BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP KINH DOANH THƢƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN
TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NGUYỄN THANH HOAN
HÀ NỘI - 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP KINH DOANH THƢƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN
TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
NGUYỄN THANH HOAN
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
TS.ĐỒNG NGỌC BA
HÀ NỘI - 2018
học, Trường Đại học Mở Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình
học tập. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, cố gắng để thực hiện luận văn một cách
hoàn chỉnh nhất, nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà tự
bản thân không thể tự nhận thấy được. Tôi rất mong nhận được sử góp ý của
Quý thầy, cô giáo để luận văn được hoàn chỉnh hơn.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn bên tôi, động
viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện luận văn, công trình nghiên
cứu của mình.
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2018
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NGUYỄN THANH HOAN
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ....................................................................................................... …..1
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN NHÂN
DÂN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP KINH DOANH, THƢƠNG
MẠI ................................................................................................................................. 7
1.1. Khái quát về thẩm quyền của Tòa án ..................................................................... 7
1.1.1. Khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại……………………………………….7
1.1.2. Khái niệm giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại…………………………10
1.2. Khái quát chung về thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết tranh chấp kinh
doanh thƣơng mại ........................................................................................................ 12
1.2.1. Khái niệm thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết chấp kinh doanh thương mại
3.1.1. Đáp ứng các yêu cầu của nền kinh tế thị trường trong bối cảnh cải cách tư pháp,
xây dựng nhà nước pháp quyền của Việt Nam.............................................................. 66
3.1.2. Đảm bảo được yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế ................................................ 68
3.1.3. Đảm bảo sự đồng bộ giữa pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng nhằm đảm
bảo hiệu lực của pháp luật tố tụng trong giải quyết tranh chấp .................................. 70
3.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật ..................................................................... 71
3.3. Các giải pháp tăng cƣờng khả năng áp dụng pháp luật ..................................... 74
3.4. Các đề xuất, kiến nghị áp dụng đối với thành phố Hà Nội………………………..81
KẾT LUẬN ................................................................................................................... 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................... 85
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
WTO
Tổ chức Thương mại Thế giới
KDTM
kinh doanh, thương mại
TCKDTM
tranh chấp kinh doanh, thương mại
BLTTDS
Bộ luật tố tụng dân sự
BLDS
quyết, điều đó làm cho hoạt động xét xử của Toà án gặp nhiều khó khăn vướng
mắc. Mặc dù năm 2015 Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung, nhưng
các quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết TCKDTM của Tòa án vẫn
chưa được khắc phục. Hơn nữa, trong Nhà nước pháp quyền cũng đòi hỏi hoạt
động xét xử của Toà án phải đảm bảo công minh, nhanh chóng, chính xác và kịp
thời tránh tình trạng tồn đọng án, giải quyết án kéo dài, dễ gây phiền hà, mệt mỏi
cho các bên đương sự.
1
Trong giai đoạn hiện nay, cùng với việc tiếp tục đẩy nhanh quá trình cải
cách kinh tế và cải cách nền hành chính quốc gia, công cuộc cải cách tư pháp
cũng đang được Đảng và Nhà nước tích cực triển khai, coi đây như là khâu đột
phá quan trọng, thúc đẩy quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền
Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Điều này được thể hiện rõ nét trong Nghị quyết số
49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 về “chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020”. Công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta đã và đang đặt ra một loạt vấn đề
lý luận và thực tiễn cần được giải quyết một cách hợp lý và thoả đáng, trong đó
có vấn đề xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế nói chung cũng như tạo lập
khuôn khổ pháp lý điều chỉnh pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính
đáng cho các chủ thể kinh doanh, kể cả việc giải quyết vấn đề đặt ra về tố tụng
kinh tế, dân sự nói riêng sao cho thích hợp hiện cũng cần được quan tâm thích
đáng nhằm tìm ra phương hướng giải quyết đúng đắn, nâng cao hiệu quả điều
chỉnh của pháp luật, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra trong giai đoạn hiện nay. Nói
một cách khác, vấn đề đặt ra là làm thế nào để nâng cao hiệu lực và hiệu quả của
hoạt động xét xử của Toà án đối với việc giải quyết các TCKDTM. Đây là một
trong số những nội dung cơ bản, quan trọng trong việc cải cách và trên nền tảng
đó, hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ
chức, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, giữ vững an ninh chính trị và hội
Luật kinh tế Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2001 … Các bài tạp chí
chuyên ngành luật học như: Giải quyết TCKDTM theo quy định của BLTTDS
2004 (Viên Thế Giang, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 12/2005); Thẩm quyền
giải quyết các tranh chấp kinh doanh theo BLTTDS và các vấn đề đặt ra trong
thực tiễn thi hành (Phan Chí Hiếu, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 6/2005);
Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng con đường Tòa án (Nguyễn Vũ
Hoàng, NXB Thanh niên, năm 2003)... Các luận án tiến sỹ như luận án “Pháp
luật giải quyết tranh chấp kinh tế bằng con đường Toà án ở Việt Nam” của tác
giả Nguyễn Thị Kim Vinh; luận án “Thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân đối
3
với các vụ việc KDTM theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam” của tác giả
Nguyễn Văn Tiến. Một số luận văn thạc sĩ liên quan đến vấn đề thẩm quyền của
Tòa án trong việc giải quyết TCKDTM như: “Một số giải pháp nâng cao hiệu
quả giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân cấp
huyện” của tác giả Nguyễn Vũ Hoàng; “Giải quyết tranh chấp thương mại bằng
Tòa án theo tinh thần cải cách tư pháp ở Việt Nam” của tác giả Vũ Quốc Hùng…
Các công trình trên đã góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện hệ thống
pháp luật Việt Nam về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết TCKDTM
trong thời gian qua. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên đều chưa tập
trung đưa ra các giải pháp để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả của hoạt
động giải quyết TCKDTM. Hơn nữa nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đang tiếp
tục được đặt ra và có nhu cầu giải quyết hoặc chưa được cập nhật trong pháp luật
hiện hành. Đây là vấn đề cấp thiết đặt ra trong tiến trình hoàn thiện hệ thống
pháp luật nói chung, hệ thống pháp luật kinh tế nói riêng ở nước ta.
3, Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành liên quan trực
bản hướng dẫn thi hành.
Đề tài nghiên cứu thực tiễn áp dụng thẩm quyền của tòa án nhân dân trong
giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân thành phố Hà
Nội.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa triết học
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sách của
Đảng, Nhà nước ta về phát triển kinh tế xã hội, về xây dựng và hoàn thiện pháp
luật trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
5
Các phương pháp được sử dụng chủ yếu để nghiên cứu đề tài bao gồm các
phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung và phương pháp nghiên cứu khoa
học pháp lý nói riêng như phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh,
hệ thống hóa pháp luật...
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được
kết cấu thành 03 chương
Chương 1. Những vấn đề lí luận về thẩm quyền của Toà án trong việc giải
quyết TCKDTM
Chương 2. Pháp luật về thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết
TCKDTM và thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội
Chương 3. Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của Toà án trong việc giải
quyết TCKDTM
6
Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật thương mại tập II, NXB Công an nhân dân, tr.427.
7
này dẫn đến không có sự phân biệt rõ ràng giữa tranh chấp kinh tế và tranh chấp
dân sự.
Hiện nay ở Việt Nam chưa có cách hiểu chuẩn xác và thống nhất về
TCKDTM. Việc xác định phạm vi của tranh chấp được coi là TCKDTM chủ yếu
căn cứ vào luật thực định.
Theo Điều 16 Khoản 4 Luật doanh nghiệp năm 2014 thì: “Kinh doanh là
việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu
tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường
nhằm mục đích sinh lợi.”
Khoản 1 điều 3 Luật Thương mại năm 2005 định nghĩa: “hoạt động
thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa,
cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích
sinh lợi khác”.
Khái niệm kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp 2014 và khái niệm thương
mại theo Luật thương mại 2005 về cơ bản là tương thích với nhau và cũng phù
hợp với khái niệm thương mại theo luật mẫu về thương mại điện tử của
UNCITRAL: “Thuật ngữ thương mại được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát
các vấn đề nảy sinh từ mọi quan hệ thương mại, dù có hay không có hợp đồng.
Các mối quan hệ mang tính thương mại bao gồm nhưng không phải chỉ bao gồm,
các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch thương mại nào về cung cấp hoặc trao đổi
hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại;
ủy thác hoa hồng, cho thuê dài hạn, xây dựng các công trình; đầu tư; cấp vốn;
ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh hoặc các
hình thức về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay
hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ.”3
Mỗi cách định nghĩa đều có hạt nhân hợp lý của mình, vấn đề là sử dụng
thuật ngữ thống nhất trong tất cả các văn bản pháp luật. Và thuật ngữ đó không
thể bó hẹp nội dung cụ thể của tranh chấp mà mang tính bao quát, tiên liệu các
TCKDTM trong sự biến động của đời sống kinh tế hiện nay, nhưng lại xác định
4
Michel Bogdan (2006), Luật so sánh, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
9
chính xác loại tranh chấp. Đặc biệt, xây dựng hệ thống pháp luật giải quyết tranh
chấp này thật hiệu quả là vấn đề thực tế đặt ra.
1.1.2. Khái niệm giải quyết tranh chấp kinh doanh thƣơng mại
TCKDTM là hệ quả phát sinh từ các quan hệ KDTM, các quan hệ có tính
tài sản với mục đích kinh doanh, kiếm lời. Khi tham gia các quan hệ KDTM. các
chủ thể đều hướng đến mục đích cao nhất là lợi nhuận, lợi ích kinh tế. Do vậy,
TCKDTM phát sinh trên cơ sở sự xâm phạm đến quyền lợi kinh tế. Các tranh
chấp này thường có ảnh hưởng đến không những quyền lợi của các bên tranh
chấp mà còn ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh của cả cộng đồng kinh doanh.
Đây chính là phản ứng dây chuyền của TCKDTM và do vậy nếu nó không được
giải quyết một cách khoa học, bảo đảm quyền lợi của các bên trong quan hệ
tranh chấp thì có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của nền kinh tế đất
nước.
Giải quyết TCKDTM theo nghĩa chung nhất có thể hiểu là cách thức,
phương pháp cũng như các hoạt động để khắc phục và loại trừ các tranh chấp
phát sinh, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh,
bảo vệ trật tự kỷ cương xã hội.5
Hoạt động KDTM có những đặc thù riêng cho nên khi tranh chấp xảy ra
các bên tranh chấp luôn mong muốn nhanh chóng chấm dứt xung đột để bảo vệ
hợp với tất cả các bên nhằm chấm dứt những tranh chấp trong hoạt động kinh
doanh.
Giải quyết TCKDTM bằng hòa giải là phương thức giải quyết TCKDTM
có sự tham gia của bên thứ ba giữ vai trò trung gian hòa giải nhằm giúp cho các
bên tranh chấp thu hẹp những bất đồng và đi đến giải pháp giải quyết vụ tranh
chấp. Bên thứ ba (hay còn gọi là hòa giải viên) do các bên tranh chấp thỏa thuận
lựa chọn làm trung gian hòa giải không có quyền quyết định hay áp đặt ý chí của
mình lên các bên tranh chấp. Tuy nhiên, hòa giải viên là người am hiểu pháp
luật, có kỹ năng hòa giải, có kiến thức chuyên môn liên quan đến lĩnh vực tranh
chấp sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc giúp cho các bên tranh chấp tìm kiếm
11
những giải pháp thích hợp cho việc giải quyết tranh chấp, còn giải pháp có đạt
được hay không là do các bên tranh chấp quyết định.
Giải quyết TCKDTM bằng Trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp
thông qua hoạt động của Trọng tài viên (hoặc Hội đồng Trọng tài), với tư cách là
bên thứ ba độc lập nhằm chấm dứt xung đột bằng việc đưa ra một phán quyết
buộc các bên tranh chấp phải thực hiện. Cơ sở làm phát sinh thẩm quyền của
Trọng tài là sự thỏa thuận của các bên tranh chấp. Điều 5, khoản 1 của Luật
Trọng tài thương mại 2010 quy định: “Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng
tài nếu các bên có thoả thuận Trọng tài. Thỏa thuận Trọng tài có thể được lập
trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp”. Thỏa thuận Trọng tài phải được lập thành
văn bản, có thể ghi trong hợp đồng chính hoặc bằng văn bản riêng.
Giải quyết TCKDTM bằng Tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp
tại cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà nước, được tiến hành theo trình tự,
thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ và bản án hay quyết định của Tòa án về vụ tranh
chấp nếu không có sự tự nguyện tuân thủ sẽ được đảm bảo thi hành bằng sức
mạnh cưỡng chế của nhà nước.6 Tòa án là cơ quan tài phán kinh tế duy nhất có
đó là: Khái niệm thẩm quyền; Khái niệm thẩm quyền dân sự theo loại việc của
Tòa án và khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại.
Hiểu một cách chung nhất thì “Thẩm quyền là quyền xem xét để quyết
định và định đoạt một vấn đề theo pháp luật”.7 Dưới góc độ pháp lý thì thẩm
quyền là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định của cơ quan, tổ
chức thuộc bộ máy Nhà nước do pháp luật quyết định.
Như vậy, có thể nhận định rằng, dù tiếp cận dưới góc độ nào thì “thẩm
quyền” luôn bao hàm hai nội dung cơ bản đó là: Quyền xem xét giải quyết các
vụ việc trong phạm vi pháp luật cho phép và quyền hạn trong việc ra các quyết
định khi giải quyết vụ việc đó.
Theo quy định tại Điều 102 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam năm 2013 thì “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp. Tòa án nhân dân gồm Tòa
7
Từ điển Tiếng việt (2006), Nxb Đã Nẵng, tr 922
13
án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do luật định”8. Trên cơ sở quy định này
của Hiến pháp, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 đã quy định cụ thể là
Tòa án nhân dân có thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hành chính và
giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật. Khi xét xử Tòa án có
quyền ban hành bản án và các quyết định, được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh
cưỡng chế của nhà nước thông qua hệ thống cơ quan thi hành án dân sự. Do đó,
thẩm quyền của Tòa án là khả năng của một Tòa án xem xét một vụ việc trong
phạm vi pháp luật cho phép.
Trong khoa học pháp lý, vấn đề thẩm quyền của Tòa án đã được nhiều nhà
nghiên cứu quan tâm và cũng có nhiều quan niệm khác nhau về “thẩm quyền của
trong việc xét xử đó”. Trong phạm vi nghiên cứu đề tài tác giả chỉ xem xét thẩm
quyền dưới góc độ quyền xem xét giải quyết các vụ việc về giải quyết tranh chấp
kinh doanh, thương mại trong phạm vi pháp luật cho phép. Thẩm quyền dân sự
theo loại việc của tòa án là một trong các thẩm quyền dân sự của tòa án. Trên thế
giới đa số các quốc gia kể cả các quốc gia theo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ hay
các quốc gia theo hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa đều tiếp cận khái niệm
thẩm quyền dân sự của tòa án dưới hai góc độ: Thẩm quyền theo loại việc (căn
cứ vào bản chất của vụ việc) và thẩm quyền theo phạm vi lãnh thổ. Tuy nhiên
theo đặc thù trong việc tổ chức hệ thống tòa án mà tại Việt Nam thẩm quyền dân
sự của tòa án còn được tiếp cận dưới góc độ là thẩm quyền theo cấp của tòa án
trong việc xét xử sơ thẩm. Để xác định một vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải
quyết của một Tòa án cụ thể nào, đầu tiên, người ta phải xác định vụ việc đó có
thuộc thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án theo loại việc hay không, sau đó
căn cứ vào luật thực định để xác định vụ việc đó thuộc thẩm quyền sở thẩm của
Tòa án cấp nào và bước cuối cùng là xác định trong số các Tòa án cùng cấp đó
thì Tòa án lãnh thổ nào sẽ có thẩm quyền giải quyết. Do đó, việc xác định thẩm
quyền dân sự theo loại việc của Tòa án là nền tảng hay tiền đề quan trọng để xác
định thẩm quyền dân sự của Tòa án trong việc tiếp nhận, thụ lý và giải quyết các
vụ việc dân sự. Như vậy, dưới góc độ nghiên cứu của bản luận văn thì thẩm
quyền dân sự theo loại việc của toà án là quyền xem xét, giải quyết các vụ việc
theo thủ tục tố tụng dân sự.
Theo Điều 2 Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2014, Điều 1 BLTTDS
năm 2015 thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết các vụ án và các việc dân sự, hôn
nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động theo quy định của pháp luật.
15
Hiện nay, hệ thống Tòa án của Việt Nam được tổ chức theo các cấp, theo địa
giới hành chính, ở Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân cấp cao lại có
xây dựng được một khái niệm chuẩn mực về tranh chấp kinh tế nhưng cũng đã
liệt kê được các tranh chấp được coi là tranh chấp kinh tế thuộc thẩm quyền giải
quyết của tòa án kinh tế và trọng tài kinh tế. Đến năm 1999, khái niệm tranh
chấp thương mại lần đầu tiên được đề cập đến trong Luật thương mại ngày
10/5/1999. Năm 2003, Pháp lệnh trọng tài thương mại được ban hành ngày
25/02/2003 tuy không đưa ra định nghĩa về tranh chấp thương mại nhưng thông
qua khái niệm về “hoạt động thương mại” đó tạo được sự tương đồng trong quan
niệm về “thương mại” và “tranh chấp thương mại” của pháp luật Việt Nam với
chuẩn mực chung của pháp luật và thông lệ quốc tế; từ đó mở màn cho việc xem
xét tiếp theo của các văn bản pháp luật khi đề cập đến lĩnh vực thương mại, tranh
chấp thương mại.
Sau nỗ lực cải cách về tư duy pháp lý lớn vào năm 2005 kết quả là cho ra
đời Bộ luật dân sự năm 2005, Luật thương mại năm 2005, bãi bỏ Pháp lệnh hợp
đồng kinh tế năm 1989 đã thống nhất về cách điều chỉnh hợp đồng. BLDS năm
2005 và hiện tại là BLDS năm 2015 có vai trò như đạo luật gốc, điều chỉnh liên
thông tất cả các quan hệ dân sự, lao động, kinh doanh, thương mại, hôn nhân gia
đình; Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 ra đời và hiện nay là Bộ luật tố tụng dân sự
năm 2015 đã thống nhất thủ tục giải quyết tranh chấp nếu xảy ra đối với tất cả
các quan hệ này.
Theo từ điển Tiếng Việt, “tranh chấp” được hiểu là "đấu tranh, giằng co
khi có những mâu thuẫn, bất đồng thường là trong vấn đề quyền lợi giữa hai
bên."11 Tranh chấp kinh doanh thương mại là một khái niệm còn gây nhiều tranh
cãi và chưa có một khái niệm chung thống nhất về vấn đề này. Và ngay cả trong
việc sử dụng thuật ngữ thì trong từng trường hợp và tùy vào mục đích sử dụng
11
Từ điển Tiếng việt (2006), Nxb Đã Nẵng, tr.1024
17
18