Tiểu luận luật: Thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại - Pdf 39

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
❧•❧

TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 2012-2016
Hệ đào tạo: Từ xa

THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN
TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
KINH DOANH THƯƠNG MẠI

Giảng viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:
MSSV:
Lớp:

Cần Thơ, 01/2016


NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................


KD,TM:

Kinh doanh, thương mại

TCKD,TM:

Tranh chấp kinh doanh, thương mại


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU........................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài...............................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu.........................................................................................2
.............................................................................................................................................
3. Phạm vi nghiên cứu...........................................................................................2
4. Phương pháp nghiên cứu..................................................................................2
5. Bố cục đề tài.......................................................................................................3
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA
ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát chung về tranh chấp kinh doanh, thương mại...........................4
1.1.1. Khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại...............................................4
1.1.2. Đặc điểm của tranh chấp kinh doanh, thương mại..........................................5
1.2. Khái quát về thẩm quyền của Tòa án trong hệ thống pháp luật................6
1.3. Thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thương mại........................................................................................................................ 7
1.3.1. Khái quát..........................................................................................................7
1.3.2. Phân loại về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh
doanh, thương mại.................................................................................................................8
1.3.2.1. Thẩm quyền theo vụ việc..............................................................................8

2.5.1. Thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam đối với những tranh chấp kinh
doanh thương mại có yếu tố nước ngoài.............................................................................29
2.5.2. Thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam đối với các TCKD,TM có yếu
tố nước ngoài.......................................................................................................................30
2.5.3. Trường hợp không thay đổi thẩm quyền giải quyết của Tòa án...................30
CHƯƠNG 3. THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ THẨM
QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH
DOANH, THƯƠNG MẠI VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Thực tiễn thực hiện các quy định về thẩm quyền của Tòa án trong việc
giải quyết tranh chấp kinh, doanh thương mại............................................................32
3.1.1. Bất cập về quy định các tranh chấp kinh doanh, thương mại thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án tại khoản 4 Điều 29 BLTTDS năm 2004 sửa đổi, bổ sung
năm 2011.............................................................................................................................33
3.1.2. Bất cập trong hướng dẫn của Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP về thẩm quyền
của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại...............................33
3.1.3. Bất cập trong quy định thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh,
thương mại tại khoản 4 Điều 29 BLTTDS năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011...............34
3.1.4. Bất cập trong quy định thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh,
thương mại theo cấp Tòa án................................................................................................35


3.1.5. Bất cập quy định về thẩm quyền của Tòa án trong trường hợp các bên thỏa
thuận chọn Tòa án nơi nguyên đơn cư trú để giải quyết tranh chấp bất động sản.............35
3.1.6. Chưa có quy định về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh,
thương mại của Tòa án nơi bị đơn có văn phòng đại diện.................................................36
3.2. Nguyên nhân của các bất cập về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp
kinh doanh, thương mại của Tòa án.............................................................................36
3.2.1. Nguyên nhân khách quan...............................................................................36
3.2.2. Nguyên nhân chủ quan...................................................................................37
3.3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và bảo đảm thực hiện các quy định về

10. Luật Cư trú năm 2006
11. Luật Tố tụng hành chính năm 2010
12. Luật Doanh nghiệp năm 2014
13. Luật Tổ chức Tòa án Nhân dân năm 2014
14. Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994
15. Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất
“Những quy định chung” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung
16. Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DLBKH&CN-BTP ngày 03/04/2008 Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật
trong việc giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ tại Tòa án nhân dân
* Sách, báo, tạp chí
1. Bùi Ngọc Cường, Giáo trình luật thương mại, Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2010
2. Cao Nhất Linh, Bài giảng Luật thương mại, phần 3, Khoa Luật, Đại học Cần
Thơ, 2012
3. Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Thương mại, tập II, NXB Công an nhân
dân, 2006
4. Nguyễn Vũ Hoàng, Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng con đường
Tòa án, NXB Thanh niên, Hà Nội, 2003


5. Phan Chí Hiếu, Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh theo Bộ luật
Tố tụng dân sự và các vấn đề đặt ra trong thực tiễn thi hành, Nhà nước và Pháp luật, số
6, 2005, tr.43 - tr.47
6. Trương Thanh Hùng, Giáo trình luật Tố tụng dân sự 1, Khoa Luật, Trường Đại
học Cần Thơ, 2009
7. Tòa án nhân dân tối cao, Báo cáo tổng kết công tác và phương hướng nhiệm vụ
của ngành Tòa án nhân dân, Hà Nội, 2005,2006,2007,2008,2009,2010,2011.
8. Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2006.
9. Vũ Thị Hồng Vân, Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
của Tòa án theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, Tạp chí Luật học, số 4, 2008, tr.56 –

pháp cuối cùng để bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích của mình khi thất bại trong
việc sử dụng cơ chế thương lượng, hòa giải. Tuy nhiên, việc giải quyết tranh chấp bằng
con đường Tòa án vẫn còn nhiều vấn đề cần quan tâm đó là: vướng mắc từ phía pháp luật
chưa phù hợp, dẫn đến việc áp dụng không đạt được tính thuyết phục; hướng dẫn của
ngành không thống nhất, quan điểm giải quyết không thống nhất giữa các cấp, điều đó
làm cho hoạt động xét xử của Tòa án gặp nhiều khó khăn vướng mắc. Mặc dù năm 2011
Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) đã được sửa đổi, bổ sung và hiện nay được thay thế
bằng Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 nhưng các quy định của pháp luật về thẩm quyền
giải quyết TCKD,TM của Tòa án vẫn chưa được khắc phục. Hơn nữa, trong nhà nước
pháp quyền cũng đòi hỏi hoạt động xét xử của Tòa án phải đảm bảo công minh, nhanh
chóng, chính xác và kịp thời tránh tình trạng tồn đọng án, giải quyết kéo dài, dễ gây
phiền hà, mệt mỏi cho các bên đương sự.
Trong giai đoạn hiện nay, cùng với việc tiếp tục đẩy nhanh quá trình cải cách kinh
tế và cải cách nền hành chính quốc gia, công cuộc cải cách tư pháp cũng đang được Đảng
và nhà nước triển khai, coi đây như là khâu đột phá quan trọng thúc đẩy quá trình xây
dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Điều này được thể hiện rõ
ràng trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 về “Chiến lược cải cách tư pháp
đến năm 2020”. Công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta đã và đang đặt ra một loạt vấn đề
lý luận và thực tiễn cần được giải quyết một cách hợp lý và thỏa đáng, trong đó có vấn đề
xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế nói chung cũng như tạo lập khuôn khổ pháp lý
điều chỉnh pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho các chủ thể kinh
doanh, kể cả việc giải quyết vấn đề đặt ra về vấn đề tố tụng kinh tế, dân sự nói riêng sao
cho thích hợp hiện cũng cần được quan tâm thích đáng nhằm tìm ra phương hướng giải
quyết đúng đắn, nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra
trong giai đoạn hiện nay. Nói một cách khác, vấn đề đặt ra là làm cách nào để nâng cao
hiệu lực hiệu quả của hoạt động xét xử của Tòa án đối với việc giải quyết các TCKD,TM.
1


Thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại

Các phương pháp được sử dụng chủ yếu để nghiên cứu đề tài bao gồm các phương
pháp nghiên cứu khoa học nói chung và phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý nói
riêng như phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh, hệ thống hóa pháp luật...
5. Bố cục đề tài
2


Thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
Luận văn được kết cấu thành 3 phần: Mở đầu, phần nội dung và kết luận. Phần nội
dung của luận văn được chia làm 3 chương, bao gồm:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết
tranh chấp kinh doanh, thương mại.
Chương 2. Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thẩm quyền của Tòa án
trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại.
Chương 3. Thực tiễn thực hiện các quy định về thẩm quyền của Tòa án trong việc
giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại và kiến nghị.

CHƯƠNG 1
3


Thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát chung về tranh chấp kinh doanh, thương mại
1.1.1. Khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại
Hiểu theo nghĩa khái quát nhất: Tranh chấp là những bất đồng về quyền và nghĩa
vụ của các bên chủ thể trong một quan hệ pháp luật đã phát sinh.1
Tranh chấp kinh doanh hay còn gọi là tranh chấp thương mại là những thuật ngữ
hay được sử dụng ở các nước trên thế giới. Ở Việt Nam, TCKD,TM là một thuật ngữ

2

4


Thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
thương mại. Tuy nhiên, ở Luật Thương mại 2005 quy định khái niệm “thương mại” như
sau: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán
hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục
đích sinh lợi khác”,4 và Luật Doanh nghiệp năm 2014 cũng đưa ra khái niệm “kinh
doanh”: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn
của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị
trường nhằm mục đích sinh lợi”.5 Từ đó có thể hiểu hoạt động kinh doanh, thương mại là
hoạt động nhằm mục đích sinh lợi của các chủ thể kinh doanh.
Khái niệm “kinh doanh” theo Luật Doanh nghiệp 2014 và khái niệm “thương mại’
theo Luật thương mại 2005 về cơ bản là tương thích với nhau.
Như vậy, tranh chấp kinh doanh, thương mại là những xung đột chủ yếu về quyền
và nghĩa vụ liên quan đến lợi ích kinh tế phát sinh giữa các chủ thể tham gia vào hoạt
động kinh doanh, thương mại.
Từ đó có thể khái quát tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại như sau:
“Tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại là những mâu thuẫn phát sinh
giữa các chủ thể kinh doanh do không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ
trong hợp đồng ".
Mỗi cách định nghĩa đều có tính hợp lý của mình, vấn đề là sử dụng thuật ngữ
thống nhất trong tất cả các văn bản pháp luật. Và thuật ngữ đó không thể bó hẹp nội dung
cụ thể của tranh chấp mà mang tính bao quát, tiên liệu các TCKD,TM trong sự biến động
của đời sống kinh tế hiện nay, nhưng lại xác định chính xác loại tranh chấp. Đặc biệt, xây
dựng hệ thống pháp luật giải quyết tranh chấp này thật hiệu quả là vấn đề thực tế đặt ra.
1.1.2. Đặc điểm của tranh chấp kinh doanh, thương mại.6
Tranh chấp kinh doanh, thương mại có những đặc điểm cơ bản sau:

tự mình nhìn nhận, đánh giá sự việc và đưa ra phán quyết để giải quyết một vấn đề nào
đó phù hợp với quy định của pháp luật.
Về mặt pháp lý, theo Từ điển Luật học thì: “Thẩm quyền là tổng hợp các quyền và
nghĩa vụ hành động, quyết định của các cơ quan, tổ chức thuộc bộ máy Nhà nước do luật
pháp quy định”. Từ đó cho thấy, khái niệm thẩm quyền bao hàm hai nội dung chính là
quyền hành động và quyền quyết định. Quyền hành động là quyền được làm những công
việc nhất định, còn quyền quyết định là quyền hạn giải quyết công việc đó trong phạm vi
pháp luật cho phép.
Thẩm quyền của Tòa án được quy định trong Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức
Tòa án Nhân dân năm 2014, Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Luật Tố tụng hành chính
năm 2010 và các văn bản pháp luật khác. Theo quy định của những văn bản pháp luật
nêu trên thì Tòa án là cơ quan xét xử duy nhất của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam, chức năng xét xử của Tòa án là chức năng cơ bản và quan trọng nhất, nó bao trùm
và xuyên suốt quá trình hoạt động của Tòa án. Hiến pháp năm 2013 quy định: “Tòa án
nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện
quyền tư pháp”;8 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định: “Tòa án nhân danh
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và
gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và giải quyết các việc khác theo
quy định của pháp luật”.9 Từ chức năng và nhiệm vụ của Tòa án, ta thấy thẩm quyền của
Tòa án được xác định trong phạm vi xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia
đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và giải quyết những việc khác theo
quy định của pháp luật. Xét xử là thẩm quyền của Tòa án trong việc xem xét những hành
vi vi phạm pháp luật, tùy theo mức độ của sự vi phạm, căn cứ vào quy định của pháp luật
để đưa ra những quyết định nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của nhà nước, tổ chức, cá nhân
và các lợi ích công cộng khác. Các quyết định này có thể là một hình phạt trong một vụ
7

Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2006, tr. 992.
Hiến pháp năm 2013, điều 102, khoản 1.
9

quyền dân sự của Tòa án. Việc xác định thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các
TCKD,TM sẽ giúp cho các Tòa án chủ động trong xét xử, tránh hiện tượng đùn đẩy trách
nhiệm. Mặt khác, nó đảm bảo việc xét xử được chính xác, khách quan, bảo đảm quyền và
lợi ích hợp pháp của các đương sự. Do đó, việc nghiên cứu và đưa ra một khái niệm khoa
học, đúng đắn về thẩm quyền giải quyết TCKD,TM của Tòa án có ý nghĩa quan trọng
trong việc xác định quyền hạn cụ thể của Tòa án khi thụ lý, xét xử các tranh chấp về
KD,TM.
Như vậy, thẩm quyền giải quyết các TCKD,TM của Tòa án là một bộ phận cấu
thành nên thẩm quyền dân sự của Tòa án. Do đó, nếu đặt khái niệm thẩm quyền giải
quyết các TCKD,TM của Tòa án trong mối tương quan với khái niệm thẩm quyền dân sự
của Tòa án thì khái niệm “thẩm quyền dân sự của Tòa án " là khái niệm gốc, còn khái
niệm “thẩm quyền giải quyết các TCKD,TM của Tòa án " là khái niệm phái sinh từ khái
niệm đó. Thẩm quyền giải quyết các TCKD,TM của Tòa án là một loại thẩm quyền dân
7


Thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
sự chuyên biệt thuộc thẩm quyền dân sự chung của Tòa án. Thẩm quyền giải quyết các
TCKD,TM của Tòa án cũng mang hai nội dung chính là quyền hành động và quyền
quyết định của Tòa án trong giải quyết các TCKD,TM.
Từ đó, có thể rút ra kết luận như sau:
Thẩm quyền giải quyết các TCKD,TM của Tòa án là quyền của Tòa án trong việc
xem xét giải quyết các TCKD,TM và quyền hạn ra các quyết định khi xem xét giải quyết
các TCKD,TM đó theo thủ tục tố tụng dân sự.
1.3.2. Phân loại về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp
kinh doanh thương mại
1.3.2.1. Thẩm quyền theo vụ việc
Thẩm quyền theo vụ việc hay thẩm quyền chung của Tòa án là việc xác định thẩm
quyền giải quyết vụ TCKD,TM đó có thuộc thẩm quyền của Tòa án hay không hay là
một cơ quan, tổ chức khác. BLTTDS năm 2015 quy định những tranh chấp về KD,TM

Tuy nhiên, những tranh chấp nói trên mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài
hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa
án nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện.11
- Tòa án nhân dân cấp tỉnh :
Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm tất cả
những vụ án KD,TM mại quy định tại Điều 30 của BLTTDS năm 2015, trừ những vụ án
thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện. Trong trường hợp cần thiết Tòa án cấp tỉnh có
thế lấy lên để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm vụ án kinh doanh, thương mại thuộc thẩm
quyền của Tòa án cấp huyện.
1.3.2.3. Thẩm quyền theo lãnh thổ
Nếu thẩm quyền chung phân định thẩm quyền của Tòa án nhân dân với thẩm quyền
của các cơ quan khác, thẩm quyền của Tòa án các cấp phân định thẩm quyền giữa các
cấp Tòa án với nhau thì thẩm quyền theo lãnh thổ phân định thẩm quyền giữa các Tòa án
với nhau. Vậy “thẩm quyền theo lãnh thổ là việc xác định cụ thể Tòa án nào có thẩm
quyền giải quyết TCKD,TM theo trình tự sơ thẩm”.12
Thẩm quyền giải quyết vụ án KD,TM của Tòa án theo lãnh thổ được xác định là
Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị
đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp
về KD,TM. Tuy nhiên, luật cũng cho phép các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau
bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi nguyên đơn cư trú, làm việc hoặc có trụ sở giải quyết.
Trong trường hợp tranh chấp liên quan đến bất động sản, thì Tòa án nơi có bất động sản
có thẩm quyền những tranh chấp về bất động sản.13
1.3.2.4. Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn
Trong một số trường hợp việc xác định thẩm quyền theo lãnh thổ gặp khó khăn. Ví
dụ như trong vụ án có nhiều bị đơn mà bị đơn cư trú, làm việc hoặc có trụ sở ở nhiều nơi
khác nhau, hoặc trong một vụ tranh chấp bất động sản, các bất động sản ở nhiều nơi khác
nhau hoặc nếu để Tòa án có thẩm quyền theo lãnh thổ giải quyết sẽ không thuận lợi cho
nguyên đơn. Vì thế, Điều 40 BLTTDS năm 2015 đã quy định trong một số trường hợp
nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp.
Như vậy, “Thẩm quyền giải quyết TCKD,TM theo sự lựa chọn của nguyên đơn là

riêng để giải quyết các tranh chấp ấy. Ở các nước này, Tòa thương mại chỉ được thành
lập ở cấp sơ thẩm, còn cấp phúc thẩm và phá án (giám đốc thẩm) không có Tòa thương
mại mà do Tòa án thường giải quyết. Riêng Liên bang Nga có hẳn một hệ thống Tòa án
riêng gọi là Tòa án Trọng tài ở cả ba cấp để xét xử các TCKD,TM.
Các quốc gia theo truyền thống luật án lệ (common law) thì trái lại, thường không
thành lập Tòa thương mại mà giao nhiệm vụ giải quyết các TCKD,TM cho Tòa án
thường với quan niệm cho rằng: về bản chất tranh chấp kinh tế cũng là một dạng của
tranh chấp dân sự nên không cần thiết phải có một cơ quan tài phán riêng cho loại tranh
chấp này. Tuy nhiên để chuyên môn hóa hoạt động này, phần lớn các quốc gia này
thường thành lập các phân Tòa thương mại trong Tòa án thường để giải quyết các
TCKD,TM.
Thứ hai, hầu hết hệ thống Tòa án ở các quốc gia đều được tổ chức theo cấp xét xử
với nguyên tắc xét xử hai cấp và Tòa phá án.
Ở mỗi cấp Tòa án thường chỉ giải quyết tranh chấp theo một thủ tục nhất định. Tòa
khu vực (có thể là Tòa thương mại hoặc Tòa dân sự) xét xử sơ thẩm, Tòa phúc thẩm xét xử
phúc thẩm và Tòa tối cao làm nhiệm vụ phá án. Ví dụ như ở Pháp, Tòa án thương mại chỉ
làm nhiệm vụ xét xử sơ thẩm. Đối với tranh chấp thương mại có giá trị không quá 13.000
Fr thì các Tòa án thương mại xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm. Đối với tranh chấp có
giá trị lớn hơn thì việc xét xử phúc thẩm sẽ được tiến hành theo các trình tự tố tụng dân sự
thông thường trước Tòa án phúc thẩm (Tòa dân sự của Tòa án cấp trên). Bản án phúc thẩm
10


Thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
nếu có kháng nghị sẽ được xem xét lại ở Tòa phá án (Tòa tối cao). 14 Riêng Tòa án Trọng
tài ở Nga có hơi khác một chút, bao gồm 82 Tòa sơ thẩm ở các chủ thể liên bang (các nước
cộng hòa, các tỉnh tự trị...), 10 Tòa án khu vực và Tòa án Trọng tài tối cao.
Thứ ba, việc tổ chức hệ thống Tòa án để giải quyết các TCKD,TM thường không
theo địa giới hành chính mà được xác định theo nhu cầu của hoạt động xét xử (số lượng
các vụ tranh chấp trong năm).

ứng dịch vụ, phân phối, đại diện, đại lý, ký gửi, thuê, cho thuê, thuê mua, xây dựng, tư
vấn, kỷ thuật, vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thủy
nội địa, vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, mua
bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác, đầu tư, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm,
thăm dò, khai thác”15 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Như vậy, với quy định này ta thấy những tranh chấp phát sinh giữa cá nhân, tổ chức
từ hoạt động kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nếu thỏa
mãn ba điều kiện sau:
Một là, chủ thể của TCKD,TM là cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh.
Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP “Cá nhân, tổ chức có đăng
ký kinh doanh là cá nhân, tổ chức đã được các cơ quan có thẩm quyền đăng ký kinh
doanh cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, cụ thể như
sau:
a) Cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác (theo Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Thương
mại và các văn bản quy phạm pháp luật khác của về đăng ký kinh doanh);
b) Doanh nghiệp (theo Luật Doanh nghiệp và các văn bản quy phạm pháp luật
hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp);
c) Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã (theo Luật Hợp tác xã và các văn bản quy phạm
pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Hợp tác xã);
d) Cá nhân, tổ chức khác theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh”.16
Hai là, các tranh chấp này phát sinh từ hoạt động KD,TM và các hoạt động đó đều
có mục đích lợi nhuận.
Để xác định thế nào là hoạt động KD,TM, Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP đã
15

Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2004, điều 29, khoản 1.
Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn
thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi,
bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, điều 6, khoản 1.
16

2015 đã bỏ đi phương pháp liệt kê các tranh chấp KD,TM tại khoản 1 Điều 29 BLTTDS
năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011. Việc bỏ quy định mang tính liệt kê cụ thể các tranh
chấp KD,TM thì thẩm quyền của Tòa án được mở rộng hơn nhiều so với các giai đoạn
trước đó và mới có thể điều chỉnh được tất cả các tranh chấp KD,TM phát sinh trong thực
tiễn. Từ đó, khắc phục được tình trạng các tranh chấp KD,TM phát sinh nhưng tòa án
không có cơ sở thụ lý và giải quyết khi đương sự có yêu cầu.
2.1.2. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân,
tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận
Quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ được xác định là một dạng của tài sản,
nhưng nó là một dạng tài sản đặc biệt bởi nó mang tính phi vật chất và cũng không dễ
dàng trong việc xác định giá trị của loại tài sản này, thông thường thì nó có giá trị rất cao.
Cùng với tầm quan trọng ngày càng tăng của sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ,
các tranh chấp về lĩnh vực cũng xảy ra ngày càng nhiều hơn.
So với Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế 1994, quy định thêm các
tranh chấp về sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và
đều có mục đích lợi nhuận thuộc tranh chấp về kinh doanh thương mại. Khác với các
tranh chấp quy định tại khoản 1 Điều 29 BLTTDS năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011,
loại tranh chấp này chỉ lấy tiêu chí mục đích của các bên tranh chấp để phân biệt
TCKD,TM hay tranh chấp dân sự.
Tương tự khoản 2, Điều 29, BLTTDS năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 thì
khoản 2, Điều 30, BLTTDS năm 2015 quy định những tranh chấp về quyền sở hữu trí
tuệ, chuyển giao công nghệ giữa các cá nhân, tổ chức với nhau thì không nhất thiết cá
nhân, tổ chức đó phải đăng kí kinh doanh mà chỉ đòi hỏi các bên phải có mục đích lợi
nhuận. Nếu chỉ có một bên có mục đích lợi nhuận, còn bên kia không có mục đích lợi
nhuận, thì tranh chấp đó là tranh chấp về dân sự.
2.1.2.1. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ
Theo Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009 “Quyền sở hữu trí tuệ là
quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên
quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng”.22
Đối với các tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ thì hiện nay Thông tư liên tịch số

thác bình thường tác phẩm, gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu tác
phẩm; Tranh chấp giữa chủ sở hữu quyền tác giả với người sử dụng tác phẩm đã công bố
không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao vì lý do người sử dụng không
trả tiền nhuận bút, thù lao hoặc làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm,
gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; Tranh chấp về hợp
đồng chuyển nhượng, chuyển quyền sử dụng quyền tác giả hoặc tranh chấp về hợp đồng
dịch vụ bản quyền tác giả; Tranh chấp phát sinh do hành vi xâm phạm quyền tác giả;
Tranh chấp về thừa kế, kế thừa quyền tài sản quy định tại Điều 20 và quyền nhân thân
theo quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật Sở hữu trí tuệ. Tranh chấp khác về quyền tác
giả theo quy định của pháp luật.
- Các tranh chấp về quyền liên quan: Tranh chấp giữa chủ đầu tư với người biểu
diễn về quyền nhân thân và quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn; tranh chấp giữa người
biểu diễn với người khai thác sử dụng các quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn về tiền thù
lao; Tranh chấp giữa nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình với người thực hiện các quyền
của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình về quyền lợi vật chất khi bản ghi âm, ghi hình của
nhà sản xuất được phân phối đến công chúng; Tranh chấp giữa tổ chức phát sóng với
người sử dụng các quyền của tổ chức phát sóng về quyền lợi vật chất khi chương trình
15


Thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
phát sóng của tổ chức đó được ghi âm, ghi hình, phân phối đến công chúng; Tranh chấp
giữa người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng với người sử
dụng quyền liên quan không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao vì lý do
việc sử dụng làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường cuộc biểu diễn, bản ghi âm,
ghi hình, chương trình phát sóng và gây phương hại đến quyền của người biểu diễn, nhà
sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng; Tranh chấp giữa tác giả, chủ sở hữu
quyền tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng với
người sử dụng quyền liên quan không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù
lao, vì lý do người sử dụng không phải trả tiền nhuận bút, thù lao hoặc làm ảnh hưởng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status