Hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng từ thực tiễn tại các tòa án nhân dân tỉnh hải dương - Pdf 50

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TỪ THỰC TIỄN TẠI
CÁC TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

NGUYỄN VĂN LÂM

HÀ NỘI - 2017
i


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung
thực. Những kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác.

Người cam đoan

Nguyễn Văn Lâm

ii


LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ...............................................................................viii
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài ............................................................. 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ................................................................................. 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ....................................................................... 4
3.1. Mục đích nghiên cứu ........................................................................................ 4
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................................ 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................................ 4
4.1. Đối tượng nghiên cứu ....................................................................................... 4
4.2. Phạm vi nghiên cứu .......................................................................................... 5
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu ........................................................... 5
6. Ý nghĩa lý luận và những đóng góp mới của luận văn.......................................... 5
7. Kết cấu của luận văn ............................................................................................ 6
Chương 1................................................................................................................. 7
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG VÀ
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ........................... 7
HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG......................................................................................... 7
1.1. Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng tín dụng ..................................................... 7
1.1.1. Khái niệm hợp đồng tín dụng ......................................................................... 7
1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng tín dụng ................................................................... 8
1.2. Khái niệm, đặc điểm, phân loại tranh chấp hợp đồng tín dụng ........................ 11
1.2.1. Khái niệm tranh chấp hợp đồng tín dụng ..................................................... 11
1.2.2. Đặc điểm tranh chấp hợp đồng tín dụng ...................................................... 12
1.2.3. Phân loại tranh chấp hợp đồng tín dụng ...................................................... 18
1.3. Nguyên nhân và các phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng .... 21

iv


1.3.1. Nguyên nhân của tranh chấp hợp đồng tín dụng .......................................... 21

3.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật.................................................................... 78
3.2.2. Các kiến nghị về tổ chức và thực hiện .......................................................... 96

v


Kết luận chương 3 ................................................................................................. 99
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................. 102

vi


DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Số liệu vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại (trong đó có tranh
chấp HĐTD) trong giai đoạn 2012 – 2016 ................................................................64
Bảng 2.2. Số liệu vụ án về tranh chấp HĐTD thụ lý trong giai đoạn 2012 – 2016....
........................................................................................................................................65

vii


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDS : Bộ luật dân sự
BLTTDS : Bộ luật tố tụng dân sự
HĐTD : Hợp đồng tín dụng
TAND : Tòa án nhân dân
TCTD : Tổ chức tín dụng
XHCN : Xã hội chủ nghĩa


1


BLDS năm 2005, Luật các TCTD năm 2010 và đặc biệt gần đây là việc Quốc
hội đã ban hành BLDS năm 2015 và BLTTDS năm 2015.
Các quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐTDvề cơ bản đã
tương đối đầy đủ về hình thức cũng như nội dung. Tuy nhiên, những quy định
pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐTD còn chưa thực sự đồng bộ giữa BLDS,
BLTTDS với Luật các TCTD, trong khi BLDS, BLTTDS mới được ban hành
mới thì Luật các TCTD 2010 chưa được sửa đổi, bổ sung. Những quy định đặc
thù về giải quyết tranh chấp HĐTD chưa thực sự cụ thể, còn có sự chồng chéo về
chủ thể, quyền hạn giải quyết… Điều này dẫn đến hiệu quả giải quyết tranh chấp
HĐTD chưa thực sự cao, có nhiều vụ việc bị kháng cáo, kháng nghị phúc thảm,
thậm chí có trường hợp bị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đã làm ảnh hưởng
không nhỏ đến quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ.
Tỉnh Hải Dương là địa phương có tốc độ phát triển kinh tế xã hội nhanh
trên cả nước, quy mô kinh tế ngày một lớn, đời sống nhân dân ngày càng được
cải thiện. Trong những năm vừa qua, cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội thì
những tranh chấp phát sinh từ hoạt động tín dụng nói chung và HĐTD nói riêng
trên địa bàn tỉnh Hải Dương ngày gia tăng. Các tranh chấp này đã được TAND
hai cấp của tỉnh Hải Dương thụ lý giải quyết góp phần quan trọng vào việc bảo
vệ quyền lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ. Tuy nhiên, thực tiễn giải
quyết tranh chấp HĐTD trên địa bàn còn nhiều hạn chế, tồn tại, cần phải có
những nghiên cứu để góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp này hơn
nữa.
Từ những sự phân tích trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Hoàn thiện
pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng từ thực tiễn tại các Tòa
án nhân dântỉnh Hải Dương” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Các công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực tín dụng ngân hàng nói

Với luận văn này, tôi mong muốn làm rõ hơn những vấn đề cơ bản về
HĐTD, giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD, chỉ ra những bất cập của việc
3


thực hiện các quy định pháp luật trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp phát
sinh từ HĐTD. Từ đó, đề xuất những giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về
giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng con đường Tòa án ở Việt Nam
hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật Việt
Nam về giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng con đường Tòa án. Trên
cơ sở phân tích thực trạng áp dụng các quy định đó trong thực tiễn tại TAND
tỉnh Hải Dương, chỉ ra những vấn đề phát sinh và bất cập, từ đó đề ra một số
kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh
từ HĐTD bằng con đường Tòa án ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu trên đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về tranh chấp HĐTD và giải
quyết tranh chấp HĐTD như khái niệm, đặc điểm; để từ đó xác định khái niệm,
nội dung của pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐTD;
- Nghiên cứu làm sáng tỏ quy định của pháp luật hiện hành của Việt Nam
về giải quyết tranh chấp HĐTD để từ đó đánh giá được những hạn chế, tồn tại
trong hệ thống quy định này;
- Phân tích, đánh giá thực tiễn giải quyết tranh chấp HĐTD tại các TAND
trên địa bàn tỉnh Hải Dương, đưa ra được những hạn chế, bất cập trong thực tiễn
giải quyết này;
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về
giải quyết tranh chấp HĐTD và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp HĐTD.

- Đề xuất được các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
giải quyết tranh chấp HĐTD.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu nghiên
cứu, giảng dạy trong các cơ sở đào tạo luật và tài liệu tham khảo cho các cơ quan
5


áp dụng pháp luật trên thực tiễn như:Tòa án, Viện kiểm sát, Thi hành án dân
sự…
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được
kết cấu thành 3 chương cụ thể như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về tranh chấp HĐTD và hoàn thiện
pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐTD
Chương 2: Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐTD
Chương 3:Thực tiễn giải quyết tranh chấp HĐTD các kiến nghị hoàn
thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp HĐTD

6


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
1.1. Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng tín dụng
1.1.1. Khái niệm hợp đồng tín dụng
HĐTD là một dạng cụ thể của hợp đồng vay tài sản đã được quy định
trong BLDS 2015. Tuy nhiên, chỉ gọi là HĐTD trong trường hợp bên cho vay là
các TCTD, trong đó chủ yếu là các ngân hàng. Theo quy định tại Điều 463

cũng là một dạng cụ thể của hợp đồng dân sự. Từ khái niệm hợp đồng dân sự
được quy định theo Điều 385 BLDS 2015: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các
bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.2”, có thể
hiểu “HĐTD là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa TCTD (bên cho vay) với tổ
chức, cá nhân có đủ những điều kiện luật định (bên vay), theo đó TCTD chuyển
giao một số tiền cho bên vay sử dụng vào mục đích và trong một thời hạn được
xác định, khi đến hạn, bên vay phải trả cả gốc và lãi được xác định theo lãi suất
mà các bên đã thỏa thuận”.
Như vậy, HĐTD ngân hàng là văn bản phản ánh thỏa thuận trực tiếp của
TCTD và khách hàng trong việc xác lập một quan hệ cho vay, xác lập các quyền
và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các bên đó trong việc vay và hoàn trả vốn vay.
1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng tín dụng
HĐTD mang những đặc điểm chung của hợp đồng nhưng vẫn có những
nét khác biệt cụ thể như sau:
- HĐTD ngân hàng phải luôn được ký kết dưới hình thức văn bản. Sau khi
TCTD quyết định cho khách hàng vay vốn, sự thoả thuận cho vay và vay của
TCTD với khách hàng phải thành lập bằng văn bản. VớiHĐTD bằng văn bản,
các bên có thể thực hiện hợp đồng trong sự đảm bảo an toàn pháp lý và khi có
tranh chấp xảy ra, HĐTD sẽ là căn cứ xác thực nhất để các cơ quan tài phán giải
quyết tranh chấp. Đa phần các HĐTD là hợp đồng theo mẫu, chủ thể cho vay là
TCTD soạn thảo dựa trên quy định của pháp luật và phù hợp với quy chế cho
2

Quốc hội (2015), BLDS, Hà Nội

8


vay của TCTD. Bên vay thường phải chấp nhận những điều khoản trong hợp
đồng mà không phải ai cũng có thể yêu cầu sửa đổi điều khoản theo hướng có lợi


9


bản điện tử dạng thông điệp dữ liệu thường ít xảy ra.
- HĐTD có đối tượng là những khoản vốn được thể hiện dưới hình thức
tiền tệ. Vốn tiền tệ trong HĐTD có thể là tiền đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ. Cho
vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó TCTD giao cho khách hàng sử dụng
một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với
nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Nhờ đó, hoạt động cho vay đã trở thành hoạt
động sinh lời chủ yếu của các TCTD và trở thành một hình thức tín dụng phổ biến
trong nền kinh tế thị trường. Về nguyên tắc đối tượng của HĐTD bao giờ cũng là
một số tiền xác định, được các bên thỏa thuận và ghi rõ trong hợp đồng.
- Một bên chủ thể của HĐTD bắt buộc là TCTD được thành lập và
hoạtđộng cho vay theo Luật các TCTD năm 2010 và các văn bản liên quan; có
chức năng hoạt động, kinh doanh tín dụng. TCTD bao gồm ngân hàng và TCTD
phi ngân hàng. Bên cho vay có thể là một hoặc nhiều TCTD (trường hợp cho vay
hợp vốn) thỏa mãn điều kiện luật định.
- HĐTD phải được tuân thủ chặt chẽ về các nội dung bắt buộc, năng lực
chủ thể của các bên tham gia quan hệ tín dụng, mục đích sử dụng vốn vay, giới
hạn vốn vay, lãi suất vay và bảo đảm thực hiện hợp đồng, phương pháp giải
quyết tranh chấp. TCTD không được cho vay vốn nhằm đáp ứng các nhu cầu bị
cấm theo quy định của pháp luật. TCTD không được cho vay các nhu cầu vốn
sau đây: để mua sắm các tài sản và các chi phí hình thành nên tài sản mà pháp
luật cấm mua bán, chuyển nhượng, chuyển đổi; để thanh toán các chi phí cho
việc thực hiện các giao dịch mà pháp luật cấm; để đáp ứng các nhu cầu chính của
các giao dịch mà pháp luật cấm”5. TCTD không được cho vay đối với khách
hàng trong các trường hợp sau đây: Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm
soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) của
TCTD; Cán bộ, nhân viên của chính TCTD đó thực hiện nhiệm vụ thẩm định,

là hành vi pháp lý của các bên đã xử sự trái với các điều khoản được cam kết
trong hợp đồng. Còn tranh chấp hợp đồng là ý kiến không thống nhất của các

6

Ngân hàng Nhà nước (2016), Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30-12-2016 về quy định về hoạt
động cho vay của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, Hà Nội
7
Ngân hàng Nhà nước (2016), Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30-12-2016 về quy định về hoạt
động cho vay của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, Hà Nội

8

Bùi Ngọc Cường, (2004), Một sốvấn đềvềquyền tựdo kinh doanhtrong pháp luật kinh tế
hiện hành ở Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trịQuốc gia, Hà Nội, tr.89

11


bên về hành vi vi phạm đó hoặc cách thức giải quyết hậu quả phát sinh từ sự vi
phạm đó và được thể hiện ra bên ngoài. Cho nên, không phải cứ khi nào vi phạm
hợp đồng thì khi đó có tranh chấp mà đôi khi sự vi phạm hợp đồng diễn ra trước
và tranh chấp hợp đồng lại là sự kiện diễn ra sau đó một khoảng thời gian nhất
định. Và đôi khi có sự vi phạm HĐTD nhưng không thể có sự tranh chấp bởi các
bên không bày tỏ ra bên ngoài về sự bất đồng hay xung đột lợi ích giữa họ với
nhau bằng các hành vi phản kháng cụ thể có giá trị chứng cứ.
Như vậy, tranh chấp HĐTD là những mâu thuẫn, bất đồng phát sinh từ
quyền và nghĩa vụ trong HĐTD giữa bên cho vay (ngân hàng) và bên vay (khách
hàng). Đó là những tranh chấp về lãi suất, nợ gốc, nợ lãi, việc giải ngân, xử lý tài
sản đảm bảo, thế chấp…

vốn, các HĐTD tiếp theo sẽ khó mà thực hiện, kể cả khi bên đi vay chứng minh
lại được khả năng tài chính của mình. Do đó, có thể nói tranh chấp HĐTD là loại
tranh chấp có giá trị thiệt hại lớn, không chỉ ảnh hưởng đến bên cho vay mà còn
cả đối với bên đi vay. Thậm chí nếu tranh chấp xảy ra nhiều thì ảnh hưởng đó
không chỉ ảnh hưởng đến một TCTD mà có thể ảnh hưởng dây chuyền đến các
TCTD khác trong nền kinh tế.
Thứ hai, tranh chấp HĐTD ngân hàng được giải quyết dựa trên nguyên tắc tự
do thỏa thuận trong khuôn khổ pháp luật của các bên tham gia tranh chấp.
Pháp luật Việt Nam tôn trọng sự thỏa thuận của các bên, cụ thể, Điều 3
BLDS 2015 ghi nhận: “Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền,
nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi
cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội
có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.9”
HĐTD về bản chất là hợp đồng dân sự mà quan hệ dân sự là quan hệ mang tính
thỏa thuận, tự định đoạt giữa các bên. Do đó, kể cả đối với việc giải quyết tranh
chấp phát sinh từ HĐTD thì các bên cũng có quyền thỏa thuận để đạt được hiệu
quả tối ưu nhất trong trường hợp có tranh chấp xảy ra. Việc tôn trọng quyền định
9

Quốc hội (2015), BLDS, Hà Nội

13


đoạt này có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì quan hệ dân sự giữa các bên mang
tính bình đẳng, không phải là mối quan hệ mệnh lệnh - phục tùng như các quan
hệ hành chính nhà nước khác. Khi các bên tham gia tranh chấp có thể thỏa thuận
được với nhau thì việc giải quyết tranh chấp sẽ diễn ra nhanh chóng, thuận lợi
hơn, đồng thời giảm thiểu được thiệt hại về thời gian, tiền bạc, công sức của các
bên. Về phía các cơ quan tài phán, thi hành án thì việc thỏa thuận này cũng có ý

khách hàng có địa vị ngang bằng nhau tham gia thỏa thuận. Nhưng với tư cách là
chủ thể có nguồn vốn dồi dào, việc áp đặt các điều kiện cho vay đối với khách
hàng là điều không hiếm xảy ra. Hơn nữa, khi tham gia kí kết hợp đồng thì hợp
đồng thường do bên cho vay là các TCTD soạn thảo với đội ngũ cán bộ có trình
độ chuyên môn về mặt pháp lý nhất định. Trong khi đó, chủ thể đi vay là khách
hàng thường là các tổ chức, cá nhân, trình độ chuyên môn về mặt pháp lý của họ
còn thấp và nhiều khi không được chú trọng đúng mức. Và như vậy là hợp đồng
được kí kết với các điều khoản chặt chẽ nhằm bảo đảm cho quyền lợi của TCTD
khi bên vay không trả nợ hay trả không đúng nghĩa vụ. Do đó, khi tranh chấp
xảy ra thì TCTD luôn nắm đằng chuôi với các điều khoản được ghi nhận một
cách chặt chẽ, rõ ràng trong hợp đồng được sự đồng thuận của cả hai bên. Vì
vậy, nếu có tranh chấp xảy ra thì là do bên đi vay vi phạm, chứ ít khi TCTD lại
vi phạm chính những điều khoản do chính mình soạn thảo.
Mặt khác, trong mối quan hệ HĐTD, các nghĩa vụ chính của bên đi vay
thường phát sinh sau thời điểm giải ngân. Trong khi đó, tại thời điểm hoàn tất
việc giải ngân cho khách hàng thì TCTD đã hoàn thành các nghĩa vụ của mình.
Các nghĩa vụ khác của bên cho vay như bảo mật thông tin, lưu trữ hồ sơ tín
dụng, nghĩa vụ thông báo, bảo quản tài sản bảo đảm, giải chấp tài sản đảm bảo...
là ít quan trọng và là nghĩa vụ phát sinh từ quyền của bên vay. Vì lý do đó nên
nếu có tranh chấp xảy ra thì thường là do bên vay vi phạm nghĩa vụ của mình, rất
hiếm gặp trường hợp bên đi vay khởi kiện TCTD10.
10

Chính phủ (2012), Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/2/2012 củaChính phủ về việc sửa đổi, bổ sung

một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, Hà

15




quyền và nghĩa vụ trong các hợp đồng bảo đảm cho nghĩa vụ vay vốn là để bảo
đảm cho việc vay vốn, xuất phát từ HĐTD đã được kí kết và mục đích cuối cùng
là bảo đảm cho việc trả nợ của bên đi vay.
Như vậy, không có trường hợp nào, hợp đồng bảo đảm lại tách rời ra khỏi
HĐTD với tư cách là một hợp đồng độc lập mà giữa chúng luôn có mối quan hệ
mật thiết, gắn bó với nhau. Có thể ví mối quan hệ này như là mối quan hệ giữa
hợp đồng chính và hợp đồng phụ. Sự vô hiệu loại hợp đồng này có ảnh hưởng
đến loại hợp đồng kia tùy trường hợp. “Trong trường hợp hợp đồng có nghĩa vụ
được bảo đảm vô hiệu mà các bên chưa thực hiện hợp đồng thì giao dịch bảo
đảm chấm dứt, nếu đã thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng có nghĩa vụ
được bảo đảm thì giao dịch bảo đảm không chấm dứt, trừ trường hợp có thỏa
thuận khác”. Ngược lại, “giao dịch bảo đảm vô hiệu không làm chấm dứt hợp
đồng có nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Như vậy,
có thể khẳng định rằng tranh chấp HĐTD, với tư cách là hợp đồng chính, luôn
gắn liền và làm cơ sở phát sinh tranh chấp hợp đồng bảo đảm - hợp đồng phụ
trong quan hệ tín dụng giữa các bên.
Thứ sáu, tranh chấp HĐTD phát sinh từ sự xung đột về lợi ích giữa các
bên tham gia tranh chấp.
Vì tranh chấp HĐTD cũng là một loại tranh chấp hợp đồng nên phải xuất
phát từ xung đột lợi ích của các bên trong hợp đồng. Mặc dù vậy trong quan hệ
dân sự, pháp luật hiện hành quy định một số cơ quan đoàn thể có thể khởi kiện
để đảm bảo quyền lợi cho tổ chức, cá nhân khác mà không phải là lợi ích của
chính cơ quan, đoàn thể đó. Tuy nhiên, đối với tranh chấp phát sinh từ HĐTD thì
chỉ có chính các bên hay người đại diện hợp pháp của họ mới có quyền khởi kiện
để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên đi vay hay TCTD. Không có trường
hợp nào mà tranh chấp HĐTD phát sinh do tổ chức, cá nhân khác khởi kiện để
bảo vệ quyền lợi cho các bên tham gia HĐTD. Như vậy, tranh chấp phát sinh từ
HĐTD chỉ phát sinh khi các bên khởi kiện yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp
17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status