MỤC LỤC
I.Tính cấp thiết của đề tài.
II. Tình hình nghiên cứu.
III. Đối tượng phạm vi nghiên cứu.
IV. Phương pháp nghiên cứu.
V. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.
VI. Cơ cấu của đề tài.(Đề cương)
1. Thực trạng của tình hình tội sản xuất hàng giả, tội buôn bán hàng giả
trên địa bàn thành phố Hà Nội (2003-2009).
a. Tội phạm rõ.
b. Tội phạm ẩn.
c. Chỉ số tội phạm.
d. Thông số về thiệt hại.
2. Diễn biến của tình hình tội sản xuất hàng giả, tội buôn bán hàng giả
trên địa bàn thành phố Hà Nội (2003-2009).
3. Cơ cấu và tính chất của tình hình tội sản xuất hàng giả, tội buôn bán
hàng giả trên địa bàn thành phố Hà Nội (2003-2009).
a. Cơ cấu.
b. Tính chất.
VII. Kết luận.
I.Tính cấp thiết của đề tài.
Sự xuất hiện hàng giả đã có từ lâu và luôn là mối quan tâm lo lắng của
nhiều người, cả nhà sản xuất lẫn hàng chục triệu người tiêu dùng trên thế giới.
Tuy trước đây nạn hàng giả chỉ mang tính thủ công nhất thời, nhưng nay nó
đã trở nên một hiện tượng có tính chất toàn cầu. Hàng giả không những gây
thiệt hại về tiền của, sức khỏe, thậm chí cả tính mạng của con người mà còn
gây rối loạn trật tự kinh tế thị trường, giá cả, kìm hãm sự phát triển sản xuất
và lưu thông hàng hóa. Hàng giả trực tiếp gây thiệt hại cho người tiêu dùng
và làm điêu đứng các nhà sản xuất chân chính. Đối với Việt Nam chúng ta và
riêng trên địa bàn thủ đô Hà Nội, hàng giả hơn bao giờ hết đang tràn lan khắp
nơi, đủ các chủng loại từ hàng cao cấp đến hàng bình dân, len chân vào từ
bán hàng giả được nghiên cứu chung với một số tội phạm kinh tế như “Tội
đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép” của tác giả Vũ Thiện
Kim (Nhà xuất bản pháp lý 1983). Và sau khi BLHS được ban hành, trong
các cuốn giáo trình luật hình sự, bình luận khoa học LHS, trong các tạp chí
chuyên ngành, tội sản xuất hàng giả và buôn bán hàng giả cũng được nghiên
cứu như là một chế định hình sự nhưng nhìn chung chưa được sâu và có hệ
thống. Ngoài ra, trên thực tế cho đến nay có rất ít các bài viết, công trình
nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ, tỉ mỉ và có hệ thống về tội làm hàng
giả, tội buôn bán hàng giả.
III. Đối tượng phạm vi nghiên cứu.
Đề tài nghiên cứu về hàng giả là một đề tài tương đối rộng, thực tiễn
đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết một cách thấu đáo. Tuy nhiên trong phạm
vi bài viết này em chỉ đề cập đến tội phạm về hàng giả dưới góc độ tình hình
tội sản xuất, buôn bán hàng giả trên địa bàn Hà Nội từ năm 2003 đến năm
2009. Do đó, việc nghiên cứu chủ yếu sẽ là những nội dung của tình hình tội
3
sản xuất, buôn bán hàng giả trên địa bàn Hà Nội từ năm 2003 đến 2009 bao
gồm: Thực trạng, diễn biến và cơ cấu, tính chất của tình hình tội phạm này.
Ngoài ra, do không có điều kiện phân tích hai tội sản xuất hàng giả và buôn
bán hàng giả một cách độc lập, riêng rẽ nên số liệu hai tội này sẽ được tổng
hợp chung (cùng được quy định trong BLHS).
IV. Phương pháp nghiên cứu.
Các phương pháp được sử dụng để nghiên cứu có thể kể đến như
phương pháp luật học so sánh, phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê,
phương pháp điều tra xã hội học… trong đó phương pháp được dùng chủ yếu
và đặc trưng nhất là phương pháp thống kê.
V. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.
1. Mục đích: Việc nghiên cứu tình hình tội sản xuất, buôn bán hàng giả
không chỉ giúp cho nhận diện “bức tranh” về tội phạm này được rõ nét, tìm ra
được quy luật vận động của tội phạm mà còn giúp cho việc dự đoán (tuy chỉ
+ Đưa ra được bảng thống kê và số liệu theo các nội dung sau:
Năm
Số vụ tội phạm Số người phạm tội
TP
chung
Tội
SXHG,
BBHG
Tỷ lệ %
TP
chung
Tội
SXHG,
BBHG
Tỷ lệ %
+ Nhận xét về số liệu được đưa ra như sự tăng giảm về số vụ và số người qua
các năm, tỉ lệ giữa số vụ và số người về tội phạm sản xuất hàng giả, buôn bán
hàng giả so với tội phạm chung trên địa bàn Hà Nội.
+ Đánh giá: Việc chỉ dựa vào các con số thống kê chưa thể phản ánh đầy đủ
thực trạng của tội phạm. Bởi ngoài yếu tố này cần phải chú ý tới tình trạng vi
phạm pháp luật trên thực tế xảy ra. Nó có thể được phản ánh bằng rất nhiều
nguồn như: Các báo cáo tổng kết của các cơ quan chức năng khác có liên
quan mà không phải là cơ quan pháp luật như cơ quan quản lý thị trường,
5