“Thực trạng tình hình giải quyết tranh chấp kinh tế bằng Toà án và một số giải pháp, kiến nghị" - Pdf 48

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu
Dới quan điểm của các nhà kinh tế học, nền kinh tế thị trờng đã tạo điều kiện
cho việc thu hút các ngành đầu t trong và ngoài nớc để thúc đẩy nền sản xuất hàng
hoá nớc ta phát triển. Song dới quan điểm của các nhà luật học thì chính nền sản
xuất hàng hoá phát triển cao đã làm phát sinh nhiều mối quan hệ kinh tế phức tạp
giữa các đơn vị sản xuất, kinh doanh với nhau. Trong những biểu hiện của nó là các
tranh chấp kinh tế khi mà hai bên không thể thoả thuận đợc. Trong trờng hợp đó,
việc giải quyết tranh chấp này ở đâu? và đợc thực hiện bởi cơ quan nào? để cho các
đơn vị sản xuất, kinh doanh đó yên tâm, tin tởng vào đờng lối phát triển kinh tế
trong thời kỳ đổi mới mà Đảng, Nhà nớc ta đã đặt ra là vấn đề hết sức cần thiết và
cấp bách trong giai đoạn hiện nay ở nớc ta.
Đáp ứng yêu cầu đó, Nhà nớc ta đã thực hiện cuộc cải cách sâu sắc trong việc
tổ chức các cơ quan giải quyết tranh chấp kinh tế. Trong đó có việc thành lập Toà
án kinh tế - một Toà chuyên trách trong Hệ thống Toà án nhân dân có chức năng
giải quyết các tranh chấp kinh tế và giải quyết các yêu cầu tuyên bố phá sản doanh
nghiệp theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Toà án nhân dân đ-
ợc Quốc hội thông qua ngày 28/12/1993 và có hiệu lực ngày 01/07/1994. Từ đó đến
nay, phơng thức giải quyết tranh chấp kinh tế phổ biến nhất, quan trọng nhất là Toà
án.
Sau 7 năm thành lập và hoạt động, các Toà kinh tế thuộc Toà án nhân dân đã
đạt đợc những kết quả nhất định. Tuy nhiên, việc giải quyết tranh chấp kinh tế bằng
Toà án đang đặt ra nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu nhằm hoàn thiện pháp luật
về nội dung và pháp luật về tố tụng cũng nh về tổ chức các Toà kinh tế thuộc Toà án
nhân dân.
1
Xuất phát từ yêu cầu khách quan đổi mới phơng thức giải quyết tranh chấp
kinh tế ở Toà án nhân dân, tôi lựa chọn nghiên cứu vấn đề Thực trạng tình hình
giải quyết tranh chấp kinh tế bằng Toà án và một số giải pháp, kiến nghị"
làm đề tài khoá luận tốt nghiệp.
2. Phạm vi nghiên cứu

tận tình thiết thực của thầy giáo Thạc sĩ Trần Đình Khánh và một số cán bộ công
tác tại Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội. Em xin chân thành bày tỏ lòng
cảm ơn về sự giúp đỡ quý báu đó.
Bài viết chắc chắn sẽ không thể tránh khỏi những khiếm khuyết trong biên
tập cũng nh trong trình bày. Rất mong sự góp ý và phê bình của những ai quan tâm
đến đề tài này.
Ngời thực hiện
Hoàng Thị Lan Anh
3
Chơng I
Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh tế bằng
Toà án ở Việt Nam
1. Tranh chấp kinh tế
Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá, vận hành theo cơ chế thị trờng, với sự
tham gia của nhiều thành phần kinh tế có chế độ sở hữu khác nhau, các quan hệ
kinh tế ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp. Mục đích tìm kiếm lợi nhuận chẳng
những là động lực trực tiếp thúc đẩy quá trình mở rộng các giao lu kinh tế mà còn là
lý do tồn tại của các chủ thể kinh tế.
Cùng với sự phát triển của các quan hệ kinh tế và dới sự tác động của quy
luật cạnh tranh, tranh chấp kinh tế cũng trở nên phong phú hơn về loại hình, phức
tạp hơn về tính chất và quy mô. Chính vì vậy, việc áp dụng hình thức và phơng thức
giải quyết tranh chấp kinh tế phù hợp, có hiệu quả là một đòi hỏi khách quan để bảo
vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh, bảo đảm nguyên tắc
pháp chế xã hội chủ nghĩa. Thông qua đó góp phần tạo môi trờng pháp lý lành
mạnh để thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế của đất nớc.
Tranh chấp kinh tế là tranh chấp biểu hiện những mâu thuẫn hay xung đột về
quyền và nghĩa vụ của các nhà đầu t, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện
dịch vụ trên thị trờng nhằm mục đích sinh lời. Nh vậy, tranh chấp kinh tế có thể
phát sinh trong cả quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội. Tuy nhiên, dù tồn tại dới
hình thức nào và có thể bắt nguồn từ nguyên nhân khách quan và chủ quan khác

ổn định của nền kinh tế. Do đó, việc đổi mới cơ quan giải quyết tranh chấp kinh tế
cho phù hợp với cơ chế kinh tế mới vừa là một đòi hỏi bức xúc của quan hệ kinh tế
thị trờng vừa là một yêu cầu đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Với nội dung khái niệm tranh chấp kinh tế nh trên, có thể nhận thấy các tranh
chấp kinh tế hiện nay là rất đa dạng và phức tạp, các chủ thể của nền kinh tế đợc mở
rộng hơn trớc và phạm vi hoạt động cũng đa dạng hơn trớc. Vì vậy, pháp luật áp
dụng cho việc giải quyết các tranh chấp kinh tế phải linh hoạt và mềm dẻo hơn, các
cơ quan tài phán vừa phải nâng cao trình độ nghiệp vụ của mình, vừa phải thay đổi
phơng thức giải quyết tranh chấp kinh tế cho phù hợp với nền kinh tế mở nh hiện
nay của nớc ta.
5
2. Yêu cầu của việc giải quyết tranh chấp kinh tế bằng Toà án trong
nền kinh tế thị trờng
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII khẳng định: Cơ chế vận
hành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa là cơ
chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các
công cụ khác.
Chính sách đổi mới kinh tế của Đảng đã đợc khẳng định và thể chế hoá trong
các văn bản pháp luật quan trọng của Nhà nớc ta. Cơ chế kinh tế thị trờng đã đợc
Hiến pháp 1992 của nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi nhận thành một
nguyên tắc Hiến định: Nhà nớc phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc, theo định hớng xã hội chủ
nghĩa(Điều 15) và Nhà nớc thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân bằng pháp
luật (Điều 26).
Trên cơ sở các định hớng và nguyên tắc cơ bản đó, công cuộc đổi mới toàn
diện của đất nớc ta đã và đang tạo ra những chuyển biến hết sức quan trọng trong
đời sống kinh tế xã hội. Đất nớc đang bớc dần ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh
tế- xã hội và đạt đợc những thành tựu quan trọng tạo tiền đề tiến hành công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Về căn bản, nền kinh tế nớc ta đợc chuyển từ nền kinh tế sản xuất mang tính

đời sống kinh tế-xã hội nớc ta.
Thời kỳ kinh tế tập trung bao cấp, các tranh chấp kinh tế phát sinh đều đợc
giải quyết thông qua trọng tài kinh tế Nhà nớc - cơ quan trực thuộc Chính phủ.
Chuyển sang nền kinh tế thị trờng xuất hiện hàng loạt tranh chấp kinh tế mới: tranh
chấp giữa Công ty với các thành viên công ty, giữa các thành viên trong công ty,
tranh chấp về mua bán cổ phiếu, trái phiếu... Nhng những tranh chấp kinh tế này lại
vợt quá khả năng, thẩm quyền giải quyết của trọng tài kinh tế Nhà nớc. Vì vậy, Toà
án kinh tế ra đời thay cho trọng tài kinh tế là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn khách
quan của đất nớc.
Nhằm hội nhập vào đời sống kinh tế của các nớc trong khu vực cũng nh trên
thế giới, Đảng và Nhà nớc ta chủ trơng xây dựng một nền kinh tế mở. Theo đó, các
quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng đợc và củng cố và mở rộng, đã thu hút đợc số l-
ợng lớn về vốn, công nghệ... của các nhà đầu t nớc ngoài. Đồng thời thông qua đó,
7
chúng ta nắm bắt đợc các thành tựu khoa học - kỹ thuật tiên tiến và kinh nghiệm
quản lý, kinh doanh của các nớc có nền kinh tế thị trờng phát triển.
Vấn đề đặt ra ở đây là khi mở rộng các quan hệ kinh tế quốc tế chúng ta phải
xem xét và chấp nhận những tập quán thơng mại Quốc tế và các nguyên tắc cơ bản
của luật pháp quốc tế về các lĩnh vực kinh doanh và thơng mại.
Các mối quan hệ kinh tế quốc tế đợc mở rộng đã tác động tích cực vào nền
kinh tế nớc ta làm cho các hoạt động kinh doanh trở nên sôi động và đa dạng hơn.
Đơng nhiên không thể tránh khỏi các tranh chấp kinh tế phát sinh trong lĩnh vực
này. Việc giải quyết tranh chấp kinh tế trong kinh doanh có nhân tố nớc ngoài là
một việc khó và phức tạp. Các chủ đầu t nớc ngoài vào Việt Nam cũng nh các nhà
kinh doanh và đầu t trong nớc đều quan tâm đến sự bảo đảm về mặt pháp lý đối với
hoạt động kinh doanh của mình và pháp luật phải bảo vệ đợc quyền và lợi ích chính
đáng cho họ khi xảy ra tranh chấp kinh tế. Chính vì vậy, khi tiến hành đầu t vào
Việt Nam, ngoài các yếu tố đảm bảo về mặt pháp lý cho hoạt động và hiệu quả kinh
doanh thì các chủ đầu t cũng đặc biệt quan tâm đến việc giải quyết tranh chấp phát
sinh trong hoạt động kinh doanh, giải quyết tranh chấp phải nhanh chóng, thuận lợi

danh nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quy định tại Điều 127 Hiến pháp
năm 1992 về chức năng của Toà án đã đợc cụ thể hoá bằng luật tổ chức Toà án nhân
dân năm 1992 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Toà án nhân
dân, đợc Quốc hội thông qua ngày 28/12/1993. Toà án kinh tế thực hiện chức năng
xét xử các vụ án kinh tế. Khi thực hiện chức năng này, Toà án kinh tế phải căn cứ
vào các quy định của pháp luật, cả pháp luật về nội dung và pháp luật về tố tụng.
Toà án kinh tế thực hiện chức năng xét xử các vụ án kinh tế của mình bằng việc ra
Bản án, quyết định. Các bản án, quyết định của Toà án kinh tế đã có hiệu lực pháp
luật phải đợc các cơ quan nhà nớc, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và mọi công dân
tôn trọng.
Hai là: Chức năng tuyên bố phá sản doanh nghiệp
Toà kinh tế ngoài chức năng xét xử nh các toà khác trong Toà án nhân dân,
Toà kinh tế còn có chức năng tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
Theo Luật phá sản doanh nghiệp đợc Quốc hội thông qua ngày 30/12/1993,
Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng, Toà án tối cao còn có chức
năng giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
9
Tuyên bố phá sản doanh nghiệp là một hoạt động thuần tuý t pháp, là một thủ
tục đòi nợ đặc biệt. Thực hiện chức năng này Tòa án kinh tế bảo vệ lợi ích của cả
chủ nợ lẫn lợi ích của doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng phá sản và lợi ích của
xã hội.
3.2. Nhiệm vụ của Toà án kinh tế
Trong phạm vi chức năng của mình, Toà án có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã
hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo
vệ tài sản của Nhà nớc, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và
nhân phẩm của công dân (Điều 1, Luật tổ chức Toà án nhân dân).
Nh vậy có thể nói rằng, pháp luật đã quy định một cách cụ thể và rõ ràng
nhiệm vụ chính của Toà án nhân dân nói chung và Toà kinh tế nói riêng trong khi
thực hiện chức năng của mình.
Là một trong những cơ quan tố tụng, Toà án phải đảm bảo cho mọi hoạt động

phạm pháp luật, các chế định pháp luật và hệ thống các ngành luật cụ thể. Theo đó
nguyên tắc của thủ tục tố tụng kinh tế là những t tởng pháp lý chỉ đạo chi phối toàn
bộ hệ thống chế định pháp luật trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế,
làm kim chỉ nam định hớng xuyên suốt cho toàn bộ quá trình hoạt động giải quyết
tranh chấp của Toà án kinh tế.
Tất cả các hành vi đợc tiến hành trong quá trình tố tụng nh khởi kiện, ra
quyết định, bản án... đều phải thực hiện trên cơ sở quán triệt các nguyên tắc đã đề
ra. Bất cứ một hành vi nào vi phạm các nguyên tắc của thủ tục tố tụng kinh tế đều đ-
ợc coi là bất hợp pháp và phải bị loại bỏ.
Khi đi vào nghiên cứu các nguyên tắc có thể thấy rõ hoạt động của tố tụng
kinh tế cũng nh các hoạt động tố tụng khác. Trong quá trình giải quyết tranh chấp
kinh tế Toà kinh tế phải tuân theo các nguyên tắc chung về tố tụng đợc quy định
trong Hiến pháp và Luật tổ chức Toà án nhân dân nh: nguyên tắc khi xét xử Thẩm
phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; Toà án xét xử công
khai, xét xử tập thể và quyết định theo đa số, Toà án đảm bảo cho đơng sự đợc dùng
tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình trớc toà... Đây là các nguyên tắc chung về tố
tụng nhng trong tố tụng kinh tế cũng có các nguyên tắc đặc thù riêng. Vì vậy giới
11
hạn trong nội dung của phần này chúng tôi chỉ trình bày một số nguyên tắc cơ bản
của tố tụng kinh tế.
4.1. Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đơng sự
Đây là nguyên tắc cơ bản của tố tụng kinh tế. Nguyên tắc này phát sinh từ
nguyên tắc bảo đảm quyền tự do kinh doanh, Nhà nớc không can thiệp vào các hoạt
động kinh doanh đúng pháp luật. Khi xảy ra tranh chấp, Toà án chỉ tham gia giải
quyết nếu đơng sự có đơn yêu cầu. Việc yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp là
quyền của các chủ thể kinh doanh. Các cơ quan Nhà nớc, tổ chức xã hội không có
quyền khởi kiện, khởi tố các tranh chấp kinh tế.
Quyền tự định đoạt của đơng sự đợc thể hiện ở những nội dung sau:
- Quyền khởi kiện hoặc không khởi kiện
- Quyền xác định phạm vi yêu cầu

triển và hoàn thiện nền kinh tế thị trờng ở nớc ta.
4.3. Nguyên tắc Toà án không tiến hành điều tra mà chỉ xác minh thu
thập chứng cứ
Đây là nguyên tắc mang tính đặc thù của tố tụng kinh tế, theo nguyên tắc này
các đơng sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền lợi của
mình. Toà án không tự điều tra, thu thập chứng cứ nh trong việc giải quyết các vụ
án dân sự.
Trong tố tụng dân sự, nhiều trờng hợp đơng sự là ngời cha thành niên, ngời
có nhợc điểm về thể chất hoặc tâm thần... tức là những ngời này bị hạn chế hoặc
không có năng lực hành vi. Nếu có phát sinh tranh chấp và đợc giải quyết bởi Toà
án thì trong nhiều trờng hợp các đơng sự này không thể tự chứng minh cho các yêu
cầu của mình nên Toà án phải tiến hành điều tra, thu thập thêm chứng cứ.
Còn trong kinh doanh, các nhà kinh doanh phải có đủ một số điều kiện mà
pháp luật quy định cho họ nh: phải từ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi đầy đủ, có
trình độ chuyên môn phù hợp với ngành nghề kinh doanh... Vì thế khi xảy ra tranh
chấp các nhà kinh doanh đều có đủ khả năng để tự thu thập tài liệu chứng cứ chứng
minh nhằm bảo vệ quyền lợi của mình. Mặt khác, trong vụ án kinh tế yêu cầu Toà
án giải quyết là hoàn toàn do đơng sự tự định đoạt một cách chủ động, không có tr-
ờng hợp nào Viện kiểm sát hoặc tổ chức xã hội can thiệp vào việc đa ra yêu cầu
đồng thời làm thay đổi việc cung cấp chứng cứ chứng minh.
13
Việc nâng cao trách nhiệm tự chứng minh của các đơng sự là đảm bảo cho
việc giải quyết các vụ án kinh tế đợc nhanh chóng, chính xác và khách quan. Toà án
chỉ giải quyết trên cơ sở chứng cứ mà đơng sự cung cấp. Toà án không tiến hành xét
hỏi mà nghe các bên trình bày và xác minh chứng cứ. Các bên có quyền và nghĩa vụ
trình bày những gì mà họ cho là cần thiết để chứng minh và bảo vệ quyền lợi của
mình. Trong trờng hợp đơng sự cung cấp chứng cứ cha đầy đủ hoặc chứng cứ đó cha
chính xác thì Toà án sẽ yêu cầu đơng sự cung cấp thêm chứng cứ hoặc xác minh sự
chính xác của chứng cứ.
4.4. Nguyên tắc Toà án chỉ thụ lý đơn kiện khi các bên đã tiến hành th-

4.6. Nguyên tắc Toà án xét xử công khai
Nguyên tắc Toà án tiến hành xét xử công khai là một nguyên tắc Hiến định
của Toà án. Nguyên tắc này đảm bảo cho nhân dân giám sát đợc công việc xét xử
của Toà án, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình xét xử đồng
thời đề cao trách nhiệm của ngời làm công tác xét xử. Qua việc xét xử công khai
này, Toà án có thể tuyên truyền giải thích pháp luật.
Tại phiên Toà các chứng cứ, tài liệu, mọi vật chứng của vụ án đều phải đợc
đọc, xem xét công khai. Nếu ngời tham gia tố tụng vắng mặt phiên Toà vẫn đợc tiến
hành thì phải đọc lời khai của họ trong hồ sơ vụ án...
Tuy nhiên khi xét xử các vụ án kinh tế, pháp luật cho phép Toà án đợc quyền
xét xử kín trong trờng hợp cần giữ bí mật Nhà nớc, hoặc giữ bí mật của đơng sự
theo yêu cầu chính đáng của họ. Đây là một nguyên tắc thể hiện tính mềm dẻo, linh
động của tố tụng kinh tế phù hợp với nhu cầu, tâm lý của các bên đơng sự. Bởi trong
nền kinh tế thị trờng mục đích hàng đầu của các nhà kinh doanh là lợi nhuận thì bí
mật trong kinh doanh ( bí mật nghề nghiệp, phát minh, sáng chế, giải pháp kỹ
thuật...) là những yếu tố đóng vai trò quan trọng trong chiến lợc phát triển và cạnh
tranh của doanh nghiệp. Nhiều khi giá trị tranh chấp trong kinh doanh không thể so
sánh đợc với giá trị của bí mật kinh doanh và hệ quả tất yếu là nhiều doanh nghiệp
không thể bảo vệ đợc quyền lợi của mình thông qua Toà án và họ sẽ tìm đến phơng
thức giải quyết tranh chấp kinh tế khác. Nh vậy sẽ làm ảnh hởng đến chính sách
quản lý kinh tế của Nhà nớc bằng pháp luật.
ở đây Toà án là ngời có thẩm quyền trong việc quyết định đa vụ án ra xét xử
công khai hay xét xử kín.
15
5. Thẩm quyền của Toà án nhân dân trong việc giải quyết tranh chấp
kinh tế
Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Toà án nhân dân đ-
ợc Quốc hội khoá IX kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 28/12/1993, Toà kinh tế là một
Toà chuyên trách nằm trong hệ thống Toà án nhân dân đợc tổ chức ở cấp Toà án
nhân dân tỉnh và Toà án nhân dân tối cao có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp

trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
- Thẩm quyền của Toà án nhân dân tối cao
+ Toà phúc thẩm tiến hành phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ
thẩm của Toà kinh tế thuộc Toà án nhân dân cấp tỉnh bị kháng cáo, kháng nghị và
giải quyết các khiếu nại đối với các quyết định của Toà án nhân dân tỉnh liên quan
đến việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo quy định của pháp
luật trên cơ sở thẩm quyền theo cấp và theo vụ việc đã đợc quy định.
+ Toà kinh tế thuộc Toà án nhân dân tối cao giám đốc thẩm, tái thẩm những
vụ án mà bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của
pháp luật tố tụng. Điều đáng phân biệt là Toà kinh tế Toà án nhân dân tối cao không
có thẩm quyền xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm nh Toà dân sự và Toà hình sự
thuộc Toà án nhân dân tối cao.
+ Uỷ ban thẩm phán, Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xem xét
theo trình tự giám đốc thẩm và tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật của Toà án cấp dới.
Ngoài ra phạm vi thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết các tranh chấp
kinh tế còn có thể dựa trên sự lựa chọn của nguyên đơn. Cụ thể nguyên đơn có
quyền lựa chọn Toà án để yêu cầu giải quyết vụ án trong các trờng hợp sau:
Nếu không biết rõ trụ sở hoặc nơi c trú của bị đơn thì nguyên đơn có thể
yêu cầu Toà án nơi có tài sản, nơi có trụ sở hoặc nơi c trú cuối cùng của bị đơn giải
quyết vụ án.
17
Nếu vụ án phát sinh từ hoạt động của chi nhánh doanh nghiệp thì nguyên
đơn có thể yêu cầu Toà án nơi doanh nghiệp có trụ sở hoặc nơi có chi nhánh đó giải
quyết vụ án.
Nếu vụ án phát sinh do vi phạm hợp đồng kinh tế thì nguyên đơn có thể
yêu cầu Toà án nơi thực hiện hợp đồng giải quyết vụ án.
Nếu các bị đơn có trụ sở hoặc nơi c khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu
cầu Toà án nơi doanh nghiệp có trụ sở hoặc nơi c trú của một trong các bị đơn giải
quyết vụ án.

- Quá trình thơng lợng của các bên
- Yêu cầu đề nghị Toà án xem xét giải quyết.
Đơn kiện phải có chữ ký của nguyên đơn hoặc ngời đại diện của nguyên đơn.
Kèm theo đơn kiện phải có các tài liệu chứng minh cho các yêu cầu của nguyên
đơn.
Thụ lý vụ án kinh tế
Thụ lý vụ án kinh tế là việc Toà kinh tế Toà án nhân dân chấp nhận đơn của
ngời khởi kiện và ghi vào sổ thụ lý của Toà án. Thụ lý vụ án có ý nghĩa pháp lý
quan trọng vì nó đặt ra cho Toà án trách nhiệm giải quyết vụ án.
Điều 33-Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế quy định:
Nếu Toà án xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền của mình thì thông báo ngay
cho nguyên đơn biết. Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận đợc thông báo nguyên
đơn phải nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật và Toà án vào sổ thụ
lý vụ án vào ngày nguyên đơn xuất trình chứng từ về việc nộp tiền tạm ứng án phí.
Toà án sẽ thụ lý vụ án với điều kiện nh sau:
- Ngời khởi kiện có quyền khởi kiện
- Sự việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án
19
- Đơn kiện đợc gửi đúng thời hiệu khởi kiện
- Nguyên đơn đã nộp tạm ứng án phí
- Sự việc cha đợc giải quyết bằng bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp
luật của Toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác.
- Sự việc không đợc các bên thoả thuận trớc là phải giải quyết theo thủ tục
trọng tài.
6.2. Chuẩn bị xét xử
Sau khi thụ lý vụ án, Toà kinh tế phải tiến hành chuẩn bị xét xử. Chuẩn bị xét
xử là một bớc quan trọng trong quá trình tố tụng vì nó quyết định đến chất lợng xét
xử tại phiên toà sau này.
Thời hạn chuẩn bị xét xử là 40 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án. Đối với các vụ
án phức tạp, thời hạn có thể kéo dài nhng không quá 60 ngày (Điều 34 Pháp lệnh

6.3. Phiên toà sơ thẩm
Theo quy định của pháp luật, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày có quyết định
đa vụ án ra xét xử, Toà án phải mở phiên toà; trong trờng hợp có lý do chính đáng
thì thời hạn đó không quá 20 ngày.
Phiên toà sơ thẩm đợc tiến hành dới sự điều khiển của một Hội đồng xét xử
gồm hai thẩm phán và một hội thẩm. Nh vậy, trong Hội đồng xét xử sở thẩm các vụ
án kinh tế, số lợng thành viên là thẩm phán chiếm đa số. Điều này hoàn toàn khác
với Hội đồng xét xử sơ thẩm các vụ án dân sự (Hội đồng xét xử vụ án dân sự có một
thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân) - Khoản 2, Điều 17 Pháp lệnh thủ tục giải
quyết các vụ án kinh tế, khoản 1 Điều 16 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân
sự.
Phiên toà đợc tiến hành dới sự có mặt của các đơng sự, ngời làm chứng, ngời
phiên dịch, ngời giám định và kiểm sát viên (nếu Viện kiểm sát có yêu cầu tham gia
phiên toà).
Phiên toà bị hoãn nếu:
21
- Đơng sự vắng mặt mà cần đợc lấy lời khai hoặc xác minh lại lời khai tại
phiên toà.
- Thành viên Hội đồng xét xử, kiểm sát viên, th ký phiên toà, ngời giám
định, ngời phiên dịch bị thay đổi mà không có ngời thay thế.
Trong trờng hợp đơng sự yêu cầu xét xử vắng mặt họ hoặc đơng sự không
phải là nguyên đơn đã đợc triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì việc xét
xử vẫn đợc tiến hành.
Thủ tục tiến hành phiên toà sơ thẩm đợc pháp luật quy định cụ thể nh sau:
+ Thủ tục bắt đầu phiên toà
+ Thẩm vấn tại phiên toà
+ Tranh luận tại phiên toà
+ Thủ tục nghị án
+ Thủ tục tuyên án
+ Hoàn chỉnh biên bản phiên toà

Theo quy định tại Điều 61 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế:
+ Thời hạn kháng cáo là 10 ngày kể từ ngày Toà án tuyên án hoặc ra quyết
định.
Trờng hợp đơng sự vắng mặt thì thời hạn này tính từ ngày bản sao bản án,
quyết định đợc giao cho họ hoặc đợc niêm yết tại trụ sở Uỷ ban nhân dân xã, phờng,
thị trấn nơi họ có trụ sở hoặc c trú.
+ Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 10 ngày, của Viện
kiểm sát cấp trên là 20 ngày kể từ ngày Toà tuyên án hoặc ra quyết định. Nếu Kiểm
sát viên không tham gia phiên toà thì thời hạn kháng nghị tính từ ngày Viện kiểm
sát cùng cấp nhận đợc bản sao bản án, quyết định.
Thời hạn kháng cáo, kháng nghị quy định nh vậy là đủ để đảm bảo thực hiện
quyền kháng cáo, kháng nghị. Quá thời hạn quy định mà không có kháng cáo,
23
kháng nghị thì mặc nhiên bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật và phải đa ra thi
hành.
- Hậu quả pháp lý của kháng cáo, kháng nghị
Phần bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị thì cha có hiệu lực pháp
luật, phần bản án, quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp
luật (Điều 64 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế).
- Thủ tục kháng cáo, kháng nghị
Đơn kháng cáo, bản kháng nghị đợc gửi đến Toà án cấp sơ thẩm đã giải
quyết vụ án.
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ngời kháng cáo xuất trình chứng từ về
việc nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, hoặc kể từ ngày nhận đợc kháng nghị Toà án
cấp sơ thẩm phải gửi kháng cáo, kháng nghị kèm theo toàn bộ hồ sơ vụ án cho Toà
án phúc thẩm.
Phiên toà phúc thẩm
Trong thời hạn 1 tháng kể từ ngày nhận đủ hồ sơ do Toà án cấp sơ thẩm gửi
đến, Toà án cấp phúc thẩm phải mở phiên toà xét xử. Thời hạn này có thể gia hạn
thêm nếu vụ án có nhiều tình tiết phức tạp.

Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế quy định hai hình thức xét lại
các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đó là thủ tục giám đốc thẩm và thủ
tục tái thẩm. Tuy cùng xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật trên
cơ sở có kháng nghị của ngời có thẩm quyền nhng giám đốc thẩm và tái thẩm là hai
giai đoạn độc lập của tố tụng kinh tế.
6.5.1. Thủ tục giám đốc thẩm
Giám đốc thẩm là một giai đoạn đặc biệt của tố tụng kinh tế. Trong đó Toà
án cấp trên kiểm tra tính hợp pháp, tính có căn cứ đối với những bản án, quyết định
25

Trích đoạn Về phơng diện pháp luật Về các phơng diện khác Một số kiến nghị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status