GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP Ở NƯỚC TA HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP - Pdf 26

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài: GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP Ở NƯỚC TA
HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Giáo viên hướng dẫn: Tiến sỹ Bùi Ngọc Sơn
Sinh viên thực hiện: Bùi Trọng Tuấn
Lớp: A2
Khoá: CN9
Hà nội, tháng 5/2003
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo - Tiến sỹ Bùi Ngọc Sơn –
người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ em – cùng các thầy cô
giáo trường Đại học ngoại thương, các cán bộ Toà án nhân dân tối cao, gia
đình, bạn bè và đồng nghiệp – những người đã tạo điều kiện cho em hoàn
thành bản khoá luận này.
Sinh viên
Bùi Trọng Tuấn
LỜI NÓI ĐẦU
Các hoạt động kinh tế luôn có vị trí vai trò đặc biệt quan trọng, nó quyết định
sự tồn tại cũng như phát triển của xã hội. Để thực hiện chức năng kinh tế, ngày nay
Nhà nước nào cũng ban hành Hệ thống các qui phạm pháp luật để điều chỉnh các
quan hệ kinh tế.
Trong hoạt động kinh doanh thường khó tránh khỏi các tranh chấp do nhiều
nguyên nhân khác nhau, do vậy, giải quyết các tranh chấp kinh tế cũng là yêu cầu tất
yếu. Để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, đảm bảo các quan hệ kinh
doanh được ổn định, lành mạnh và phát triển, Nhà nước thông qua các cơ quan chức
năng hoặc các tổ chức được pháp luật thừa nhận để giải quyết tranh chấp.
Giải quyết tranh chấp kinh tế không phải là vấn đề mới mẻ đối với khoa học
pháp lý. Bởi vì, ngày nay các quan hệ kinh tế càng trở nên phong phú và đa dạng thì
pháp luật về giải quyết tranh chấp cũng phải từng bước đổi mới về pháp luật nội

III. Các phương pháp giải quyết tranh chấp kinh tế
1. Giải quyết tranh chấp bằng thương lượng:
+ Khái niệm và đặc điểm
+ Cách thức thương lượng
+ Một số bước thương lượng, đàm phán để gỡ rối khi các bên tranh chấp đều
bế tắc
2. Giải quyết tranh chấp bằng hoà giải:
3. Giải quyết tranh chấp bằng toà án:
+ Cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ quyền hạn của toà án kinh tế
+ Nguyên tắc tố tụng vụ án kinh tế và các nguyên tắc xét xử tranh chấp kinh tế
của toà án kinh tế;
+ Thẩm quyền của toà án các cấp;
4. Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài kinh tế:
- Khái niệm và những ưu thế cơ bản của trọng tài kinh tế
- Trung tâm trọng tài (Pháp lệnh số 08/ UBTVQH 11)
+ Khái niệm, đặc điểm, thẩm quyền của Trung tâm trọng tài
+ Thành lập chấm dứt hoạt động của Trung tâm trọng tài
- Giải quyết tranh chấp kinh tế của Trung tâm trọng tài kinh tế
Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam
Chương II: Thực trạng giải quyết tranh chấp kinh tế ở Việt nam hiện nay
I. Các loại tranh chấp kinh tế phổ biến ở nước ta hiện nay:
1. Tranh chấp phát sinh do một bên vi phạm nghĩa vụ giao hàng hoặc thực hiện
lao vụ
2. Tranh chấp phát sinh do một bên vi phạm nghĩa vụ thanh toán và tiếp nhận
hàng hoá công việc
3. Tranh chấp liên quan đến hợp đồng kinh tế vô hiệu
II. Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng phương pháp tiền khởi kiện
III. Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng toà án
IV. Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng trọng tài
Chương III: Những giải pháp hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp

và có thể bắt nguồn từ nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, nhưng đặc trưng
chung của tranh chấp kinh tế là luôn gắn liền với hoạt động kinh tế và chủ thể tham gia chủ
yếu là các nhà doanh nghiệp. Về bản chất, mỗi tranh chấp xét cho cùng đều phản ánh
những xung đột về lợi ích kinh tế giữa các bên
Tranh chấp kinh tế khác với tranh chấp dân sự ở một số điểm sau:
♦ Tranh chấp kinh tế thường chỉ gắn liền với những yếu tố tài sản, những lợi ích
của các bên có tranh chấp và chỉ phát sinh từ các quan hệ vì mục đích kinh doanh, các
tranh chấp dân sự vừa mang tính chất tài sản, tính chất nhân thân phi tài sản.
♦ Giá trị tranh chấp kinh tế thường rất lớn, các tranh chấp kinh tế thường làm ảnh hưởng
kinh tế không những cho bên cùng tranh chấp mà còn làm ảnh hưởng đến sản xuất kinh
doanh của cả cộng đồng kinh doanh nữa. Do đó, tranh chấp kinh tế thường có tính nguy
hiểm hơn tranh chấp dân sự.
♦ Bên bị vi phạm trong quan hệ kinh tế không những được bồi thường
thiệt hại (nếu có thiệt hại xảy ra) giống như bên bị vi phạm trong quan
hệ luật dân sự mà có quyền đòi hỏi phạt vi phạm hợp đồng kinh tế.
♦ Chủ thể trong quan hệ có tranh chấp kinh tế chủ yếu là chủ thể kinh doanh khi tham gia
quan hệ kinh doanh hoặc nếu không trực tiếp kinh doanh thì ít nhất họ là những người tiến
hành hành vi đầu tư vốn nhằm mục đích kinh doanh sinh lời. Trong khi đó tranh chấp dân
sự chủ yếu phát sinh từ các chủ thể không tham gia kinh doanh.
Tranh chấp kinh tế gồm các loại sau:
• Tranh chấp Hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh.
• Tranh chấp giữa Công ty với thành viên Công ty hoặc giữa thành viên Công ty với nhau
liên quan đến việc thiết lập hoạt động hoặc giải thể công ty.
• Tranh chấp đến việc mua bán chứng khoán (Cổ phiếu, Trái phiếu);
• Và các tranh chấp kinh tế khác theo qui định của pháp luật;
Trong điều kiện kinh tế thị trường sự đa dạng về đối tượng cũng như sự
xuất hiện của các thị trường yếu tố phi truyền thống đã làm phát sinh
nhiều tranh chấp mới như tranh chấp về thương hiệu, Ly- xăng, tranh
chấp về quảng cáo...
Những tranh chấp kinh tế xảy ra mà được cơ quan toà án có thẩm quyền giải quyết theo

Cơ quan tài phán nói chung và các cơ quan tài phán kinh tế nói riêng
cũng nằm trong khuôn khổ của công cuộc đổi mới này. Đáp ứng các đòi
hỏi tất yếu khách quan đó Quốc hội nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa
Việt nam khoá IX kỳ họp thứ 4 đã thông qua luật sửa đổi bổ xung Luật
tổ chức Toà án nhân dân với những qui định và chức năng mới của toà
án là giải quyết các tranh chấp kinh tế và giải quyết yêu cầu tuyên bố
phá sản doanh nghiệp, Luật phá sản doanh nghiệp và pháp lệnh thủ tục
giải quyết các vụ án kinh tế cũng được ban hành với tư cách là luật nội
dung để giải quyết các tranh chấp kinh tế trong cơ chế mới.
Pháp lệnh Hội đồng trọng tài kinh tế ban hành ngày 12/1/1990
cũng không còn phù hợp với nền kinh tế nhiều thành phần nữa. Bởi
trọng tài kinh tế nhà nước là cơ quan thuộc hệ thống các cơ quan quản
lý Nhà nước nhưng lại có thẩm quyền xét xử. Đây là một cơ quan vừa có
chức năng quản lý lại vừa có chức năng của cơ quan tư pháp, kèm theo
đó thực lực của đội ngũ trọng tài viên còn hạn chế. Các quyết định của
trọng tài kinh tế không có một cơ chế thi hành hiệu quả, chủ yếu chỉ
mong vào sự tự nguyện của bên phải thi hành.
2. Nhằm hoà nhập vào nền kinh tế khu vực và quốc tế, nhà nước ta thực hiện một chính
sách kinh tế mở. Mở rộng các quan hệ kinh tế quốc tế chúng ta vừa thu hút được đầu tư
nước ngoài vào Việt Nam, vừa nắm bắt được những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến
và kinh nghiệm kinh doanh của các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Vấn đề đặt ra là khi
mở rộng các quan hệ kinh tế chúng ta buộc phải xem xét, chấp nhận những tập quán
thương mại quốc tế và các nguyên tắc của luật pháp quốc tế về các lĩnh vực thương mại
kinh doanh quốc tế.
Mở rộng các mối quan hệ kinh tế quốc tế đã tác động tích cực vào nền kinh tế của
chúng ta làm các hoạt động kinh doanh trở nên đa dạng, sôi động và đương nhiên dẫn đến
sẽ có phát sinh các tranh chấp trong hoạt động kinh tế ngày càng nhiều và gay gắt. Các chủ
đầu tư nước ngoài vào Việt Nam họ đều quan tâm đến sự bảo đảm về mặt pháp lý cho hoạt
động kinh doanh của mình và pháp luật phải bảo đảm đầy đủ các quyền và lợi ích chính
đáng của họ khi nảy sinh các tranh chấp.

hợp pháp của các chủ thể kinh doanh, bảo vệ trật tự, kỷ cương xã hội.
Khi xảy ra tranh chấp các chủ thể kinh doanh đều muốn giải quyết tranh chấp kinh
tế được nhanh chóng và thuận lợi, từ đó các chủ thể kinh doanh có nhu cầu lựa chọn một
hình thức giải quyết các tranh chấp kinh tế phù hợp với mình.
1.Giải quyết tranh chấp bằng thương lượng:
1.1 Khái niệm, đặc điểm:
a. Khái niệm: Thương lượng là một phương thức giải quyết tranh chấp mà theo đó các bên
cùng nhau bàn bạc, thoả thuận để tự giải quyết tranh chấp phát sinh trong quan hệ hợp
đồng của mình mà không có sự tham gia của bên thứ ba.
b. Đặc điểm:
- Thương lượng là một phương pháp tự giải quyết tranh chấp của các bên.
- Thương lượng không mang tính chất bắt buộc trừ khi hợp đồng có quy định và không đòi
hỏi sự can thiệp hành chính của bất cứ một thiết chế nào. Thương lượng được áp dụng
tương đối phổ biến để giải quyết tranh chấp kinh tế thời gian và chi phí giành cho cuộc
thương lượng thông thường phụ thuộc vào tính chất và trị giá tranh chấp. Tuy nhiên, trong
thực tế thương lượng lại phụ thuộc vào thiện trí của các bên và cách thức thương lượng là
thương lượng trực tiếp hay thông qua thư tín, telex, fax ....
Việc giải quyết tranh chấp bằng thương lượng nhằm gạt bỏ các ý kiến bất đồng để
đạt tới sự thống nhất, thiện trí là một phương pháp giải quyết tranh chấp rất phổ biến ở
nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia Á Đông.
Theo Điều 7 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế: “ Các tranh chấp phát sinh khi thực hiện
hợp đồng kinh tế được giải quyết bằng cách tự thương lượng giữa các bên với nhau hoặc
đưa ra trọng tài kinh tế”. Phương thức thương lượng này đẩy nhanh tốc độ giải quyết
tranh chấp giữa hai bên bày tỏ thái độ tôn trọng bên vi phạm hợp đồng cũng như để hai bên
hiểu rõ nội dung sự việc, nội dung tranh chấp dẫn đến sự thiện trí của cả hai bên.
- Trong các hợp đồng kinh tế, tại điều khoản về xử lý tranh chấp thường được ghi: “ Các
tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng trước hết được giải quyết thông
qua đàm phán, thương lượng giữa các bên. Nếu tranh chấp không giải quyết được bằng
thương lượng sẽ được đem ra xét xử tại (toà án hoặc trọng tài) theo quy tắc của (toà án,
trọng tài) phí xét xử sẽ do bên thua kiện chịu” điều này càng chức tỏ một trong những đặc

xếp chúng theo thứ tự cho là thích hợp nhất. Sau khi phân loại các phương án đã hoàn
thành, đôi bên mới bắt đầu trình bày lý do việc lựa chọn của mình, bằng cách trên mới
vượt qua được một số “điểm chết” trong quá trình thảo luận, đây là tiền đề để cho việc tìm
kiếm một phương án khả thi nhất. Cuộc thảo luận nhờ đó chuyển hướng từ chỗ bế tắc sang
chọn lựa một giải pháp tối ưu nhất.
Bước 2: Xem xét nội dung chính của vấn đề:
Trong trường hợp này cần thiết phải tập trung vào vấn đề chính của cuộc thảo luận
thay vì cân đong đo đếm xem phương án nào nặng nhẹ hơn, xem xét lại vấn đề từ đầu từ
chỗ khúc mắc mà hai bên chưa có cách giải quyết, tránh sa đà vào các cuộc tranh luận
ngoài lề nếu cảm thấy phương án đưa ra không được phía bên kia chấp nhận, tiếp tục đặt
lại vấn đề chính yếu nhất mà cả hai bên đều có ý định đạt được trong buổi gặp gỡ.
Chọn một phương án nào đó tối ưu nhất cho cả hai bên, đề nghị bên kia cũng
nghiên cứu trên tinh thần xây dựng và với yêu cầu phải bám sát mục tiêu chính của cuộc
thương lượng chỉ có như vậy mới không rơi vào bế tắc một lần nữa.
Khi có quá nhiều vấn đề được nêu ra nhưng rút cục hai bên đều không đạt được sự
thống nhất cần thiết, các bên đương sự cần phải biết cách chẻ nhỏ vấn đề đặt riêng từng cái
một để dễ dàng nhất trí được với nhau về cách giải quyết. Nếu thấy cần thiết đại diện của
các bên chủ động rút lại các vấn đề của mình, lần lượt cùng nhau xem xét và giải quyết
từng vấn đề theo thứ tự, không nên vội vàng vì nông nóng dễ làm hỏng việc.
2. Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng hoà giải:
2.1 Định nghĩa và đặc điểm của hoà giải: Hoà giải là một phương pháp để giải quyết
tranh chấp, trong đó bên thứ ba là người đóng vai trò trung gian hoà giải tham gia vào các
cuộc họp chung giữa các bên và tham gia vào các phiên họp riêng với từng bên để điều hoà
lợi ích các bên, phân tích cho họ thấy nội dung, thực chất của tranh chấp và cố gắng giúp
các bên tìm ra một giải pháp để giải quyết tranh chấp.
Từ khái niệm đó hoà giải mang những đặc điểm chủ yếu sau:
♦ Các bên tranh chấp thoả thuận bên thứ 3 tạo điều kiện thuận lợi cho việc đàm phán.
♦ Bên thứ 3 không có quyền quyết định tranh chấp;
♦ Khi các bên đạt được sự nhất trí trong việc giải quyết tranh chấp, thì sự nhất trí phải
được thể hiện bằng văn bản và văn bản này có giá trị pháp lý ràng buộc các bên.

tổ chức của Toà kinh tế Toà án nhân dân tối cao gồm có Chánh toà, các Phó Chánh toà, các
Thẩm phán và Thư ký toà.
• Ở Địa phương: Cơ cấu tổ chức của toà kinh tế toà án nhân dân cấp Tỉnh gồm có:
Chánh toà, Phó chánh toà, các Thẩm phán và Thư ký toà.
• Ở Toà án nhân dân cấp Huyện không có tổ chức chuyên trách song TAND cấp
Huyện vẫn có chức năng giải quyết các tranh chấp kinh tế và có các Thẩm phán kinh tế
đảm nhận xét xử các vụ án kinh tế.
b. Chức năng và nhiệm vụ của toà án:
b.1. Chức năng: Theo quy định hiện nay toà kinh tế có 2 chức năng chủ yếu sau:
♦ Chức năng xét xử các vụ án kinh tế theo qui định của
pháp luật. Đây là chức năng chủ yếu thường xuyên mang
tính truyền thống của một cơ quan xét xử, toà án có thẩm
quyền nhân danh nước CHXHCN Việt Nam để tuyên án và
kết quả của việc xét xử là bản án hoặc quyết định.
♦ Chức năng tuyên bố phá sản doanh nghiệp: Toà án nhân dân cấp Tỉnh, Toà án nhân dân
tối cao là cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
b.2. Nhiệm vụ của toà án kinh tế:
• Giải quyết đúng pháp luật, kịp thời các vụ án kinh tế
nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích của cá
nhân, pháp nhân.
• Nhiệm vụ bảo vệ pháp chế XHCN.
• Nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
• Nhiệm vụ giải quyết nhanh chóng kịp thời các vụ án kinh tế.
Thực tiễn hoạt động kinh doanh yêu cầu đặt ra là phải có phương thức giải quyết
tranh chấp kinh tế phù hợp với nền kinh tế thị trường, cần giải quyết tranh chấp kinh tế kịp
thời đúng pháp luật và đạt hiệu quả cao, không chỉ giảm bớt những tổn thất về kinh tế, mà
còn có tác dụng bảo vệ và khôi phục quyền lợi của các doanh nghiệp, các nhà kinh doanh,
tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển. Mặt khác khuyến khích các cá
nhân và tổ chức trong nước cũng như ở nước ngoài yên tâm bỏ vốn để đầu tư phát triển đất
nước.

Khi có tranh chấp kinh tế xảy ra các bên đương sự phải chủ động gặp gỡ nhau để
hoà giải, thương lượng, khi sự thương lượng đó không đem lại kết quả thì bên bị vi phạm
có quyền khởi kiện vụ án kinh tế ra toà án nhân dân có thẩm quyền. Trong quá trình giải
quyết vụ án kinh tế toà án có nhiệm vụ phải hoà giải giữa các bên đương sự, hoà giải là bắt
buộc trong tố tụng kinh tế, nếu như khi giải quyết vụ án kinh tế Toà án không hoà giải giữa
các bên thì coi như đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Toà án chỉ đưa ra xét xử khi
hoà giải không thành. Xét về nguyên tắc, hoà giải không chỉ giải quyết "Ai đúng, Ai sai"
mà chính là khuyến khích các bên thừa nhận quyền lợi chung. Thực tiễn xét xử cho thấy
rằng phần lớn các vụ án kinh tế thành công ở giai đoạn hoà giải. Hoà giải thật sự có ý
nghĩa quan trọng đối với cả hai bên đương sự và với cả toà án, nó giúp vụ án được giải
quyết nhanh chóng đạt được yêu cầu của cả hai bên và tạo điều kiện thuận lợi cho việc
thực hiện những thoả thuận đó sau này.
3.2.4 Nguyên tắc giải quyết vụ án nhanh chóng kịp thời:
Đây là nguyên tắc đặc trưng của tố tụng vụ án kinh tế, bởi lẽ nó chi phối tất cả các
thời hạn tố tụng trong việc giải quyết vụ án kinh tế, nhanh chóng về thời gian là đòi hỏi của
các chủ thể kinh doanh khi giải quyết vụ án.
3.2.5 Nguyên tắc xét xử công khai:
Đây là nguyên tắc hiến định đối với hoạt động của toà án. Trong một số trường hợp
pháp luật cho phép toà án được xử kín: Khi xét xử các vụ án kinh tế, toà án có thể xét xử
kín nếu xét thấy cần giữ bí mật Nhà nước hoặc bí mật của đương sự theo yêu cầu chính
đáng của họ. Bí mật của đương sự trong tranh chấp kinh tế thường là bí quyết về kinh
doanh như phát minh sáng chế... có liên quan trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của người
kinh doanh, nếu bí quyết đó bị tiết lộ thì sẽ đem lại hiệu quả xấu cho doanh nghiệp đó vì
vậy họ có quyền đề nghị toà xét xử kín.
3.3 Thẩm quyền giải quyết vụ án kinh tế của toà án.
3.3.1 Thẩm quyền của Toà án:
Khi có vụ tranh chấp kinh tế xảy ra, đương sự phải khởi kiện tại toà án có thẩm
quyền hoặc các toà án phải xem xét và xử lý vụ án đúng thẩm quyền theo qui định của
pháp luật tố tụng.
Chúng ta hiểu thẩm quyền của toà án ở các mặt sau đây:

b.1 Thẩm quyền của toà án kinh tế - toà án nhân dân cấp Tỉnh
- Sơ thẩm: Những vụ án kinh tế trừ những vụ án thuộc thẩm quyền của toà án nhân dân cấp
Huyện. Tuy nhiên trong những trường hợp cần thiết toà án cấp Tỉnh có thể lấy những vụ án
kinh tế thuộc quyền của toà án nhân dân cấp Huyện lên để giải quyết do vụ án đó có nhiều
tình tiết phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh chính trị hoặc vì lý do cần thiết nào đó.
- Phúc thẩm: Những vụ án kinh tế mà bản án, quyết định Sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp
luật của toà án cấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị theo qui định của pháp luật tố tụng.
- Giải quyết việc phá sản doanh nghiệp theo qui định của pháp luật.
Tóm lại, thẩm quyền xét xử của Toà án Nhân dân cấp Tỉnh đối với các vụ án kinh
tế là: Giám đốc thẩm, Tái thẩm; các vụ án mà bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của
toà án cấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị.
b.2 Thẩm quyền của toà kinh tế - toà án nhân dân tối cao:
♦ Giám đốc thẩm, Tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị
kháng nghị theo qui định của pháp luật tố tụng. Toà kinh tế - toà án nhân dân tối cao không
có quyền xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm các vụ án kinh tế như toà hình sự toà án
nhân dân tối cao.
♦ Về phúc thẩm: Toà án Nhân dân tối cao có các Thẩm phán kinh tế được phân công giải
quyết và có thẩm quyền:
• Phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật
của toà án cấp dưới trực tiếp bị kháng cáo, kháng nghị theo qui định của pháp luật tố tụng.
• Giải quyết khiếu nại đối với các quyết định của TAND Tỉnh, Thành phố trực thuộc
TW về tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo qui định của pháp luật.
c. Thẩm quyền của toà án theo lãnh thổ:
Theo qui định của pháp luật thì toà án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án kinh
tế là toà án nơi bị đơn có trụ sở hoặc cư trú; trong trường hợp vụ án chỉ liên quan đến bất
động sản, thì toà án nơi có bất động sản giải quyết.
d. Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn:
Theo qui định của pháp luật thì nguyên đơn có quyền lựa chọn một trong số toà án
có thẩm quyền theo những trường hợp dưới đây để khởi kiện vụ án kinh tế:
- Nếu không biết rõ trụ sở, hoặc nơi cư trú của bị đơn thì có quyền yêu cầu toà án nơi có tài

được thành lập nhằm mục đích gì? Có các nguyên nhân sau đây:
Một là: Thủ tục tố tụng của toà án có thể qua nhiều cấp xét xử khác nhau, điều đó không
phù hợp với đòi hỏi của các nhà kinh doanh về mặt thời gian. Các nhà kinh doanh muốn vụ
tranh chấp được phán quyết nhanh chóng bằng thủ tục đơn giản, phù hợp với công việc
kinh doanh của họ;
Hai là: Các nhà kinh doanh có quyền tự do kinh doanh theo luật định đồng thời cũng có
quyền lựa chọn cơ quan tài phán trong việc giải quyết tranh chấp về kinh tế. Họ muốn
"chọn mặt gửi vàng" vào cơ quan tài phán mà họ tín nhiệm, muốn có "người" giải quyết
tranh chấp do họ lựa chọn, thậm chí muốn lựa chọn về thời gian, địa điểm để giải quyết vụ
tranh chấp … Về vấn đề này tố tụng của toà án không thể đáp ứng đầy đủ được.
Ba là: Các nhà kinh doanh muốn gữi bí mật, đảm bảo uy tín trong hợp đồng kinh doanh họ
thường không muốn doanh nghiệp mình phải ra "hầu toà" bị đưa tin trên các phương tiện
thông tin đại chúng, nhưng về nguyên tắc tố tụng của toà án đòi hỏi xét xử công khai trừ
trường hợp đặc biệt có lý do chính đáng;
Bốn là: Các quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta ngày càng phát triển với những hình
thức đa dạng, phong phú như hợp đồng mua bán ngoại thương, hợp đồng đầu tư…. có
những tranh chấp phát sinh từ quan hệ kinh tế Quốc tế như: tranh chấp về tài chính, tín
dụng, bảo hiểm, vận tải, du lịch quốc tế... trong khi các đương sự không muốn giải quyết
bằng toà án và theo thông lệ chung các nước có nền kinh tế thị trường thì những tranh chấp
đó thường do Trọng tài thương mại giải quyết.
Năm là: Mô hình giải quyết tranh chấp kinh tế trong kinh doanh bằng con đường trọng tài
thương mại phi Chính phủ ở các nước có nền kinh tế thị trường rất được ưa chuộng điều
này chứng tỏ một số ưu điểm độc đáo phù hợp với các nhà kinh doanh.
4.2 Trung tâm Trọng tài:
Trước đây văn bản Pháp luật quan trọng điều chỉnh
tổ chức và hoạt động của trọng tài kinh tế là Nghị định 116
ngày 5/9/1994 nhưng đã được thay thế bằng Pháp lệnh
trọng tài thương mại số 08/2003 PL - UBTVQH 11 ban
hành ngày 25/2/2003 có hiệu lực ngày 01/07/2003.
4.2.1 Khái niệm, đặc điểm:

viên là sáng lập viên đề nghị và được Hội luật gia Việt nam giới thiệu, Bộ trưởng Bộ Tư
pháp xem xét Quyết định cấp giấy phép thành lập Trung tâm trọng tài.
Trọng tài viên phải là người có đủ các điều kiện theo qui định mới được công nhận
là Trọng tài viên: phải là công dân Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, vô tư,
khách quan, có bằng đại học và đã qua thực tế công tác theo ngành đã học từ 05 năm trở
lên.
Pháp luật cũng đưa ra điều kiện cấm chỉ: người đang bị quản chế hành chính, đang
bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị kết án mà chưa được xoá án tích không được làm
Trọng tài, Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Chấp hành viên, Công chức đang công
tác tại Toà án, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan điều tra, Cơ quan thi hành án không được
đồng thời làm trọng tài viên (Điều 12 Pháp lệnh 08/2003 UBTVQH 11).
b. Thủ tục:
- Các sáng lập viên phải gửi hồ sơ đề nghị thành lập Trung tâm trọng tài đến Bộ Tư pháp,
trong thời hạn 40 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp cấp
giấy phép thành lập Trung tâm trọng tài và phê chuẩn Điều lệ của Trung tâm trọng tài,
trong trường hợp từ chối, phải trả lời bằng văn bản nêu rõ lý do;
- Hồ sơ đề nghị thành lập Trung tâm trọng tài gồm có các nội dung sau:
+ Đơn xin phép thành lập Trung tâm trọng tài;
+ Họ và tên, địa chỉ, nghề nghiệp của các sáng lập viên;
+ Điều lệ của Trung tâm trọng tài;
+ Văn bản giới thiệu của Hội luật gia Việt nam;
- Đơn xin phép thành lập Trung tâm trọng tài gồm có các nội dung sau:
+ Ngày, tháng, năm viết đơn;
+ Họ và tên, địa chỉ, nghề nghiệp của các sáng lập viên;
+ Lĩnh vực hoạt động của Trung tâm trọng tài:
+ Địa điểm dự định đặt trụ sở của Trung tâm trọng tài;
- Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được Giấy phép thành lập, Trung tâm trọng tài
phải đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp Tỉnh, Thành phố trực thuộc TW nơi Trung tâm
trọng tài đặt trụ sở, hết thời hạn này mà Trung tâm trọng tài không đăng ký thì giấy phép bị
thu hồi.

- Kèm theo đơn kiện nguyên đơn phải gửi bản chính hoặc bản sao thoả thuận trọng tài, bản
chính , bản sao các tài liệu, chứng cứ, bản sao phải có chứng thực hợp lệ.
- Tố tụng trọng tài bắt đầu khi Trung tâm trọng tài nhận được đơn kiện của nguyên đơn
hoặc từ khi bị đơn nhận được đơn kiện của nguyên đơn, nếu vụ tranh chấp được giải quyết
tại Hội đồng trọng tài do các bên thành lập;
Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ khi nhận được đơn kiện, Trung tâm trọng tài phải
gửi cho bị đơn bản sao đơn kiện của nguyên đơn và những tài liệu, chứng cứ;
b. Bản tự bảo vệ:
- Đối với vụ tranh chấp mà các bên đã chọn Trung tâm trọng tài để giải quyết nếu các bên
không có thoả thuận khác thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn kiện và
các tài liệu kèm theo của nguyên đơn do Trung tâm trọng tài gửi đến, bị đơn phải gửi cho
Trung tâm trọng tài bản tự bảo vệ;
- Đối với vụ tranh chấp được giải quyết tại Hội đồng trọng tài do các bên thành lập, nếu
không có thoả thuận khác thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn kiện của
nguyên đơn và các tài liệu kèm theo bị đơn phải gửi cho nguyên đơn bản tự bảo vệ và tên
Trọng tài mà mình lựa chọn.
Bản tự bảo vệ phải gồm có các nội dung sau:
+ Ngày, tháng, năm viết bản tự bảo vệ;
+ Tên và địa chỉ của bị đơn;
- Lý lẽ và chứng cứ để tự bảo vệ trong đơn bao gồm việc phản bác một phần hoặc toàn bộ
nội dung đơn kiện của nguyên đơn. Ngoài những nội dung qui định tại điểm này, nếu bị
đơn cho rằng vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài không có thoả
thuận trọng tài hoặc thoả thuận trọng tài vô hiệu thì có quyền nêu ra trong bản tự bảo vệ.
- Thời hạn bị đơn gửi bản tự bảo vệ kèm theo chứng cứ có thể dài hơn 30 ngày nhưng phải
trước ngày Hội đồng trọng tài mở phiên họp.
c. Thành lập Hội đồng trọng tài:
Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn kiện Trung tâm trọng
tài phải gửi cho bị đơn bản sao đơn kiện, tên Trọng tài viên mà nguyên đơn chọn và các tài
liệu kèm theo cộng với danh sách trọng tài viên của Trung tâm trọng tài;
- Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được tài liệu và các tài liệu kèm theo do Trung

hoặc người được chỉ định không chọn được trọng tài viên thứ 3 làm Chủ tịch Hội đồng
trọng tài;
- Trọng tài viên do các bên chọn hoặc toà án chỉ định có thể là trọng tài viên trong danh
sách hoặc ngoài danh sách trọng tài viên của các trung tâm trọng tài của Việt Nam. Trong
trường hợp các bên có thoả thuận giao vụ tranh chấp do một trọng tài viên giải quyết
nhưng không thoả thuận được việc chọn Trọng tài viên duy nhất thì theo yêu cầu của một
bên Chánh án Toà án nhân dân cấp Tỉnh nơi bị đơn có trụ sở hoặc cư trú giao cho một
Thẩm phán chỉ định Trọng tài viên duy nhất cho các bên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
nhận được yêu cầu và thông báo cho các bên.
- Trọng tài viên duy nhất làm nhiệm vụ như một Hội đồng trọng tài, Quyết định của trọng
tài viên này có hiệu lực thi hành như quyết định của Hội đồng trọng tài.
4.3 Giải quyết tranh chấp:

Trích đoạn Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử trong thời hạn 10 ngày toà án phải mở phiên toà, trong trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn đó không quá 20 ngày. Trình tự thủ tục của phiên toà xét xử Sơ thẩm của vụ án kinh tế cũng tương tự như các phiên toà xét xử sơ thẩm khác, bao gồm thủ tục: bắt đầu phiên toà, xét hỏi tại phiên KẾT QUẢ THỤ LÝ VÀ GIẢI QUYẾT ÁN KINH TẾ TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN Hợp đồng kinh tế vô hiệu và cách giải quyết hợp đồng kinh tế vô hiệu.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status