sơ trung và cao trung
thì nguyên tắc "tài năng" là cao nhất. Quan điểm này không những xoá bỏ sự bất
bình đẳng trong xã hội về GD, mà còn tạo ra cơ hội cho sự phát triển tiềm năng của
con người.
Để xây dựng XHHT, Chính phủ Nhật Bản đã lập ra Uỷ ban Quốc gia về GD
suốt đời. Ở Nhật Bản có hai hệ GD: GD nhà trường và GD xã hội. GD nhà trường
chính là hệ GD ban đầu, gồm trường mẫu giáo, trường phổ thông và các loại hình
13
- XHH là sự tương tác, mối liên hệ, thuộc tính vốn có của con người, của
cộng đồng nhằm đáp ứng lại xã hội và chịu ảnh hưởng của xã hội.
- Theo Từ điển Tiếng Việt, khái niệm XHH được hiểu là "Làm cho một việc
gì, một cái gì đó thành của chung xã hội”.
Kể từ khi Đảng và Nhà nước ta thực hiện chủ trương cải cách tổ chức bộ
máy Nhà nước theo hướng xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa, thì thuật ngữ "XHH" được sử dụng khá phổ biến trong các văn kiện, hội
nghị, hội thảo…
Nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về XHH có các cách lý giải khác
nhau, song, tựu trung lại có thể khẳng định: Bản chất của XHH là cách làm, cách
thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng bằng con đường tuyên truyền, huy động
và tổ chức sự tham gia của cộng đồng, mọi lực lượng xã hội; tạo ra sự phối hợp
đồng bộ giữa các ngành, các cấp một cách có kế hoạch dưới sự chỉ đạo và quản lý
thống nhất của Nhà nước, làm cho việc giải quyết các vấn đề xã hội mang lại lợi ích
cho nhân dân, thực sự "của dân, do dân và vì dân".
1.2.1.2. Xã hội hoá giáo dục:
XHHGD được hiểu trên phương diện rộng là toàn thể nhân dân, toàn thể xã
hội tham gia vào sự nghiệp GD. XHHGD là làm cho hoạt động GD trở thành hoạt
động chung của toàn xã hội. XHHGD là việc thực hiện mối liên hệ phổ biến giữa
hoạt động GD và cộng đồng xã hội, là làm cho GD phù hợp với sự phát triển của xã
hội, thích ứng với xã hội. XHHGD là duy trì sự cân bằng động giữa hoạt động GD
và xã hội sẽ tạo động lực cho việc huy động cộng đồng tham gia xây dựng và phát
triển GD.
XHHGD là cách nói gọn của "XHH công tác GD" với nội hàm là phương
thức, cách thức, phương châm, cách làm GD, tổ chức và quản lý GD. Đảng và Nhà
nước ta chủ trương XHHGD là một tư tưởng chiến lược, một bộ phận quan trọng
trong đường lối, chính sách GD.
Nghị quyết Đại hội X của Đảng xác định: “Đẩy mạnh XHH GD & ĐT. Rà
soát, sắp xếp lại mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp
15
của toàn xã hội.
1.2.2. Quản lý và quản lý giáo dục
1.2.2.1. Quản lý
Từ khi xã hội loài người xuất hiện, con người có sự hợp tác với nhau thì hoạt
động quản lý đã được hình thành. Ở đâu có nhóm xã hội thì ở đó cần đến hoạt động
quản lý. Từ xa xưa, con người đã biết sử dụng quản lý vào trong việc tổ chức hoạt
động của mình.
Quản lý là một khái niệm được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của đời
sống xã hội. Do đối tượng quản lý phong phú, đa dạng, tuỳ thuộc vào từng lĩnh vực
hoạt động cụ thể, từng giai đoạn phát triển của xã hội mà có những cách hiểu khác
nhau về quản lý.
Theo Từ điển Tiếng Việt “Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những yêu
cầu nhất định” [64].
Frederics William Taylor (1856 - 1915) cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật
biết rõ ràng, chính xác cái gì cần phải làm và làm cái đó như thế nào, bằng phương
pháp tốt nhất, rẻ nhất” [26].
Các Mác khẳng định: “Bất cứ lao động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào
được thực hiện ở quy mô tương đối lớn đều cần ở chừng mực nhất định đến sự
quản lý. Quản lý là xác lập sự tương hợp giữa các công việc cá nhân và hình thành
những chức năng chung, xuất hiện trong toàn bộ cơ chế sản xuất, khác với sự vận
động của bộ phận riêng lẻ của nó” [46].
Có tác giả lại hiểu quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng
cách vận dụng và thực hiện một cách sáng tạo các chức năng kế hoạch hoá, tổ chức,
chỉ đạo, kiểm tra. Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng:
“Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản
lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ
chức đó vận hành và đạt được mục đích của mình” [18].
Tóm lại, quản lý là tổ chức, điều khiển hoạt động của một nhóm (hay nhiều
nhóm xã hội) cùng nhau thực hiện những nhiệm vụ và mục đích chung. Quản lý có
17
Giải pháp có 02 loại: giải pháp hành chính và giải pháp quân sự. Giải pháp
quản lý GD là loại giải pháp hành chính nhằm giải quyết một vấn đề nào đó trong
công tác quản lý GD, để chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý theo mục
tiêu đào tạo của nhà trường.
Giải pháp là hệ thống những tác động có định hướng, có tổ chức dựa trên các
thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của
đối tượng được ổn định và phát triển tới mục tiêu đã định.
1.3. Một số vấn đề về xã hội hoá giáo dục
1.3.1. Chủ trương, quan điểm của Đảng, Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh
về xã hội hoá giáo dục
1.3.1.1. Chủ trương, quan điểm của Đảng, Nhà nước về xã hội hoá giáo dục
Tư tưởng chỉ đạo và các hoạt động XHH giáo dục ở nước ta đã có từ khá
sớm. Nhận định về XHHGD, Bác Hồ và Đảng ta đã đúc kết và phổ biến phương
châm: “Nhà nước và nhân dân cùng làm GD”. Nguyên lý kết hợp “Nhà trường -
gia đình - xã hội” đã phổ biến sâu rộng đến các cấp uỷ, tổ chức đảng, các đoàn thể,
chính quyền, cán bộ, đảng viên và nhân dân thực hiện.
Tháng 7 năm 1950, Hội đồng Chính phủ thông qua Đề án cải cách GD lần
thứ I, xác định: “Tính chất của nền GD của ta là nền GD của dân, do dân và vì dân,
được xây dựng trên nguyên tắc: dân tộc, khoa học, đại chúng”.
Nghị quyết số 14-NQ/TW ngày 19 tháng 01 năm 1979 của Bộ Chính trị khoá
IV về cải cách GD khẳng định: “Phối hợp những cố gắng đầu tư của Nhà nước với
sự đóng góp của nhân dân, của các ngành, các cơ sở sản xuất và sức lao động của
thầy trò trong việc xây dựng trường sở, phòng thí nghiệm, xưởng trường, vườn
trường…” [65].
Ngày 19 tháng 3 năm 1982, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số
124/CP về việc thành lập Hội đồng GD ở các cấp chính quyền địa phương.
Ngày 09 tháng 12 năm 1982, Bộ trưởng GD ra Quyết định số 1765/QĐ về
ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của Hội đồng GD của các cấp chính quyền
địa phương.
19
nhiệm tích cực góp phần phát triển sự nghiệp GD - ĐT, đóng góp trí tuệ, nhân lực,
vật lực, tài lực cho GD - ĐT. Kết hợp GD nhà trường, GD gia đình và GD xã hội,
tạo nên môi trường GD lành mạnh ở mọi nơi, trong từng cộng đồng, từng tập thể”
[31].
Văn kiện Hội nghị Trung ương 6 khoá IX khẳng định: "Đẩy mạnh XHHGD,
coi GD là sự nghiệp của toàn dân là một giải pháp quan trọng để tiếp tục phát triển
GD" [33].
Văn kiện Đại hội X của Đảng (tháng 4 năm 2006) khẳng định: "Thực hiện
XHHGD, huy động nguồn lực vật chất và trí tuệ của xã hội tham gia chăm lo sự
nghiệp GD. Phối hợp chặt chẽ giữa ngành GD với các ban ngành, các tổ chức
chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp … để mở mang GD, tạo điều kiện học tập
cho mọi thành viên trong xã hội" [35].
Văn kiện Đại hội XI của Đảng tiếp tục xác định mục tiêu XHHGD trong thời
gian tới là: "Hoàn thiện cơ chế, chính sách XHHGD, đào tạo trên cả ba phương
diện: động viên các nguồn lực trong xã hội; phát huy vai trò giám sát của cộng
đồng; khuyến khích các hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng XHHT, tạo
điều kiện để người dân được học tập suốt đời" [37].
"… Đổi mới căn bản, toàn diện nền GD Việt Nam theo hướng chuẩn hoá,
hiện đại hoá, XHH, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế
quản lý GD, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt". "…
Xây dựng môi trường GD lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia
đình và xã hội". "… Đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng
XHHT; mở rộng các phương thức đào tạo từ xa và hệ thống các TTHTCĐ,
TTGDTX. Thực hiện tốt bình đẳng về cơ hội học tập và các chính sách xã hội trong
GD" [37].
Quan điểm của Đảng được thể hiện bằng pháp luật của Nhà nước, cơ sở pháp
lý thực hiện XHHGD chính là Luật Giáo dục. Điều 12 của Luật Giáo dục (năm
2005) quy định: “Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp GD;
thực hiện đa dạng hoá các loại hình trường và các hình thức GD; khuyến khích,
21
xác định 03 nguyên tắc căn bản của nền GD nước nhà là: “Đại chúng hoá, dân tộc
hoá, khoa học hoá”. Nhận thấy rõ tầm quan trọng của GD, Chủ tịch Hồ Chí Minh
luôn chú trọng một nền GD mới - một nền GD mà mục tiêu, nội dung và phương
pháp phải hướng đến việc phát triển con người toàn diện, cũng như động viên mọi
lực lượng, tầng lớp tham gia tích cực vào sự nghiệp GD. Trong lịch sử cách mạng
Việt Nam, hiếm có vị lãnh tụ nào quan tâm đến sự nghiệp GD một cách toàn diện
và sâu sắc như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người nêu rõ: "Mọi người Việt Nam đều
phải được GD, phải có kiến thức để tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà".
Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng xây dựng nền GD mở và chỉ
ra phương cách thực hiện chính sách mở trong GD, thông qua con đường XHHGD.
Phát biểu tại Đại hội sơ kết công tác bình dân học vụ 6 tháng đầu năm 1956 (ngày
16/7/1956), Người đề nghị: “Những người biết chữ hãy dạy cho những người không
biết chữ, người biết chữ nhiều dạy người biết chữ ít, mỗi xóm cử một người đi học,
học mấy hôm về dạy mấy hôm, hết chữ rồi trở lại học, thầy vừa dạy vừa học”. Hoặc
như trong Bài “Chống nạn thất học” (đăng trên Báo Cứu quốc, số 58, ngày
04/10/1945), Người chỉ dẫn: “Các người giàu có thì mở lớp học ở tư gia dạy cho
người không biết chữ ở hàng xóm láng giềng, các chủ ấp, chủ đồn điền, chủ hầm
mỏ, nhà máy thì mở lớp học cho những tá điền, những người làm của mình”.
Trong bài viết đăng trên báo Nhân dân (Số 183, ngày 09 - 11/5/1954), Người
dặn dò: “… Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân giàu nước mạnh, mọi
người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến
thức mới có thể tham gia vào công việc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết
đọc, biết viết chữ Quốc ngữ” và “… có đồng chí nói: Nông thôn bận việc nhiều, khó
học tập. Chính vì công việc nhiều mà càng cần phải học tập để làm cho đảng viên
và cốt cán tư tưởng thông, lập trường vững, làm đúng chính sách của Đảng và
Chính phủ, đi đúng đường lối quần chúng. Học càng khá thì giải quyết các vấn đề
càng dễ dàng, công việc trôi chảy…”. Nói chuyện với lớp Nghiên cứu Chính trị
khoá I, trường Đại học Nhân dân (ngày 21 /7/1956), Người khẳng định: “… Học là
một việc phải tiếp tục suốt đời, suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế”.
23
24
học. So với dân số nước ta lúc bấy giờ là 22 triệu người, rõ ràng đây thật sự là một
kỳ tích của nền GD non trẻ.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về GD và XHHGD đã soi sáng, định hướng hoạt
động GD nước ta suốt hơn 65 năm qua và đạt được những thành tựu to lớn, đào tạo
được "những con người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và Nhân dân"
- những lớp người yêu nước, có ý chí độc lập, tự chủ, có phẩm chất chính trị, đạo
đức trong sáng, vững vàng trong mọi hoàn cảnh, có tinh thần vượt khó vươn lên làm
chủ tri thức khoa học - công nghệ - kỹ thuật, phục vụ xứng đáng sự nghiệp xây
dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế
hiện nay, XHHGD nước ta vẫn dựa trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh về triết lý
GD.
1.3.2. Mục tiêu của công tác xã hội hoá giáo dục
Mục tiêu của XHHGD được khẳng định tại Nghị quyết Hội nghị Trung ương
2 khoá VIII: "XHHGD là huy động xã hội làm GD, động viên các tầng lớp nhân
dân góp sức xây dựng nền GD quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước". Mục tiêu
XHHGD được thể hiện qua những vấn đề cơ bản sau:
- Phải làm cho xã hội nhận thức đúng đắn vai trò của GD & ĐT trong quá
trình xây dựng và phát triển đất nước, cũng như trong quá trình phát triển KT-XH
của mỗi địa phương và toàn cộng đồng. Qua đó, hình thành hệ tư tưởng xã hội về
GD & ĐT theo quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, đó là "GD
là quốc sách hàng đầu….; đầu tư cho GD là một trong những hướng chính của đầu
tư phát triển, tạo điều kiện cho GD đi trước và phục vụ đắc lực sự phát triển kinh tế
- xã hội" [29], "GD - ĐT là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn
dân" [31].
- XHHGD là tạo nhiều nguồn lực cùng tham gia xây dựng, huy động các lực
lượng của cộng đồng xã hội làm GD, tạo môi trường cho bản chất xã hội của GD
phát huy tối đa vai trò của mình, làm cho GD đáp ứng có hiệu quả nhu cầu thực tế
của xã hội, gắn với xã hội, không thoát ly ra khỏi cuộc sống. Tất cả mọi việc làm
của các tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội, các cơ quan đoàn thể, các tầng lớp nhân