Lời Nói Đầu
Quá trình đổi mới và hoà nhập của Việt Nam đã đạt đợc những thành
công điều này đã làm cho đất nớc có những chuyển biến đáng kể, nhất là sự
chuyển biến của nền kinh tế. Sự chuyển biến này đã làm cho các quan hệ
kinh tế trở nên sống động đa dạngvà phức tạp hơn - Bản chất của các quan
hệ kinh tế hoạt động với mục tiêu là lợi nhuận, do vậy đối với các doanh
nghiệp thì cạnh tranh và lợi nhuận là hai nhân tố có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau. Doanh nghiệp nào cạnh tranh càng nhiều thì có nhiều cơ hội thu
đợc nhiều lợi nhuận hơn và ngợc lại Doanh nghiệp nào cạnh tranh ít thì sẽ ít
cơ hội hơn dẫn đến ít thu đợc lợi nhuận hơn.
Thực trạng cho thấy trong nớc cạnh tranh ngày càng gay gắt nhất là
cạnh tranh giữa các doanh nghiệp với nhau( giữa các doanh nghiệp trong n-
ớc với nhau , các doanh nghiệp trong nớc với các doanh nghiệp nớc
ngoài).Yêu cầu đặt ra là để hoà giải tranh chấp này thì cơ quan, tổ chức nào
có thẩm quyền đứng ra hoà giải? Đối với nớc ta hiện nay thì phơng thức
giảI quyết tranh chấp chủ yếu là giải quyết theo con đờng toà án kinh tế
giảI quyết bằng con đờng này sẽ làm cho các doanh nghiệp sẽ mất đI uy tín,
bí mật kinh doanh của họ,cho nên họ không muốn sử dụng phơng thức này
mặc dù họ vẫn biết lợi ích của mình vẫn đang bị xâm phạm dẫn đến sân
chơI này không đợc áp dụng rộng rãi. Để đáp ứng nhu cầu này thì Trung
tâm trọng tàI quốc tế Việt Nam đã đợc thành lập bên cạnh phòng thơng mại
và công nghiệp Việt Nam có thẩm quyền giảI quyết các tranh chấp kinh tế
nếu có sự thoả thuận của nguyên đơn và bị đơn. Trên thế giới phơng thức
giảI quyết tranh chấp này đợc áp dụng rất rộng rãI nhng ngợc laị ở Việt
Nam thì phơng thức giảI quyết tranh chấp này vẫn còn có những hạn chế
nhất định do luật pháp của chúng ta cha cho trung tâm trọng tàI quốc tế
Việt Nam những biện pháp có những biện pháp cỡng chế khác.
1
Đề tài môn học. Ngô Bàng Long
TRọng tài kinh tế-một hình thức giải quyết
Trong các loại tranh chấp hiện nay thì tranh chấp kinh doanh là một
trong những loại tranh chấp mang những nét đặc thù gần tựa với hoạt đọng
sản xuất kinh doanh nếu tranh chấp kinh doanh là sự bất đồng, mâu thuẫn
về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể, là yếu tố khách quan trên thơng tr-
ờng thì việc xác định, giải quyết những tranh cháp đó là việc làm không thể
thiếu đợc, nhằm bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia.
Đó là những cách thức, phơng thức để áp dụng giải quyết theo cácquy tắc
chung, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của mọi khu vực, của mỗi quốc
gia.
Khi tranh chấp phát sinh các bên đều có thể tiến hành lựa chọn cho
mình một phơng thức, một phơng pháp giải quyết phù hợp. Tuy luạt pháp
của các nớc có những quy định riêng khác nhau về vấn đề này, song tựu
chung lại hiện nay có 3 hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh cơ bản
đó là:
+ Giải quyết thông qua thơng lợng hoà giải giữa các bên.
+Giải quyết thông qua con đờng toà án.
+giải quyết bằng phơng pháp trọng tài.
Mỗi một hình thức giải quyết có những nét đặc thù riêng biệt,thể hiện rõ
bản chất của nó. Tuy nhiên trong điều kiện kinh tế thị trờng phát triển hiện
nay, xu hớng giải quyết bằng trọng tài ngày càng đợc các nhà kinh doanh
áp dụng.
3.Sự ra đời của trọng tài kinh tế ở Việt nam.
Trọng tài kinh tế xuất hiện và phát triển cùng với sự phát triển của
chế độ hợp đồng kinh tế. Năm 1960, sau khi cuộc khôI phục kinh tế hoàn
thành thắng lợi, đã cảI tạo cơ bản xong nền kinh tế , thủ tớng chính phủ đã
ban hành NĐ số 04/TTg ngày 4/1/1960 ban hành kèm theo điều lệ tạm thời
về hợp đồng kinh tế . Mời ngày sau đó, TTg cũng ban hành NĐ số 20/Ttg
ngày 14/1/1960 về việc tổ chức ngành trọng tàI kinh tế, theo nghị định này
trọng tài kinh tế đợc tổ chức ở cấp Trung Ương, khu, thành phố, tỉnh và Bộ
với chức năng chủ yếu là xét xử các tranh chấp hợp đồng kinh tế và nguyên
-Tuyên truyền , hớng dẫn thực hiện pháp luật hợp đồng kinh tế và
trọng tài kinh tế .
-Bồi dỡng nghiệp vụ công tác hợp đồng kinh tế và trọng tài kinh tế .
Chức năng và nhiệm vụ của trọng tài kinh tế đợc thực hiện chủ yếu thông
qua hai hình thức hoạt động chủ yếu đó là hoạt động kiểm tra xử lý và hoạt
động xét xử.
4
Đề tài môn học. Ngô Bàng Long
Trọng tài kinh tế là cơ quan quản lý có chức năng quản lý kinh tế , nên
hoạt động của trọng tài kinh tế phần lớn tập trung vào việc kiểm tra hoatj
động kinh tế nhằm giám sát việc tuân thủ pháp luật của các đơn vị kinh tế
trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế. Còn hoạt động xét xử của
trọng tài kinh tế đối với những hành vi ,vi phạm hợp đồng kinh tế vừa rất
ít , vừa kém hiệu lực thi hành vì thiếu tính cỡng chế.
II.Tổ chức và hoạt động của trọng tài kinh tế .
1.Thẩm quyền của trọng tài kinh tế.
Trọng tài kinh tế có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp sau:
Tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân , giữa doanh
nhân với doanh nghiệp t nhân, giữa doanh nghiệp t nhân với doanh nghiệp
t nhân và giữa pháp nhân, doanh nghiệp t nhân với cá nhân kinh doanh.
Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty , giữa các
thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động,
giảI thể công ty nh tranh chấp đòi rút vốn ra khỏi công ty, phân chia lãI lỗ,
nhập, tác, giảI thể công ty về quyền và nghĩa vụ của thành viên công ty.
Tranh chấp liên quan đến việc mua ,bán cổ phiếu -tráI phiếu.
2.Tiêu chuẩn trọng tàI viên.
Trong tàI viên là ngời có trình độ đại học luật hoặc tơng đơng đại học
luật và có ít nhất 8 năm liên tục làm công tác pháp luật và kinh tế.
Những ngời không có đủ điều kịên trên hay có đủ điều kiện đó nhng lại
Trung tâm trọng tàI gồm có chủ tịch, phó Chủ tịch và th ký trung
tâm trọng tàI.
-Chủ tịch trung tâm trọng tàI có quyền hạn và nhiệm vụ chính sau:
Quản lý , điều hành hoạt động của trung tâm và đại diện cho trung
tâm trong quan hệ với bên ngoàI. Chỉ định trọng tàI viên giảI quyết tranh
chấp khi đợc yêu cầu, quyết định kết nạp, khai trừ trọng tàI viên theo đề
nghị của ít nhất 2/3 số trọng tàI viên của trung tâm. Nhiệm kỳ không quá 3
năm.
-Phó chủ tịch trung tâm trọng tàI giúp chủ tịch trung tâm trọng tàI
thực hiện các công việc theo sự phân công của chủ tịch trọng tài. Nhiệm kỳ
không quá 3 năm và có thể đợc táI cử nếu điều lệ của trung tâm trọng tàI
không có quy định khác.
6
Đề tài môn học. Ngô Bàng Long
-Th ký trung tâm trọng tàI do chủ tịch trung tâm chỉ định giúp chủ
tịch và các phó chủ tịch trong việc tiếp nhận đơn, gửi giấy tờ cho các tổ
chức cá nhân có liên quan, thu lệ phí trọng tàI, lu trữ, bảo quản
5. Ưu nhợc điểm của việc giảI quyết tranh chấp kinh doanh bằng phơng
pháp trọng tài.
a.Ưu điểm:
Một trong những nội dung quan trọng của nguyên tắc tự do kinh
doanh trong nền kinh tế thị trờng là sự tự do lựa trọn hình thức và phơng
thức giảI quyết tranh chấp. Song trong tất cả các hình thức giảI quyết tranh
chấp kinh doanh theo thông lệ chung thì hình thức phổ biến và rộng rãI nhất
ở các nớc có nền kinh tế thị trờng là trọng tài. nguyên nhân chính là việc
giảI quyết tranh chấp thông qua trọng tàI có những u điểm nổi bật mà các
hình thức khác không có đợc. Cụ thể là:
-Các bên tham gia tranh chấp đợc đảm bảo tối đa về quyền tự do định
doạt ở nhiều phơng diện nh: Lựa chọn trọng tàI viên, địa điểm, phơng thức
đời.Theo công ớc này một khi phán quyết trọng tàI của một nớc thành viên
theo công ớc đợc gửi đến toà án của một nớc thành viên khác thì toà án nay
phải công nhận và cỡng chế bên đơng sự liên quan trong vụ việc thực hiện
phán quyết đó. Sở dĩ nh vậy là vì trọng tàI phi chính phủ không có khả năng
cỡng chế các bên đơng sự trong việc thi hành các yêu cầu và quyết định
trọng tàI. Đây là hạn chế lớn nhất của trọng tàI phi chính phủ.
-Thủ tục trọng tàI rất phiền phức. Việc thành lập một hội đồng trọng tàI để
xét xử phảI qua nhiều công đoạn. Mỗi công đoạn là một sự lựa chọn thoả
thuận. Chính vì vậy, quá trình thành lập hội đồng trọng tàI hay dẫn dến chỗ
bế tắc khi không đạt đợc thoả thuận tơng ứng.
-Khả năng kiểm tra các quyết định của trọng tàI rất hạn chế. Bởi vì tổ chức
trọng tàI phi chính phủ không thiết lập một cơ chế để tạo sự kiểm tra, giám
sát các quyết định của trọng tàI nh trong tố tụng t pháp. Tố tụng trọng tàI
chỉ xét xử một lần, phán quyết là chung thẩm. Do vậy, trong một số trờng
hợp có sự không công bằng giữa các bên.
Tóm lại, mặc dù còn tồn tại một số nhợc điểm cha đợc khắc phục nh-
ng hình thức trọng tàI vẫn đợc các nhà kinh doanh biết đến và tin dùng.
Mong rằng trong tơng lai việc giảI quyết tranh chấp giữa các chủ thể kinh
doanh bằng phơng pháp trọng tàI phi chính phủ ngày càng đợc sử dụng
nhiều hơn.
8
Đề tài môn học. Ngô Bàng Long
II. Các hình thức trọng tài trên thế giới.
+Xét về tình chất phụ thuộc vào nhà nớc, các tổ chức trọng tài có hai loại:
*Trọng tài chính phủ.
*Trọng tài phi chính phủ.
Trọng tài chính phủ là một tổ chức trọng tài do chính phủ thành lập, trọng
tài viên là ngời đợc hởng lơng nhà nớc về công việc xét xử.
Trọng tài phi chính phủ là tổ chức trọng tài hoặc do bản thân các trọn tài
2. Trọng tài quy chế :
Là tổ chức trọng tài hoạt động thờng xuyên, trên cơ sở một quy chế
định sẵn. Nó xét sử hết vụ kiện này đến vụ kiện khác theo quy tắc tố tụng
của nó.
Ví dụ: Trọng tài thơng mại Stonkolm đợc thành lập trên cơ sở quy
chế về trọng tài ban hành năm 1917, và năm 1949 đợc xây dựng thành một
cơ quan độc lập của phòng thơng mại Stockolm đợc tổ chức lại thành một
cơ quan trọng tài đầy đủ điều kiện có thể giải quyết cả tranh chấp kinh tế
mạng tính chất quốc tế.
Để đạt đợc một thoả thuận trọng tài, ngời ta có thể áp dụng một số
loại thủ tục tố tụng trọng tài khác nhau. Trọng tài ad-hoc và trọng tài quy
chế là hai trong số các mô hình tố tụng đó.
Trong giai đoạn chuẩn bị một thoả thuận trọng tài, trớc hết và cơ bản
nhất cần lựa chọn xem thủ tục trọng tài sẽ đợc áp dụng là trọng tài ad-hoc
hay trọng tài quy chế.
- Trong nhiều hình thức trọng tài an-hoc có một số phơng thức khác
nhau và nếu chọn hình thức trọng tài an-hoc thì các bên phải tiếp tục lựa
chọn một trong số các hình thức đó. Khi lựa chọn hình thức trọng tài ad-
hoc, các bên tham gia trọng tài có thể hoạch định những nguyên tắc riêng
của mình vè trình tự thủ tục tố tụng cho phù hợp với tranh chấp của họ hoặc
thay vào đó, họ có thể chấp nhận một hệ thống quy định mẫu về trọng tài .
Đó là bản Quy định về trọng tài của Uỷ ban Liên hợp quốc về Luật th-
ơng mại quốc tế ( UNCITRAL).
Tuy nhiên, nếu vì một lý do gì đó mà ngời ta chọn hình thức trọng tài
ad-hoc , ngời ta sẽ tiết kiệm thời gian bằng cách đa một số quy định sẵn có
cho hình thức trọng tài này vào trong thoả thuận về hình thức trọng tài ad-
10
Đề tài môn học. Ngô Bàng Long
hoc mà đợc áp dụng riêng cho hợp đồng đó. Mặc dù điều này đơng nhiên sẽ
đồng quan trọng, nhằm lờng trớc các tranh chấp có thể phát sinh trong tơng
11
Đề tài môn học. Ngô Bàng Long
lai, ngời ta có thể lựa chọn hình thức lựa chọn hình thức trọng tài chính thức
trừ khi có những lý do chính đáng để không lựa chọn hình thức này. Sở dĩ
nh vậy là vì trọng tài ad-hoc phải bàn luận đến nhiều vấn đề song kết quả
bàn luận ấy chỉ đợc dùng vào một vụ kiện mà thôi. Trong khi đó trọng tài
chính thức lại có những đặc điểm u việt hiển nhiên, đặc biệt là đối với
những thoả thuận có khả năng phát sinh trach chấp cần phải đa ra trọng tài.
Hình thức trọng tài này có thể giải quyết mọi vấn đề bất ngờ mới nảy sinh.
Các quy định trọng tài chính thức bao quát toàn bộ quá trình tốtụng trọng
tài từ khi bắt đầu tiến hành tố tụng đến lúc kết thúc kể cả trong trờng bên bị
đơn tỏ ra bất hợp tác với trọng tài.
Tóm lại, xuất phát từ sự thuận tiện và tiết kiệm chi phí ngày nay trên
thế giới, ngời ta có khuynh hơng sử dụng trọng tài hơn là sử dụng toà án,
thích dùng trọng tài phi Chính phủ hơn trọng tài Chính phủ và thích dùng
trọng tài chính thức hơn là trọng tài vụ việc .
III/ Một số nét cơ bản trong tố tụng trọng tàI kinh tế.
1.Nhận đơn.
Khi giảI quyết tranh chấp, nguyên đơn phảI gửi cho trung tâm trọng tàI
kinh tế văn bản thoả thuận giữa các bên về việc đa vụ tranh chấp ra giảI
quyết tại trung tâm trọng tài kinh tế đó . Nội dung của đơn yêu cầu phảI
đúng theo quy tắc tố tụng của pháp luật quy định. Kèm theo đơn yêu cầu,
nguyên đơn phảI gửi cho trung tâm trọng tài kinh tế các tàI liệu cần thiết để
chứng minh cho yêu cầu của mình.
Khi gửi đơn yêu cầu,nguyên đơn phảI nộp tiền tạm ứng lệ phí trọng tàI. Lệ
phí trọng tàI đợc ấn định theo khung lệ phí do bộ tàI chính và bộ t pháp quy
định. Lệ phí trọng tàI do ngời thua kiện trả, nếu các bên không có thoả
thuận khác.
việc giải quyết tranh chấp. Theo yêu cầu của một hoặc các bên, hoặc theo
sáng kiến của mình, trọng tài viên có thể nghe các bên trình bày ý kiến.
Trọng tài viên cũng có thể tìm hiểu sự việc từ những ngời khác với sự có
mặt của các bên hoặc sau khi đã báo cáo cho các bên biết.
Theo yêu cầu của các bên trọng tài viên có thể trng cầu giám định. Khi cần
thiết trọng tài viên có thể yêu cầu các bên cung cấp các bản giảI thích, các
bằng chứng và tàI liệu khác có liên quan.
Trong quá trình giải quyết tranh chấp, tiếng, chữ viết phảI sử dụng bằng
tiếng việt. Các bên có thể yêu cầu trung tâm trọng tài kinh tế mời phiên
13
Đề tài môn học. Ngô Bàng Long
dịch hoặc tự mời phiên dịch, nhng phảI đợc trung tâm trọng tài kinh tế chấp
thuận. Bên yêu cầu phảI trả chi phí cho phiên dịch. Khi quyết định, hội
đồng trọng tài biểu quyết theo đa số. Trọng tài có thể ra các phán quyết tạm
thời. Mọi diễn biến của phiên họp, giải quyết tranh chấp phảI đợc th ký
trung tâm trọng tài kinh tế ghi thành biên bản và biên bản phảI đợc các
trọng tài và th ký cùng ký.
Hội đồng trọng tàI hoặc trọng tài viên có thể ra quyết định giải quyết từng
phần của vụ tranh chấp, nếu điều đó là hợp lý. Quyết định trọng tài phảI có
chữ ký của tất cả các trọng tài viên.
Quyết định trọng tài đợc công bố cho các bên ngay khi kết thúc phiên họp
hoặc có thể công bố sau nhng chậm nhất là 5 ngày kể từ ngày kết thúc
phiên họp. Quyết định trọng tài đợc gửi cho các bên trong vòng 3 ngày kể
từ ngày ra quyết định.
Trong quá trình giảI quyết tranh chấp, nếu các bên thoả thuận bằng thơng l-
ợng thi hội đồng trọng tài hoặc trọng tài viên chấm dứt việc giải quyết. Các
bên có thể yêu cầu chủ tịch trung tâm trọng tài kinh tế xác định sự thoả
thuận đó bằng văn bản. Văn bản này có giá trị nh quyết định trọng tàI.
Trong trờng hợp quyết định trọng tài không đợc một bên chấp hành thì bên