Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp - Pdf 10

Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp
- 1 -
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài: GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP Ở NƯỚC TA
HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP Giáo viên hướng dẫn: Tiến sỹ Bùi Ngọc Sơn
Sinh viên thực hiện: Bùi Trọng Tuấn
Lớp: A2
Khoá: CN9
Hà nội, tháng 5/2003

Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp
- 2 -

LỜI CẢM ƠNEm xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo - Tiến sỹ Bùi Ngọc Sơn –

t
ngày càng bộc lộ những hạn chế. Hệ thống văn bản hướng dẫn còn thiếu đồng bộ và chậm
được ban hành, chưa phù hợp, chưa thống nhất dẫn đến cách hiểu và vận dụng sai. Đây l
vấn đề nổi cộm trong thực tiễn áp dụng pháp luật.
Tuy nhiên, việc tìm hiểu nghiên cứu về giải quyết tranh chấp kinh tế trong điều ki

hiện nay vẫn còn mang tính chất thời sự có ý nghĩa về lý luận cũng như thực tiễn.
Đề tài " Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và gi

pháp" sẽ góp phần làm rõ thực trạng giải quyết tranh chấp kinh tế của Toà án kinh tế và cá
Trung tâm trọng tài phi Chính phủ, phân tích rõ những khó khăn, thuận lợi hiện nay của cá
cơ quan tài phán cũng như những hạn chế của các văn bản pháp luật kinh tế hiện hành, trê
cơ sở đố kiến nghị một số vấn đề cần sửa đổi bổ sung trong hệ thống pháp luật kinh tế ch
phù hợp với thực tiễn hoạt động của nền kinh tế thị trường.
Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về ki
n
tế xã hội và tư duy. Ngoài ra đề tài cũng vận dụng phương pháp phân tích tổng hợp để làm
rõ những vấn đề cần nghiên cứu .
Kết cấu của khoá luận gồm 3 Chương
- Chương 1: Tổng quan về pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay
- Chương 2: Thực trạng giải quyết tranh chấp kinh tế ở Việt Nam hiện nay
- Chương 3: Những giải pháp hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp ở nước ta
Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp
- 4 -

+ Thẩm quyền của toà án các cấp;
4. Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài kinh tế:
- Khái niệm và những ưu thế cơ bản của trọng tài kinh tế
- Trung tâm trọng tài (Pháp lệnh số 08/ UBTVQH 11)
+ Khái niệm, đặc điểm, thẩm quyền của Trung tâm trọng tài
+ Thành lập chấm dứt hoạt động của Trung tâm trọng tài
- Giải quyết tranh chấp kinh tế của Trung tâm trọ
ng tài kinh tế
Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam
Chương II: Thực trạng giải quyết tranh chấp kinh tế ở Việt nam hiện nay

I. Các loại tranh chấp kinh tế phổ biến ở nước ta hiện nay:

1. Tranh chấp phát sinh do một bên vi phạm nghĩa vụ giao hàng hoặc thực hiện
lao vụ
2. Tranh chấp phát sinh do một bên vi phạm nghĩa vụ thanh toán và tiếp nhận
hàng hoá công việc
3. Tranh chấp liên quan đến hợp đồ
ng kinh tế vô hiệu

II. Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng phương pháp tiền khởi kiện

III. Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng toà án

IV. Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng trọng tài

Chương III: Những giải pháp hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp
kinh tế ở nước ta
I. Lựa chọn phương pháp giải quyết tranh chấp kinh tế:
1. Ưu điểm và nhược đ

Cùng với sự phát triển của các quan hệ kinh tế và dưới sự tác động trực tiếp
của quy luật cạnh tranh, tranh chấp kinh tế cũng trở nên phong phú hơn về chủng
loại, gay gắt, phức tạp hơn về tính chất và quy mô. Chính vì vậy, việc áp dụng hình
thức và phương thức giải quyết tranh chấp sao cho phù hợp, có hiệu quả là một đòi
hỏi khách quan để bảo vệ quyề
n và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh,
bảo đảm nguyên tắc pháp chế Xã hội Chủ nghĩa, thông qua đó góp phần tạo môi
trường pháp lý lành mạnh để thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế.
Tranh chấp kinh tế là tranh chấp biểu hiện những mâu thuẫn hay xung đột về
quyền, nghĩa vụ giữa các nhà đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện
dịch vụ trên thị
trường nhằm mục đích sinh lời. Như vậy tranh chấp kinh tế có thể
phát sinh trong cả quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội. Tuy nhiên, dù tồn tại
Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp
- 7 -
dưới hình thức nào và có thể bắt nguồn từ nguyên nhân khách quan và chủ quan
khác nhau, nhưng đặc trưng chung của tranh chấp kinh tế là luôn gắn liền với hoạt
động kinh tế và chủ thể tham gia chủ yếu là các nhà doanh nghiệp. Về bản chất, mỗi
tranh chấp xét cho cùng đều phản ánh những xung đột về lợi ích kinh tế giữa các
bên
Tranh chấp kinh tế khác với tranh chấp dân sự ở một số điểm sau:
♦ Tranh ch
ấp kinh tế thường chỉ gắn liền với những yếu tố tài sản, những lợi
ích của các bên có tranh chấp và chỉ phát sinh từ các quan hệ vì mục đích kinh
doanh, các tranh chấp dân sự vừa mang tính chất tài sản, tính chất nhân thân phi tài
sản.
♦ Giá trị tranh chấp kinh tế thường rất lớn, các tranh chấp kinh tế thường làm ảnh
hưởng kinh tế không những cho bên cùng tranh chấp mà còn làm ảnh hưởng đến sản
xuất kinh doanh của c
ả cộng đồng kinh doanh nữa. Do đó, tranh chấp kinh tế thường

để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia tố tụng. Cũng có thể
hiểu tố tụng kinh tế là quá trình cơ quan toà án có thẩm quy
ền giải quyết các vụ án
kinh tế theo một trình tự nhất định.
Với nội dung khái niệm tranh chấp kinh tế như trên có thể thấy các tranh chấp
kinh tế hiện nay là rất đa dạng và phức tạp, các chủ thể của nền kinh tế được mở
rộng hơn trước và phạm vi hoạt động cũng đa dạng hơn trước. Vì vậy, pháp luật áp
dụng cho việc giải quy
ết các tranh chấp kinh tế phải linh hoạt và mềm dẻo hơn, các
cơ quan tài phán vừa phải nâng cao trình độ nghiệp vụ của mình, vừa phải thay đổi
phương pháp giải quyết tranh chấp kinh tế cho phù hợp với nền kinh tế mở như hiện
nay của nước ta.
II. SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA VIỆC BAN HÀNH PHÁP LUẬT VỀ
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ
1. Sau chiến thắng mùa xuân 1975, cả nước ta bước vào giai đoạn lịch sử mới xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cơ chế quản lý cũ tập trung, quan liêu bao cấp trong thời
kỳ chiến tranh đã không phát huy tác dụng tích cực mà còn làm trì trệ sự phát triển
kinh tế, gây nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội, trước tình hình trên Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã kịp thời chỉ ra mặt y
ếu kém, sai lầm chủ quan
duy ý chí trong cơ chế quản lý tập trung bao cấp, đề ra đường lối đổi mới toàn diện
đặc biệt đường lối phát triển kinh tế. Đường lối đổi mới đó được hoàn thiện và
chính thức đưa vào đời sống xã hội bằng pháp luật đó là Hiến pháp 1992, đã thừa
nhận nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường ở nước ta.
Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp
- 9 -
Việc đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống Tư pháp và các Cơ quan tài
phán nói chung và các cơ quan tài phán kinh tế nói riêng cũng nằm trong khuôn khổ
của công cuộc đổi mới này. Đáp ứng các đòi hỏi tất yếu khách quan đó Quốc hội
nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt nam khoá IX kỳ họp thứ 4 đã thông qua luật

Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp
- 10 -
Chính vì vậy khi tiến hành đầu tư vào Việt Nam ngoài các yếu tố đảm bảo về
mặt pháp lý cho hoạt động kinh doanh, hiệu quả kinh doanh thì các chủ đầu tư cũng
đặc biệt quan tâm đến việc giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh
doanh, giải quyết các tranh chấp phải nhanh chóng, có hiệu lực mới bảo đảm quyền
lợi chính đáng của họ.
III. CÁC PHƯƠNG PHÁP GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ TẠI VIỆT NAM
Việc chuyển đổi nền kinh tế ở nước ta từ cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp
sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã làm thay đổi quan niệm về
một loạt vấn đề xung quanh các chế định hợp đồng kinh tế (HĐKT), tranh chấp
kinh tế, tài phán kinh tế, quyền tự do của các bên tranh chấp trong việc lựa chọn cơ
quan, tổ chức giải quy
ết tranh chấp kinh tế, vị trí của cơ quan tài phán kinh tế trong
bộ máy Nhà nước v.v.
Từ năm 1987 - 1990, nước ta đã có nhiều cố gắng để tiếp tục phát huy vai trò
của trọng tài kinh tế. Do đó năm 1989 Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh Hợp đồng
kinh tế và năm 1990 ban hành Pháp lệnh Trọng tài kinh tế với mục đích làm cho hai
chế định này thích nghi với cơ chế quản lý kinh tế mới và mới đây Uỷ ban th
ường
vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh trọng tài thương mại số 08/PL UBTVQH 11
ban hành ngày 25/2/2003 nhằm từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo tính
tương thích với các quy định của luật pháp quốc tế.
Hiến pháp năm 1992 ra đời đã đánh dấu những thay đổi quan trọng trong chế
độ kinh tế của Nhà nước CHXHCN Việt nam và phần nào đã làm cho sự tồn tại của
hệ thống tr
ọng tài kinh tế trở nên không còn phù hợp. Đó là những nguyên tắc như
đa dạng hóa các thành phần kinh tế, các hình thức sở hữu, các doanh nghiệp thuộc
mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, cá nhân được tự do kinh
doanh, tự do thành lập doanh nghiệp, Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt

Việc giải quyết tranh chấp bằng thương lượng nhằm gạt bỏ các ý kiến bất
đồng để đạt tới sự thống nhất, thiện trí là một phương pháp giải quyết tranh chấp rất
phổ biến ở nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia Á Đông.
Theo Điều 7 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế
: “ Các tranh chấp phát sinh khi thực
hiện hợp đồng kinh tế được giải quyết bằng cách tự thương lượng giữa các bên với
nhau hoặc đưa ra trọng tài kinh tế”. Phương thức thương lượng này đẩy nhanh tốc
độ giải quyết tranh chấp giữa hai bên bày tỏ thái độ tôn trọng bên vi phạm hợp đồng
cũng như để hai bên hiểu rõ nội dung sự việc, nội dung tranh chấp dẫn đến sự
thiện
trí của cả hai bên.
- Trong các hợp đồng kinh tế, tại điều khoản về xử lý tranh chấp thường được ghi: “
Các tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng trước hết được giải
Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp
- 12 -
quyết thông qua đàm phán, thương lượng giữa các bên. Nếu tranh chấp không giải
quyết được bằng thương lượng sẽ được đem ra xét xử tại (toà án hoặc trọng tài)
theo quy tắc của (toà án, trọng tài) phí xét xử sẽ do bên thua kiện chịu” điều này
càng chức tỏ một trong những đặc điểm nổi bật của thương lượng là " hình thức tự
giải quyết tranh chấp" đượ
c áp dụng phổ biến nhất.
1.2 Cách thức thương lượng:
a. Thương lượng bằng cách gặp gỡ trực tiếp: Thương lượng bằng cách gặp nhau
trực tiếp là việc các bên cử đại diện của mình gặp mặt nhau tại một địa điểm nhất
định trong một thời gian xác định để bàn bạc vấn đề tranh chấp nhằm đưa ra các
giải pháp giải quyết tranh chấ
p.
b. Thương lượng thông qua thư từ, điện tín, telex...
Với sự phát triển vượt bậc của công nghệ điện tử Internet, email thì việc thương
lượng giữa các bên đương sự được thực hiện hết sức thuận lợi. Tuy vậy tất cả các

luận nhờ đó chuyển hướng từ chỗ bế tắc sang chọn lựa một giải pháp tối ưu nhất.
Bước 2: Xem xét nội dung chính của vấn đề:
Trong trường hợp này cần thiết phải tập trung vào vấn đề chính của cuộc thảo
luận thay vì cân đong đo đế
m xem phương án nào nặng nhẹ hơn, xem xét lại vấn đề
từ đầu từ chỗ khúc mắc mà hai bên chưa có cách giải quyết, tránh sa đà vào các
cuộc tranh luận ngoài lề nếu cảm thấy phương án đưa ra không được phía bên kia
chấp nhận, tiếp tục đặt lại vấn đề chính yếu nhất mà cả hai bên đều có ý định đạt
được trong buổi gặp gỡ.
Chọn một phương án nào đó tối
ưu nhất cho cả hai bên, đề nghị bên kia cũng
nghiên cứu trên tinh thần xây dựng và với yêu cầu phải bám sát mục tiêu chính của
cuộc thương lượng chỉ có như vậy mới không rơi vào bế tắc một lần nữa.
Khi có quá nhiều vấn đề được nêu ra nhưng rút cục hai bên đều không đạt
được sự thống nhất cần thiết, các bên đương sự cần phải biết cách chẻ nhỏ vấn
đề
đặt riêng từng cái một để dễ dàng nhất trí được với nhau về cách giải quyết. Nếu
thấy cần thiết đại diện của các bên chủ động rút lại các vấn đề của mình, lần lượt
cùng nhau xem xét và giải quyết từng vấn đề theo thứ tự, không nên vội vàng vì
nông nóng dễ làm hỏng việc.
2. Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng hoà giải:

2.1 Định nghĩa và đặc điểm của hoà giải: Hoà giải là một phương pháp để giải
quyết tranh chấp, trong đó bên thứ ba là người đóng vai trò trung gian hoà giải tham
gia vào các cuộc họp chung giữa các bên và tham gia vào các phiên họp riêng với
từng bên để điều hoà lợi ích các bên, phân tích cho họ thấy nội dung, thực chất của
tranh chấp và cố gắng giúp các bên tìm ra một giải pháp để giải quyết tranh chấp.
Từ khái niệm đ
ó hoà giải mang những đặc điểm chủ yếu sau:
Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp

riêng của họ thì không thể giải quyết nổi.
Nhìn chung hoà giải là phương pháp giải quyết tranh chấp nhanh, tiết kiệm
chi phí, nỗ lực giải quy
ết tranh chấp của các bên cùng với sự đóng góp của hoà giải
viên sẽ làm cho tiến trình hoà giải diễn ra nhanh chóng và mang lại kết quả theo
mong muốn của các bên.
Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp
- 15 -
3. Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng tòa án.
3.1 Cơ cấu tổ chức của toà án kinh tế.
a. Cơ cấu của toà án trong điều kiện mới:
Toà án kinh tế được tổ chức thành tòa chuyên trách trong hệ thống tòa án
nhân dân như: Tòa dân sự, Toà hình sự, gồm có: Tòa kinh tế Tòa án nhân dân tối
cao, Tòa kinh tế thuộc Tòa án nhân dân cấp Tỉnh, Thẩm phán chuyên trách xét xử
các vụ án kinh tế ở Toà án cấp Huyện.
• Ở Trung Ương: Toà án nhân dân tối cao có toà án kinh tế tồn tại độc lập và
song song với các toà chuyên trách khác nh
ư: Toà hình sự, Toà dân sự, Toà lao
động … Cơ cấu tổ chức của Toà kinh tế Toà án nhân dân tối cao gồm có Chánh toà,
các Phó Chánh toà, các Thẩm phán và Thư ký toà.
• Ở Địa phương: Cơ cấu tổ chức của toà kinh tế toà án nhân dân cấp Tỉnh
gồm có: Chánh toà, Phó chánh toà, các Thẩm phán và Thư ký toà.
• Ở Toà án nhân dân cấp Huyện không có tổ chức chuyên trách song TAND
cấp Huyện vẫn có chức năng giải quyết các tranh chấp kinh tế và có các Thẩm phán
kinh tế đảm nhậ
n xét xử các vụ án kinh tế.
b. Chức năng và nhiệm vụ của toà án:
b.1. Chức năng: Theo quy định hiện nay toà kinh tế có 2 chức năng chủ yếu sau:
♦ Chức năng xét xử các vụ án kinh tế theo qui định của pháp luật. Đây là chức năng
chủ yếu thường xuyên mang tính truyền thống của một cơ quan xét xử, toà án có

c toà kinh tế nằm trong hệ thống tòa án
nhân dân với vai trò như những tòa chuyên trách khác, có thẩm quyền giải quyết các
tranh chấp kinh tế phát sinh trong nền kinh tế thị trường.
3.2 Nguyên tắc tố tụng vụ án kinh tế:
Nguyên tắc giải quyết các vụ án kinh tế là những tư tưởng chỉ đạo đối với
việc giải quyết các vụ án kinh tế được các quy phạm pháp luật về tố tụng kinh tế ghi
nhận qua nh
ững nội dung và đặc trưng cơ bản của tố tụng kinh tế. Việc tuân thủ các
nguyên tắc của tố tụng kinh tế là cơ sở cho việc đảm bảo giải quyết vụ án kinh tế
khách quan, đúng luật, đặc biệt cần phải tuân thủ những nguyên tắc sau đây:
3.2.1 Nguyên tắc tự định đoạt

Đây là nguyên tắc cơ bản trong tố tụng kinh tế, nó xuất phát từ quyền tự do
kinh doanh, tự do giao kết hợp đồng của các chủ thể kinh doanh. Theo nguyên tắc
này, thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế đã quy định cho đương sự được quyền khởi
kiện, quyền yêu cầu toà án bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, có quyền lựa chọn
Toà án giải quyết tranh chấp trong những trường h
ợp nhất định. Nguyên đơn được
Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp
- 17 -
quyền thay đổi nội dung đơn kiện, quyền rút đơn kiện, cũng như đương sự có quyền
hoà giải, thương lượng trong quá trình giải quyết vụ án.
3.2.2 Nguyên tắc đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh:

Trong tố tụng kinh tế, toà án không có nghĩa vụ phải điều tra xác minh sự thật
của vụ án, mà các đương sự phải có nghĩa vụ cung cấp thu thập tài liệu chứng cứ để
bảo vệ quyền lợi của mình. Có thể nói, sự thất bại trong một vụ tranh tụng tại toà án
phụ thuộc nhiều vào việc đương sự có cung cấp đầy đủ các chứng cứ bảo v
ệ quyền
lợi của mình hay không.

thường là bí quyết về kinh doanh như phát minh sáng chế... có liên quan trực tiếp
đến hiệu quả hoạt động của người kinh doanh, nếu bí quyết đó bị tiết lộ thì sẽ đem
lại hiệu quả xấu cho doanh nghiệp đó vì vậy họ có quyền đề nghị toà xét xử kín.
3.3 Thẩm quyền giải quyết vụ
án kinh tế của toà án.
3.3.1 Thẩm quyền của Toà án:

Khi có vụ tranh chấp kinh tế xảy ra, đương sự phải khởi kiện tại toà án có
thẩm quyền hoặc các toà án phải xem xét và xử lý vụ án đúng thẩm quyền theo qui
định của pháp luật tố tụng.
Chúng ta hiểu thẩm quyền của toà án ở các mặt sau đây:
- Thẩm quyền chung;
- Thẩm quyền của toà án các cấp;
- Thẩm quyền của toà án theo lãnh thổ;
- Thẩm quyền theo sự lựa chọn củ
a nguyên đơn;
a. Thẩm quyền chung của toà án:
Theo qui định của pháp luật tố tụng thì toà án có thẩm quyền giải quyết các
vụ án kinh tế sau:
♦ Tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân
với cá nhân có đăng ký kinh doanh.
♦ Các tranh chấp giữa công ty với thành viên của công ty, các thành viên của công
ty với nhau có liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty.
♦ Các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu.

Các tranh chấp khác theo quy định của pháp luật.
Do đó khi xảy ra tranh chấp và đưa đến toà án thì cần phải xác định được
rằng: vụ tranh chấp đó thuộc về một trong số các loại vụ việc kể trên không?. Cũng
cần phải lưu ý rằng đối với những tranh chấp kinh tế thuộc các loại kể trên nhưng
lại có nhân tố nước ngoài thì chỉ áp dụng luật tố tụng của Vi

Tóm lại, thẩm quyền xét x
ử của Toà án Nhân dân cấp Tỉnh đối với các vụ án
kinh tế là: Giám đốc thẩm, Tái thẩm; các vụ án mà bản án, quyết định có hiệu lực
pháp luật của toà án cấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị.
b.2 Thẩm quyền của toà kinh tế - toà án nhân dân tối cao:
♦ Giám đốc thẩm, Tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật bị kháng nghị theo qui định của pháp luật tố t
ụng. Toà kinh tế - toà án nhân dân
Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp
- 20 -
tối cao không có quyền xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm các vụ án kinh tế như
toà hình sự toà án nhân dân tối cao.
♦ Về phúc thẩm: Toà án Nhân dân tối cao có các Thẩm phán kinh tế được phân
công giải quyết và có thẩm quyền:
• Phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp
luật của toà án cấp dưới trực tiếp bị kháng cáo, kháng nghị theo qui định của pháp
luật t
ố tụng.
• Giải quyết khiếu nại đối với các quyết định của TAND Tỉnh, Thành phố trực
thuộc TW về tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo qui định của pháp luật.
c. Thẩm quyền của toà án theo lãnh thổ:
Theo qui định của pháp luật thì toà án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ
án kinh tế là toà án nơi bị đơn có trụ sở hoặc cư trú; trong trường hợp vụ án chỉ liên
quan
đến bất động sản, thì toà án nơi có bất động sản giải quyết.
d. Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn:
Theo qui định của pháp luật thì nguyên đơn có quyền lựa chọn một trong số
toà án có thẩm quyền theo những trường hợp dưới đây để khởi kiện vụ án kinh tế:
- Nếu không biết rõ trụ sở, hoặc nơi cư trú của bị đơn thì có quyề
n yêu cầu toà án

b. Những ưu thế cơ bản của trọng tài:
Cùng với việc quyết định chuyển giao việc xét xử tranh chấp kinh tế từ trọng
tài kinh tế sang tòa án, Chính phủ Việt Nam chủ trương so
ạn thảo và ban hành Pháp
luật về trọng tài kinh tế phi Chính phủ, nhằm tạo điều kiện cho các bên tranh chấp
thực hiện quyền tự do định đoạt phương thức giải quyết tranh chấp của mình.
Vấn đề đặt ra ở đây là tại sao việc giải quyết các tranh chấp kinh tế đã có toà
án kinh tế theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, vậy trọng tài phi
Chính ph
ủ được thành lập nhằm mục đích gì? Có các nguyên nhân sau đây:
Một là: Thủ tục tố tụng của toà án có thể qua nhiều cấp xét xử khác nhau, điều đó
không phù hợp với đòi hỏi của các nhà kinh doanh về mặt thời gian. Các nhà kinh
doanh muốn vụ tranh chấp được phán quyết nhanh chóng bằng thủ tục đơn giản,
phù hợp với công việc kinh doanh của họ;
Hai là: Các nhà kinh doanh có quyền tự do kinh doanh theo luật định
đồng thời
cũng có quyền lựa chọn cơ quan tài phán trong việc giải quyết tranh chấp về kinh tế.
Họ muốn "chọn mặt gửi vàng" vào cơ quan tài phán mà họ tín nhiệm, muốn có
"người" giải quyết tranh chấp do họ lựa chọn, thậm chí muốn lựa chọn về thời gian,
địa điểm để giải quyết vụ tranh chấp … Về vấn đề này tố t
ụng của toà án không thể
đáp ứng đầy đủ được.
Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp
- 22 -
Ba là: Các nhà kinh doanh muốn gữi bí mật, đảm bảo uy tín trong hợp đồng kinh
doanh họ thường không muốn doanh nghiệp mình phải ra "hầu toà" bị đưa tin trên
các phương tiện thông tin đại chúng, nhưng về nguyên tắc tố tụng của toà án đòi hỏi
xét xử công khai trừ trường hợp đặc biệt có lý do chính đáng;
Bốn là: Các quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta ngày càng phát triển với những
hình thức đa dạ

- Tổ chức hoạt động: Để tổ chức và hoạt động theo Điều lệ và Quy tắc tố tụng của
mỗi Trung tâm phù hợp với quy định của các văn bản pháp luật hiện hành nhưng
không được trái với những qui định của Pháp lệnh số 08/2003 UBTVQH 11;
- Một đặc điểm nữa là: Các quyết định của Hội đồng trọng tài là Chung thẩm, các
bên phải thi hành;
- Đặ
c điểm thứ tư là: Các bên có quyền thoả thuận lựa chọn Trung tâm trọng tài để
giải quyết tranh chấp.
4.2.2 Thẩm quyền:

Theo qui định của Pháp lệnh số 08/PL/2003 UBTVQH 11 trọng tài có thẩm
quyền giải quyết các vụ tranh chấp phát sinh trong “hoạt động thương mại” theo sự
thoả thuận của các bên bằng văn bản hoặc hình thức văn bản khác như thư, điện
báo, telex, fax, thư điện tử....
Hoạt động thương mại là một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ
chức kinh doanh bao gồm: mua bán hàng hoá, cung ứng d
ịch vụ; phân phối; đại
diện, đại lý thương mại; ký gửi; thuê, cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ
thuật; li – xăng; đầu tư; tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò; khai thác; vận
chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt,
đường bộ.... Điều 2 khoản 3 Pháp lệnh Trọng tài Thương mại số 08/PL/2003).
4.2.3 Thành lập và chấm dứt hoạt động của Trung tâm trọng tài:

a. Điều kiện: Trung tâm trọng tài chỉ được phép thành lập khi có ít nhất năm Trọng
tài viên là sáng lập viên đề nghị và được Hội luật gia Việt nam giới thiệu, Bộ trưởng
Bộ Tư pháp xem xét Quyết định cấp giấy phép thành lập Trung tâm trọng tài.
Trọng tài viên phải là người có đủ các điều kiện theo qui định mới được công
nhận là Trọng tài viên: phải là công dân Việt Nam, có phẩm chất đạ
o đức tốt, trung
thực, vô tư, khách quan, có bằng đại học và đã qua thực tế công tác theo ngành đã

Họ và tên, địa chỉ, nghề nghiệp của các sáng lập viên;
+
Lĩnh vực hoạt động của Trung tâm trọng tài:
+
Địa điểm dự định đặt trụ sở của Trung tâm trọng tài;
- Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được Giấy phép thành lập, Trung tâm
trọng tài phải đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp Tỉnh, Thành phố trực thuộc TW nơi
Trung tâm trọng tài đặt trụ sở, hết thời hạn này mà Trung tâm trọng tài không đăng
ký thì giấy phép bị thu hồi.
- Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được c
ấp giấy đăng ký hoạt động Trung tâm
trọng tài phải đăng báo hàng ngày của TW hoặc báo Địa phương nơi đăng ký hoạt
động trong 3 số liên tiếp về những nội dung chủ yếu sau:
+
Tên, địa chỉ, trụ sở của Trung tâm trọng tài
+
Lĩnh vực hoạt động của Trung tâm;
+
Số giấy đăng ký hoạt động, cơ quan cấp, ngày, tháng, năm cấp;
+
Thời điểm bắt đầu hoạt động của Trung tâm trọng tài;
Giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp
- 25 -
Trung tâm trọng tài, phải niêm yết tại trụ sở những nội dung trên và danh
sách trọng tài viên của Trung tâm trọng tài.
c. Chấm dứt hoạt động:
Điều 18 Pháp lệnh Trọng tài thương mại số 08/2003 UBTVQH 11 thì Trung
tâm trọng tài chấm dứt hoạt động trong các trường hợp sau:
- Các trường hợp qui định tại Điều lệ của Trung tâm trọng tài;
- Bị thu hồi Giấy phép thành lập;

Trích đoạn LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ Các biện pháp phòng ngừa tranh chấp kinh tế: a Xây dựng một HĐKT hoàn chỉnh: Bảo đảm trình độc ần thiết của người tham gia đàm phán: Hoàn thiện Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế (HĐKT): Đặc biệt lưu ý đến điều khoản về việc giải quyết tranh chấp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status