GVHD: TS. NGUYỄN VIỆT KHOA Nhóm 7A-Tài Phán
MỤC LỤC
I. TỔNG QUAN VỀ TÀI PHÁN 2
1.1. ĐỊNH NGHĨA VỀ TÀI PHÁN 2
1.2. PHÂN LOẠI 4
1.3.1.1. Lịch sử hình thành chế định trọng tài trên thế giới 5
1.5. Cơ sở lý luận của việc thiết lập mối quan hệ giữa tòa án và trọng tài trong quá trình tố tụng trọng
tài 38
II. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA TRỌNG TÀI VÀ TÒA ÁN TRONG VIỆC GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ 41
2.1. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA HOẠT ĐỘNG TRỌNG TÀI VIỆT NAM 41
2.2. CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN VÀ TRỌNG TÀI TẠI VIỆT NAM 43
2.2.1. Về vấn đề thẩm quyền của Trọng tài thương mại tại Việt Nam 43
2.2.2. Xem xét thẩm quyền của tòa án đối với hoạt động trọng tài 44
2.2.2.1. Xem xét thẩm quyền của Hội đồng trọng tài 44
2.2.2.2. Đối với các vấn đề khác của tố tụng trọng tài 45
2.2.2.3. Đối với phán quyết trọng tài 46
2.2.2.4. Giá trị của phán quyết Trọng tài nước ngoài 47
2.2.3. Vai trò hỗ trợ của tòa án đối với trọng tài thương mại 48
2.3. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ QUA TRỌNG TÀI VÀ TÒA ÁN 50
2.3.1. Thực trạng giải quyết tranh chấp qua tòa án kinh tế và trọng tại thương mại thời gian qua 50
2.3.2. Một số vấn đề thường gặp của trọng tài thương mại qua trong thời gian qua 53
2.4. NHỮNG NGUYÊN NHÂN CHỦ YẾU CỦA THỰC TRẠNG TRÊN 57
III. KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 64
1
GVHD: TS. NGUYỄN VIỆT KHOA Nhóm 7A-Tài Phán
TÀI PHÁN
I. TỔNG QUAN VỀ TÀI PHÁN
1.1. ĐỊNH NGHĨA VỀ TÀI PHÁN
Pháp luật với tư cách là công cụ để nhà nước điều chỉnh các quan hệ xã hội, có chức năng
đảm bảo sự ổn định và phát triển của xã hội, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội,
phán là quyền năng theo pháp luật, phù hợp với pháp luật và được pháp luật bảo hộ.
Quyền tài phán theo pháp luật là dạng quyền tài phán do pháp luật đặt ra. Cũng có thể
đó là quyền tài phán không phải được pháp luật trực tiếp lập ra nhưng được quy phạm pháp luật
cho phép các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền lập ra.
Hành vi tài phán là hành vi của cá nhân hoặc tổ chức, hoặc cơ quan có quyền tài phán.
Hành vi tài phán được đặt trong phạm vi, bối cảnh nhất định, tức là có giới hạn.
Thể chế tài phán là các quy tắc pháp lý, bao gồm các quy tắc nền tảng và các quy tắc nội
dung về tài phán, ở cả diện rộng hoặc hẹp (bao trùm hoặc trong phạm vi một lĩnh vực).
3
GVHD: TS. NGUYỄN VIỆT KHOA Nhóm 7A-Tài Phán
Thiết chế tài phán là cơ cấu vật chất của tài phán. Nó chỉ rõ ai là "chủ thể" của tài phán,
mang quyền tài phán.
1.2. PHÂN LOẠI
Theo tính chất, tài phán có hai dạng chính: tài phán tư pháp và tài phán hành chính
* Tài phán tư pháp: hoạt động xét xử đối với các vụ án hình sự, dân sự, lao động,
thương mại của tòa án để đưa ra những phán quyết cuối cùng (phân xử ai đúng ai sai).
* Tài phán hành chính: là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền phán xét
những khiếu kiện của cá nhân, tổ chức đối với cơ quan hành chính (hoặc những cơ quan nhà
nước khác) đưa ra những quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính mà cá nhân tổ chức cho
là trái pháp luật hoặc là xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
1.3. TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH
Ở đâu có hoạt động kinh doanh thương mại thì ở đó có khả năng phát sinh tranh chấp.
Tranh chấp là hệ quả tất yếu xảy ra trong hoạt động kinh doanh, vì vậy giải quyết các tranh
chấp phát sinh được coi là tự thân của các quan hệ kinh tế. Ở góc độ khái quát chung, giải
quyết tranh chấp trong kinh doanh chính là việc lựa chọn các hình thức, biện pháp thích hợp để
giải toả các mâu thuẫn, bất đồng, xung đột lợi ích giữa các bên, tạo lập lại sự cân bằng về mặt
lợi ích mà các bên có thể chấp nhận được.
Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường phải đáp ứng
các yêu cầu sau :
- Nhanh chóng, thuận lợi, không làm hạn chế, cản trở các hoạt động kinh doanh.
thấy phán quyết đó bất lợi cho mình. Hạn chế này đã được khắc phục trong Luật năm 1697.
Trong Hiệp ước Jay năm 1794, Anh và Mỹ đã thống nhất đưa các vấn đề còn đang tranh chấp
liên quan đến các khoản nợ và biên giới ra giải quyết ở trọng tài. Việc giải quyết tranh chấp này
5
GVHD: TS. NGUYỄN VIỆT KHOA Nhóm 7A-Tài Phán
kéo dài 7 năm, và được coi là kết thúc thành công. Từ đầu thế kỷ XX, các nước (trong đó có
Pháp và Mỹ) bắt đầu thông qua các đạo luật quy định và khuyến khích việc phân xử ở cấp trọng
tài thay cho kiện tụng ở tòa án vốn được cho là kém hiệu quả hơn.
Trước sự phát triển mạnh mẽ của thương mại thế giới, phương thức giải quyết tranh chấp
bằng trọng tài cũng phát triển, dẫn tới việc hình thành những tổ chức trọng tài quốc tế để giải
quyết các tranh chấp phát sinh trong các hợp đồng thương mại quốc tế. Tầm quan trọng của việc
giải quyết tranh chấp bằng trọng tài ngày càng được thừa nhận rộng rãi, đặc biệt là trong các thập
kỷ gần đây. Các quốc gia sửa đổi luật pháp về trọng tài cho phù hợp với tình hình thực tế; các
điều ước quốc tế về trọng tài đang có thêm những thành viên mới; trọng tài trở thành một môn
học trong chương trình đào tạo ngành luật; các doanh nghiệp ngày càng tin tưởng vào một
phương thức giải quyết tranh chấp linh hoạt, công bằng, với phán quyết được công nhận rộng rãi
trên phạm vi thế giới. hậm chí, trọng tài hiện nay còn giải quyết tranh chấp “trực tuyến” (thường
được biết đến với thuật ngữ ODR – "online dispute resolution" nghĩa là giải quyết tranh chấp
trực tuyến). Trọng tài trực tuyến tiến hành khi có khiếu nại trực tuyến, thủ tục tố tụng diễn ra trên
internet, trọng tài phân xử và ra phán quyết dựa vào hồ sơ do các bên xuất trình.
Ở tất cả các nước trên thế giới, các tranh chấp dân sự dù có hay không có yếu tố nước
ngoài đều được giải quyết không chỉ bằng toà án mà bằng cả trọng tài. Trọng tài là một cơ chế
giải quyết tranh chấp độc lập và ngày càng được sử dụng rộng rãi trong thực tiễn xét xử quốc tế,
đặc biệt là trong lĩnh vực quan hệ kinh tế quốc tế. Cuối thế kỷ 19, người ta đã cố gắng hợp thức
hoá tính cách pháp lý cho hình thức trọng tài qua hai Hội nghị Quốc tế. Đó là hội nghị Hoà bình
tổ chức tại La – Hay Hà Lan vào năm 1899 và 1907. Hai hội nghị này đã đi đến việc soạn thảo
quy chế và thủ tục và nỗ lực hướng dẫn các quốc gia áp dụng triệt để các hiệp ước trọng tài.
Cũng như các thuật ngữ khoa học pháp lý khác, khái niệm “Trọng tài” được đề cập nhiều trong
luật quốc tế. Định nghĩa sớm nhất về trọng tài được nêu trong Công ước La-Hay năm 1988, theo
đó: “Trọng tài là nhằm để giải quyết những bất đồng giữa các bên thông qua một người thứ ba do
- Phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm và không thể kháng cáo trước bất
cứ cơ quan, tổ chức nào. Về nguyên tắc, trọng tài không xét xử công khai, do đó
ngoài nguyên đơn và bị đơn, trọng tài chỉ triệu tập các đương sự khác khi cần
thiết.
- Quy tắc tố tụng trọng tài của các quốc gia rất khác nhau, nhưng nhìn chung quy
tắc lựa chọn trọng tài viên và thủ tục của hầu hết các trung tâm trọng tài trên thế
giới đều theo khuôn mẫu của Quy tắc trọng tài mẫu UNCITRAL.
Nguyên tắc của việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
Quy tắc tố tụng là khung pháp lý mà Uỷ ban trọng tài và các bên đương sự phải tuân
theo. Do trọng tài là tổ chức xã hội nghề nghiệp được hình thành trên cơ sở tự nguyện của các
trọng tài viên, theo quy định của Pháp luật; hoặc trên cơ sở lựa chọn của các đương sự (trọng tài
AD - HOC), nên không tồn tại một tố tụng thống nhất. Tuy vậy, thủ tục giải quyết tranh chấp
bằng trọng tài của tất cả các tổ chức, hình thức trọng tài phải đảm bảo các nguyên tắc sau mà nếu
vi phạm các nguyên tắc này sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý rất phức tạp.
+Nguyên tắc tự nguyện: Là nguyên tắc cốt lõi trong vấn đề trọng tài vì trọng tài được
hình thành là do ý chí tự nguyện của các bên đương sự và trong quá trình giải quyết tranh chấp,
trọng tài đều nhân danh ý chí tối cao của các bên đương sự. Họ có thể thoả thuận chọn hình thức
trọng tài, tổ chức trọng tài, trọng tài viên, địa điểm mà họ thấy thuận tiện và thậm chí là cả quy
tắc tố tụng áp dụng trong vụ kiện. Trong quá trình tranh tụng, nếu các bên đạt được sự thống nhất
trên cơ sở thương lượng hoặc hoà giải thì trọng tài phải tôn trọng sự thoả thuận đó và chấm dứt
việc giải quyết vụ việc.
+Nguyên tắc bình đẳng giữa các bên tranh chấp: Trong mọi việc: từ lựa chọn hay bãi
miễn trọng tài viên, lựa chọn địa điểm tố tụng, trong việc đưa đơn yêu cầu hay đơn biện minh
trong việc nhận thông tin từ trọng tài và phía bên kia. Mọi tài liệu thông tin cho trọng tài đều
phải thông báo cho bên kia, mọi biện pháp, quyết định của trọng tài đều phải đảm bảo sự bình
đẳng giữa các bên tranh chấp.
8
GVHD: TS. NGUYỄN VIỆT KHOA Nhóm 7A-Tài Phán
+ Nguyên tắc độc lập của các trọng tài viên trong khi giải quyết tranh chấp trong quá
trình giải quyết tranh chấp, không ai có quyền can thiệp vào hoạt động của trọng tài viên. Các
• Tố tụng trọng tài không theo nguyên tắc xét xử tập thể mà bằng 1 trọng tài viên do đương
sự lựa chọn
• Việc giải quyết tranh chấp kinh tế theo tố tụng bao gồm các giai đoạn sau:
o Nguyên đơn gửi đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đến một trung tâm trọng tài
kinh tế kèm theo văn bản thoả thuận của các bên về việc đưa vụ tranh chấp ra giải
quyết ở trung tâm trọng tài kinh tế đó.
o Trong một thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, thư ký trung tâm
trọng tài kinh tế phải gửi bản sao đơn yêu cầu của nguyên đơn và danh sách trọng
tài viên cho bị đơn đồng thời ấn định thời hạn bị đơn phải gửi văn bản trả lời cho
trung tâm trọng tài kinh tế.
Trong trường hợp vụ tranh chấp do một hội đồng trọng tài giải quyết thì mỗi bên
chọn một trọng tài viên và 2 trọng tài viên sẽ chọn một trọng tài viên thứ 3 làm
chủ tịch Hội đồng trọng tài nếu các trọng tài viên do các bên chỉ định không chọn
được trọng tài viên thứ 3 thì chủ tịch trung tâm sẽ chỉ định
Trong trường hợp các bên thoả thuận vụ tranh chấp do một trọng tài viên giải
quyết thì hai bên thông báo thuận chọn một trọng tài viên nếu không thoả thuận
được sẽ do chủ tịch trung tâm chỉ định.
10
GVHD: TS. NGUYỄN VIỆT KHOA Nhóm 7A-Tài Phán
o Trọng tài viên tiến hành các công việc cần thiết cho việc giải quyết tranh chấp
như nghiên cứu hồ sơ, nghe các bên trình bày, trưng cầu giám định
o Tổ chức phiên họp giải quyết tranh chấp.
o Việc giải quyết vụ tranh chấp được kết thúc bằng quyết định
Hiệu lực của phán quyết
Quyết định giải quyết của hội đồng trọng tài hoặc của trọng tài viên có hiệu lực thi hành
không bị kháng cáo, kháng nghị nhưng trong trường hợp quyết định trọng tài không được một
bên chấp hành thì bên kia có quyền yêu cầu toà án nhân dân có thẩm quyền xét xử theo thủ tục
giải quyết các vụ án kinh tế.
Trọng tài kinh tế quốc tế
• Là một bộ phận đặt bên cạnh phòng công nghiệp thương mại Việt Nam (VCCI) được
tài quốc tế chỉ định một trọng tài viên đứng ra giải quyết vụ tranh chấp. Trong
trường hợp này trọng tài viên duy nhất được chọn thực hiện nhiệm vụ như 1 uỷ
ban trọng tài
o Lựa chọn ngôn ngữ, địa điểm
Nguyên tắc đảm bảo sự độc lập của trọng tài viên trong hoạt động xét xử
Việc thực hiện nguyên tắc này nhằm đảm bảo tính khách quan trong toàn bộ quá trình
giải quyết tranh chấp. Nội dung của nguyên tắc này thể hiện trên 2 khía cạnh:
o Không có bất cứ ai có quyền can thiệp vào hoạt động của trọng tài viên
o Các trọng tài viên hoàn toàn bình đẳng với nhau trong hoạt động xét xử.
Hiệu lực của phán quyết
12
GVHD: TS. NGUYỄN VIỆT KHOA Nhóm 7A-Tài Phán
Kết quả giải quyết tranh chấp có thể là một thoả thuận hoà giải hoặc 1 phán quyết trọng
tài. Phán quyết của trọng tài quốc tế là chung thẩm không thể kháng cáo trước bất cứ Toà án hay
tổ chức nào khác. Các bên phải tự nguyện thi hành trong thời hạn được quy định trong phán
quyết. Nếu phán quyết không được tự nguyện thi hành trong thời hạn được quy định thì sẽ áp
dụng các biện pháp cưỡng chế.
1.3.1.4. Các điểm cơ bản khi giải quyết tranh chấp kinh doanh bằng hình
thức trọng tài
Thoả thuận trọng tài.
Như trên đã đề cập, để giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng trọng tài thì điều
kiện cần là phải có tranh chấp phát sinh và điều kiện đủ là phải có một thoả thuận giữa các bên
thống nhất đưa ra tranh chấp ra giải quyết ở trọng tài.
Thoả thuận trọng tài là thoả thuận của các bên có liên quan đưa ra tranh chấp đã xảy ra
hoặc có thể xảy ra để giải quyết thông qua thủ tục trọng tài.
Thoả thuận trọng tài có giữa các bên đồng nghĩa với việc các bên đã gián tiếp thoả thuận
khước từ thẩm quyền xét xử của Toà án quốc gia. Nếu không có thoả thuận sẽ không có trọng
tài, hoặc nếu trọng tài không được tiến hành dựa trên cơ sở thoả thuận thì trọng tài này bị pháp
luật coi là vô hiệu khi đã thoả thuận, các bên phải thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ thoả thuận này.
Nếu một bên vi phạm thoả thuận trọng tài, bên kia có quyền yêu cầu Toà án can thiệp buộc bên
đưa tranh chấp ra trọng tài giải quyết. Tên cơ quan trọng tài có thẩm quyền giải quyết, luật áp
dụng cho hợp đồng, luật áp dụng cho thủ thục tố tụng, giá trị của phán quyết, chi phí trọng tài,
địa điểm trọng tài, ngôn ngữ xét xử, thời hiệu khởi kiện, nội dung tranh chấp được giải quyết
bằng trọng tài.
Chủ thể ký kết thoả thuận trọng tài cũng là một vấn đề quan trọng. Những người có
quyền ký kết hợp đồng thì cũng có nghĩa là họ có quyền ký thoả thuận trọng tài. Năng lực chủ
thể ký kết hợp đồng được pháp luật các quốc gia quy định khác nhau. Nếu là cá nhân thì phụ
thuộc vào quốc tịch hoặc nơi cá nhân này thường trú. Nếu là doanh nghiệp thì phụ thuộc vào nơi
14
GVHD: TS. NGUYỄN VIỆT KHOA Nhóm 7A-Tài Phán
tiến hành hợp đồng kinh doanh hoặc là nơi thành lập. Vì không đủ năng lực chủ thể ký kết thoả
thuận trọng tài, phán quyết trọng tài có thể bị từ chối công nhận và thi hành theo quy định tại
Mục a, Khoản 1 Điều V Công ước NewYork 1958.
Thoả thuận trọng tài hoàn chỉnh sẽ giúp các bên hạn chế tổn thất khi xảy ra tranh chấp.
Sự chặt chẽ, cụ thể của thoả thuận trọng tài sẽ phần nào hạn chế vi phạm thoả thuận trọng tài của
các bên.
Luật áp dụng trong hợp đồng - cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp.
Luật áp dụng để xét xử tranh chấp là luật mà trọng tài dùng để xem xét việc thực hiện
nghĩa vụ của các bên tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng. Luật này được gọi là luật áp
dụng cho hợp đồng.
Đối với các tranh chấp thương mại nội địa, đương nhiên, luật áp dụng trong hợp đồng là
luật quốc gia, chẳng hạn như ở Việt Nam thì căn cứ vào luật thương mại, pháp lênh hợp đồng
kinh tế, luật đất đai Vấn đề chọn luật áp dụng trong hợp đồng không đặt ra với các hợp đồng
nội.
Trong thương mại quốc tế, luật của rất nhiều nước liên quan đến quan hệ của các bên
trong hợp đồng và cùng có khả năng điều chỉnh hợp đồng ngang nhau. Giữa các nguồn luật đó
luôn tồn tài hiện tượng xung đột luật, vì thế khi đưa tranh chấp ra trọng tài, các bên đương sự
phải thoả thuận thống nhất về luật áp dụng trong hợp đồng. Các nguồn luật áp dụng trong thương
mại quốc tế bao gồm: Các điều ước quốc tế, các tập quán thương mại quốc tế và luật quốc gia.
+ Điều ước quốc tế: là những văn bản có chứa những quy phạm pháp luật được các quốc
tắc thống nhất và thực hành tín dụng chứng từ - UCP cũng tỏ ra rất hữu dụng trong việc hướng
dẫn đến một chuẩn mực quốc tế duy nhất cho quyền và nghĩa vụ của các bên.
Ngoài ra, đối với các quốc gia theo hệ thống "common low" còn có các án lệ là các quy
tắc xét xử được hình thành từ thực tiễn xét xử. Khi lựa chọn luật của các quốc gia này, các chủ
thể cần để ý đến những án lệ này.
+ Luật quốc gia: trong thực tiễn và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tê, bên
cạnh các điều ước quốc tế, các tập quán thương mại quốc tế và án lệ, luật quốc gia cũng đóng
16
GVHD: TS. NGUYỄN VIỆT KHOA Nhóm 7A-Tài Phán
một vai trò khá quan trọng và trong nhiều trường hợp là nguồn luật điều chỉnh các quan hệ hợp
đồng. Tuy nhiên luật quốc gia chỉ trở thành luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
trong các trường hợp sau:
- Khi các bên ký kết hợp đồng thoả thuận trong điều khoản luật áp dụng của hợp đồng
việc chọn luật của một bên để điều chỉnh hợp đồng.
- Khi điều khoản về luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế không được
quy định trong các điều ước quốc tế liên quan, luật quốc gia đương nhiên trở thành luật áp dụng
cho hợp đồng đó.
Nói đến luật quốc gia như một nguồn luật của thương mại quốc tế không có nghĩa là tất
cả các luật đều được áp dụng mà chỉ có một số luật, văn bản pháp luật có liên quan đến thương
mại quốc tế được áp dụng, bởi vì luật quốc gia không chỉ điều chỉnh các quan hệ thương mại
quốc tế mà nó còn điều chỉnh rất nhiều mối quan hệ khác.
Luật quốc gia áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá thông thường là luật của nước
nào có quan hệ gần nhất với hợp đồng, tuy theo cách xác định, nhưng phải là luật đặc trưng,
thường là luật của nước bên bán, luật của nước nơi hợp đồng được ký kết, nhưng cũng có thể là
luật của bên mua, có thể là luật của nước thứ ba, luật quốc tịch, luật nơi nghĩa vụ của hợp đồng
được thực hiện
Trong quá trình đàm phán hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế điều khoản luật áp dụng
thường được ghi một cách rõ ràng trong hợp đồng để tránh tình trạng khó xác đinh luật quốc gia
điều chỉnh các quan hệ hợp đồng. Việc thoả thuận luật quốc gia áp dụng cho hợp đồng mua bán
hàng hoá quốc tế là một vấn đề phức tạp, cho nên các chủ thể ký kết không những phải thông
"Trọng tài có thể tiến hành thủ tục tố tụng trọng tài theo cách thức mà trọng tài cho là thích hợp
nhưng phải đảm bảo sự bình đẳng giữa các bên và đảm bảo cho mỗi bên có đủ cơ hội trình bày
vụ việc của mình ở bất cứ giai đoạn nào của quá trình tố tụng". Tương tự như vậy, Điều 8 quy
định về hoà giải và trọng tài của Phòng thương mại quốc tế (ICC) đã được sửa đổi, bổ sung và có
hiệu lực từ ngày 01/01/1988 ghi nhận: "Khi các bên thoả thuận nhờ đến trọng tài của phòng
thương mại quốc tế thì họ qua đó phục tùng quy định này." hoặc Điều 22 quy định này ghi nhận:
18
GVHD: TS. NGUYỄN VIỆT KHOA Nhóm 7A-Tài Phán
"Các nguyên tắc áp dụng trong tố tụng trước trong tài viên là các nguyên tắc xuất phát từ quy
định này và trong trường hợp quy định này không đề cấp thì áp dụng các nguyên tắc mà các bên
đã xác định và trong trường hợp các bên không xác định thì trọng tài viên xác định bằng cách
dựa bào hoặc không dựa vào một luật quốc gia về tố tụng áp dụng cho trọng tài". Trong trường
hợp các bên thoả thuận thành lập trọng tài AD - HOC thì việc xác định luật áp dụng cho tố tụng
trọng tài sẽ do các bên tự quyết định. Các bên có thể thoả thuận xây dựng nên các nguyên tắc
một cách độc lập và cũng có thể chọn các quy định về tố tụng của một tổ chức trọngt ài quy định
về tố tụng của một tổ chức trọng tài thường trực nào đó để áp dụng cho trọng tài mà các bên đã
lập ra. Trong trường hợp các bên lựa chọn các quy định của tổ chức trọng tài thường trực nào đó
thì các quy định này có thể được các bên thoả thuận giữ nguyên hoặc sửa đổi, bổ sung trước khi
áp dụng cơ chế giám sát thực hiện hoạt động tố tụng của trọng tài AD - HOC không chặt chẽ
bằng trọng tài thường trực.
Thứ hai, áp dụng nguyên tắc nơi toạ lạc của trọng tài theo học thuyết nơi toạ lạc thì trọng
tài tiến hành xét xử ở đâu thì sẽ áp dụng luật tố tụng trọng tài ở nơi đó. Thuyết này được áp dụng
để xác định luật tố tụng cho trọng tài trong trường hợp nếu các bên không thoả thuận chọn luật tố
tụng việc áp dụng thuyết này để xác định luật áp dụng cho tố tụng trọng tài quốc tế thường xảy ra
trong trường hợp các bên thànhlập trọng tài AD - HOC. Thuyết "nơi toạ lạc của trọng tài" không
những được áp dụng trên thực tế mà nội dung của thuyết này còn được ghi nhận trong nhiều văn
bản pháp lý quốc tế quan trọng như: Công ước NewYork năm 1958 về việc công nhận và thi
hành các phán quyết trọng tài nước ngoài tại Điều 3 và Điều 6 (1.d) và tại Điều 16 của Bản quy
tắc trọng tài UNCITRAL.
Cách thức chọn trọng tài viên là khác nhau tại các tổ chức trọng tài khác nhau trên thế
Điều 3 trong quy tắc của Toà án quốc tế Luân Đôn; Điều 6,7 quy tắc trọng tài Uncitral
Ngôn ngữ tố tụng được dùng để giải quyết tranh chấp
Ngôn ngữ được dùng trong tố tụng Tòa án Việt nam
Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng dân sự là tiếng Việt. Người tham gia tố tụng dân
sự có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình, trong trường hợp này cần phải có người
20
GVHD: TS. NGUYỄN VIỆT KHOA Nhóm 7A-Tài Phán
phiên dịch.
Ngôn ngữ được được dùng trong tố tụng Trọng tài Việt Nam
- Đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài, ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng Trọng
tài là tiếng Việt, trừ trường hợp tranh chấp mà ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài. Trường hợp bên tranh chấp không sử dụng được tiếng Việt thì được chọn người
phiên dịch ra tiếng Việt.
- Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, tranh chấp mà ít nhất một bên là doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng Trọng tài do các bên thỏa
thuận. Trường hợp các bên không có thỏa thuận thì ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng Trọng tài do
Hội đồng Trọng tài quyết định.
1.3.2. Tòa án:
1.3.2.1. Khái niệm của Tố tụng tòa án.
Giải quyết tranh chấp kinh doanh bằng tòa án là hình thức giải quyết tranh chấp thông
qua hoạt động của cơ quan tài phán Nhà nước, nhân danh quyền lực Nhà nước để đưa ra phán
quyết buộc các bên có nghĩa vụ thi hành, kể cả bằng sức mạnh cưỡng chế. Trong quá trình giải
quyết các tranh chấp kinh doanh, tòa án phải tuân theo một trình tự, thủ tục nhất định mà pháp
luật đã quy định, cụ thể đó là những nguyên tắc cơ bản; trình tự, thủ tục khởi kiện; trình tự, thủ
tục giải quyết vụ việc tại tòa án, thi hành bản án, quyết định của tòa án; quyền và nghĩa vụ của
những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng cũng như của những cơ quan, tổ chức, cá
nhân có liên quan,… Đây chính là thủ tục tố tụng tòa án. Ở hầu hết các quốc gia, cùng với việc
ban hành những đạo luật về nội dung, Nhà nước cũng ban hành những quy định về thủ tục tố
tụng để tòa án giải quyết các tranh chấp kinh doanh.
Như vậy, tố tụng tòa án chính là trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định để giải quyết các
án kinh tế. Trong Toà phúc thẩm của toà án NDTC có các thẩm phán kinh tế chuyên
trách để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm những vụ án kinh tế và giải quyết khiếu nại đối
23
GVHD: TS. NGUYỄN VIỆT KHOA Nhóm 7A-Tài Phán
với quyết định của toà án cấp dưới về tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo quy định của
pháp luật
• Ở địa phương: Chỉ có toà án nhân dân cấp tỉnh mới có toà kinh tế chuyên trách còn ở toà
án nhân dân cấp huyện không có toà kinh tế chuyên trách mà chỉ có thẩm phán kinh tế
chuyên trách giải quyết các vụ án kinh tế.
Thẩm quyền của toà án trong việc giải quyết các vụ án kinh tế
Thẩm quyền của toà án trong việc giải quyết các vụ án kinh tế có thể phân thành:
• Thẩm quyền theo cấp
• Thẩm quyền theo lãnh thổ
• Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn
Thẩm quyền của toà án theo cấp được quy định như sau
• Thẩm quyền của toà án nhân dân cấp huyện : Toà án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc Tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các vụ án về tranh
chấp hợp đồng kinh tế mà giá trị tranh chấp dưới 50 triệu đồng và không có nhân tố nước
ngoài.
• Thẩm quyền của toà án nhân dân cấp Tỉnh:
o Toà kinh tế thuộc toà án nhân dân cấp Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xét
xử theo thủ tục
Sơ Thẩm những vụ án kinh tế trừ những vụ án thuộc thẩm quyền của toà
án nhân dân cấp huyện ( trong trường hợp cần thiết thì toà kinh tế toà án
nhân dân cấp tỉnh có thể lấy lên để giải quyết vụ án kinh tế thuộc thẩm
quyền của toà án nhân dân cấp huyện).
24
GVHD: TS. NGUYỄN VIỆT KHOA Nhóm 7A-Tài Phán
Phúc thẩm những vụ án kinh tế mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có
hiệu lực pháp luật của toà án cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị theo quy