Trần Thị Tú Anh – QT33D041
MỤC LỤC
A.L I NÓI U ...................................................................................................... 1
I. NH NG NH N NH CHUNG V TR NG T IÀ .......................................... 1
1. TR NGỌ TÀI VÀ TH MẨ QUY NỀ XÉT XỬ C AỦ TR NGỌ TÀI ........................................................................................................... 1
1.3. Thẩm quyền xét xử của trọng tài ....................................................................................................................... 3
2. THỦ T CỤ TỐ T NGỤ TR NGỌ TÀI .......................................................................................................................................... 5
2.1. Thủ tục tố tụng trọng tài ................................................................................................................................... 5
2.3. Ưu thế của việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài so với toà án ................................................................. 7
3. PHÁN QUY TẾ TR NGỌ TÀI .................................................................................................................................................. 8
3.1. Khái niệm phán quyết trọng tài ........................................................................................................................ 8
3.2. Hiệu lực của phán quyết trọng tài .................................................................................................................... 8
4. THI HÀNH PHÁN QUY TẾ TR NGỌ TÀI .................................................................................................................................... 9
4.1. Thi hành phán quyết trọng tài trong nước ........................................................................................................ 9
II. TH C TI N GI I QUY T TRANH CH P TH NG M I B NG
TR NG T I VI T NAM V M T S KI N NGH CÓ LIÊN QUANÀ À ... 11
1. QUI NHĐỊ HI NỆ HÀNH VỀ TR NGỌ TÀI Ở VI TỆ NAM ........................................................................................................... 11
3. Thực tiền giải quyết tranh chấp thương mại tại VIAC ....................................................................................... 12
4. M TỘ SỐ KI NẾ NGHỊ IĐỐ V IỚ CÁC TRUNG TÂM TR NGỌ TÀI Ở VI TỆ NAM ................................................................................ 13
5. Kiến nghị đối với các doanh nghiệp khi giải quyết tranh chấp bằng trọng tài .................................................. 13
K T LU N ............................................................................................................. 15
A. LỜI NÓI ĐẦU
Phương pháp giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại đã và đang phát triển
và phổ biến ở tất cả các nước trên thế giới theo nền kinh tế thị trường và xu hướng sử dụng
các biện pháp ngoài toà án (ADR) đã mang tính toàn cầu. Việt Nam cũng không nằm ngoài
xu hướng đó. Trọng tài Việt nam tuy đã ra đời từ rất lâu song hoạt động chưa có hiệu quả
do cơ chế pháp luật về trọng tài còn nhiều bất cập và một phần do các thương nhân chưa
hiểu rõ về cách giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Mới đây, Quốc hội Việt Nam đã ban
hành Luật trọng tài thương mại 2010 nhằm khắc phục những thiếu sót về luật từ trước tới
nay, tạo điều kiện cho trọng tài thương mại ở nước ta phát triển. Trong điều kiện đó, tôi đã
Từ đó, rút ra khái niệm trọng tài thương mại là quá trình giải quyết tranh chấp phát
sinh trong lĩnh vực thương mại do các bên tự nguyện lựa chọn trong đó bên thứ ba trung lập
(trọng tài) sau khi nghe các bên trình bày sẽ đưa ra một quyết định (phán quyết trọng tài) có
tính chất bắt buộc đối với các bên tranh chấp
1.2 Các loại trọng tài
Trong những năm gần đây, số lượng những vụ tranh chấp trong thương mại quốc tế
được giải quyết bằng trọng tài ngày càng tăng. Các tổ chức trọng tài phi chính phủ đã phát
triển mạnh mẽ chưa từng thấy ở khắp các nơi trên thế giới, đặc biệt là ở khu vực Châu Á-
Thái Bình Dương, nơi được coi là khu vực phát triển kinh tế năng động nhất trên thế giới. Ở
các quốc gia khác nhau, trọng tài thương mại phi chính phủ có những tính chất, đặc điểm
khác biệt, phù hợp với trình độ và đặc điểm phát triển kinh tế –xã hội của mỗi nước. Tuy
vậy, nhìn chung, chúng ta có thể chia trọng tài kinh tế phi chính phủ ra làm hai loại chính
dựa trên phương pháp tiến hành tố tụng:
* Trọng tài vụ việc (Ad-hoc arbitration)
Trọng tài vụ việc là loại hình trọng tài mà do các bên tự thành lập để giải quyết vấn
đề họ yêu cầu, sau khi giải quyết xong vụ tranh chấp thì giải tán. Như vậy, trọng tài đặc
biệt hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự do thoả thuận của các bên tranh chấp. Các bên tranh
chấp có toàn quyền lựa chọn bất kỳ một người nào làm trọng tài viên để giải quyết tranh
chấp của mình. Người này chỉ cần được các bên nhất trí chứ không bị giới hạn bởi bất kỳ
một điều kiện nào nhưng nếu các bên thống nhất lựa chọn một người không đủ khả năng thì
chính họ là người sẽ phải gánh chịu hậu quả do sự đề cử của mình đem lại. Do đó, trọng tài
viên thường là người có uy tín, kinh nghiệm, tinh thông nghiệp vụ trong lĩnh vực thương
mại quốc tế và công minh trong xét xử. Ngoài ra, các bên tranh chấp còn có toàn quyền
trong việc thoả thuận để tự thiết lập những thủ tục, nguyên tắc tố tụng riêng sao cho phù
hợp với tranh chấp của mình chứ không nhất thiết phải tuân theo bất kỳ một nguyên tắc sẵn
2
Trần Thị Tú Anh – QT33D041
có nào. Nhưng họ cũng có thể thoả thuận chấp nhận một hệ thống quy định mẫu về trọng
tài, điển hình như Bản quy tắc trọng tài của UNCITRAL thông qua ngày 28/4/1976 hay
28/4/1993, trên cơ sở hợp nhất Hội đồng trọng tài hàng hải và Hội đồng trọng tài ngoại
thương. Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam có nhiệm vụ xét xử các tranh chấp phát sinh
từ quan hệ kinh tế quốc tế và từ ngày 15/4/1996, Trung tâm được phép mở rộng thẩm quyền
xét xử sang các quan hệ kinh tế phát sinh trong nước. Trung tâm hoạt động theo điều lệ
riêng, xét xử theo quy tắc tố tụng riêng và là tổ chức trọng tài thương mại có uy tín nhất
hiện nay ở Việt Nam.
1.3. Thẩm quyền xét xử của trọng tài
Ở các nước trọng tài được lập ra để xét xử các tranh chấp phát sinh trong thương mại và
nhiều lĩnh vực khác. Nhưng đối với một tranh chấp cụ thể thì trọng tài không có thẩm
quyền đương nhiên. Trọng tài chỉ có thẩm quyền xét xử khi các bên giao tranh chấp trong
3
Trần Thị Tú Anh – QT33D041
thương mại cho trọng tài giải quyết chứ trọng tài không thể tự mình đem tranh chấp ra xét
xử. Trong hoạt động ngoại thương, thẩm quyền xét xử của trọng tài đối với các tranh chấp
cụ thể có thể được quy định trong hợp đồng, trong một văn bản thoả thuận riêng về trọng tài
giữa các bên, hoặc trong điều ước quốc tế có liên quan.
Theo thoả thuận trọng tài
Thoả thuận trọng tài là thoả thuận giữa các bên cam kết đưa ra trọng tài để giải quyết tất cả
hoặc một số loại tranh chấp phát sinh giữa họ với nhau về một quan hệ pháp luật nhất định,
theo hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng. Thoả thuận trọng tài có thể dưới dạng một điều khoản
trọng tài trong hợp đồng hoặc một văn bản thoả thuận riêng (điều 7.1 Luật mẫu
UNCITRAL).
Trong khi đàm phán, ký kết hợp đồng, các bên có thể thoả thuận điều khoản về trọng
tài, trong đó qui định trọng tài nào có quyền giải quyết tranh chấp có thể phát sinh sau này.
Điều khoản trọng tài này trở thành một phần của hợp đồng. Khi đó, điều khoản trọng tài
trong hợp đồng được coi là một hình thức của thoả thuận trọng tài. Tất nhiên, vào lúc này
chưa thể xác định được tranh chấp có xảy ra hay không và xảy ra tranh chấp gì. Vì vậy, điều
khoản trọng tài thường mang tính tổng quan, không đi vào chi tiết, tuy nhiên sẽ rất thuận lợi
nếu các bên thống nhất về việc chọn cơ quan trọng tài nào, ở đâu có thẩm quyền giải quyết
thuận trọng tài phải được làm bằng văn bản, bao gồm cả những hình thức như thư từ, tài
liệu trao đổi giữa các bên. Những qui định không giống nhau này làm phát sinh khó khăn
trong việc giải quyết tranh chấp khi có sự xung đột pháp luật về hình thức của thoả thuận
trọng tài.
Thoả thuận trọng tài sẽ là vô hiệu khi trái với qui định của pháp luật về nội dung và
hình thức của thoả thuận. Ngoài ra thoả thuận sẽ không có hiệu lực khi người kí kết thoả
thuận không có đủ năng lực hành vi theo qui định của luật pháp.
Theo điều ước quốc tế
Việc giao tranh chấp cho trọng tài thương mại xét xử cũng có thể được quy định trong
các điều ước quốc tế. Trước đây, trong Điều kiện chung giao hàng giữa các nước thành viên
khối SEV qui định trọng tài của bên bị kiện có thẩm quyền xét xử tranh chấp giữa các bên
mua bán hàng hoá. Hiện nay, bản Điều kiện chung giao hàng này không còn hiệu lực nữa.
Trong các điều ước quốc tế hai bên hay nhiều bên đang có hiệu lực không có qui định về
thẩm quyền của trọng tài. Từ đó rút ra thẩm quyền của trọng tài hiện nay chỉ do các bên
đương sự lập ra.
Ngoài việc chấp nhận xét xử tranh chấp ra, trọng tài còn có thể từ chối không xét xử
tranh chấp mặc dù hai bên tranh chấp có thoả thuận đưa tranh chấp ra xét xử tài cơ quan
trọng tài. Đây có thể là những trưòng hợp trọng tài xét thấy rằng tranh chấp đó không thuộc
thẩm quyền của mình hoặc thoả thuận trọng tài vô hiệu do qui định pháp luật của một trong
hai bên tranh chấp mà họ không biết.
2. Thủ tục tố tụng trọng tài
2.1. Thủ tục tố tụng trọng tài
Thủ tục tố tụng trọng tài thương mại quốc tế được tiến hành theo đúng quy tắc tố
tụng của tổ chức trọng tài hoặc quy tắc tố tụng mà hai bên đã thống nhất lựa chọn. Mỗi
trung tâm trọng tài thương mại quốc tế ở một nước đều xây dựng cho mình một bản qui tắc
tố tụng phù hợp với đặc điểm luật pháp về trọng tài của nước đó. Tuy nhiên, để tăng sự hấp
dẫn của các trung tâm trọng tài quốc tế và để thuận tiện cho việc xét xử và công nhận phán
quyết trọng tài, hầu hết quy tắc tố tụng của các trung tâm trọng tài quốc tế đều có xu thế
xích lại gần với quy tắc của trọng tài ICC và quy tắc của Luật mẫu UNCITRAL. Quá trình
tố tụng tại trọng tài quốc tế thường bao gồm các bước như: đơn kiện, chọn và chỉ định trọng
thể bị từ chối nếu có thể gây nên những nghi ngờ chính đáng về sự công minh và tính độc
lập khách quan của mình, hoặc khi trọng tài viên không đủ điều kiện và trình độ chuyên
môn như các bên đã thoả thuận.” Quy tắc trọng tài của tung tâm trọng tài quốc tế Singapore
cũng quy định: bất kỳ trọng tài viên nào cũng có thể bị khước từ,.. một bên chỉ có thể khước
từ trọng tài viên do chính mình chỉ định. Phù hợp với thông lệ quốc tế, quy tắc tố tụng
VIAC cũng có những quy định tương tự. Điều 11 quy tắc tố tụng VIAC cũng quy định:
“Các bên đương sự có quyền khước từ trọng tài viên… nếu đương sự nghi ngờ về sự vô tư
của trọng tài viên.”
Sau khi thành lập hội đồng trọng tài, hoạt động tố tụng trọng tài sẽ được tiếp tục với
thủ tục chuẩn bị xét xử. Địa điểm xét xử và ngôn ngữ xét xử cũng là một trong những yếu
tố quan trọng trong quá trình tố tụng, chi phí đi lại và phiên dịch có thể sẽ là không nhỏ nếu
các bên không khôn khéo trong vấn đề này. Tuy nhiên, nếu các bên không thể thống nhất
được vấn đề này thi Hội đồng xét xử sẽ quyết định.
Trong tố tụng trọng tài, nguyên đơn phải ứng trước lệ phí trọng tài theo quy định của
biểu phí trọng tài. Lệ phí trọng tài của các trung tâm trọng tài được quy định trong biểu phí
trọng tài căn cứ theo trị giá vụ kiên.
Trong quá trình tố tụng trọng tài, tính khách quan và việc xét xử công bằng phải được đảm
bảo. Hội đồng trọng tài xét xử không được có thành kiến với các bên khi tố tụng, các bên
phải được đối xử bình đẳng và được quyền trình bày về vụ việc. Các bên tranh tụng phải
được thông báo về việc mở phiên xử và có quyền tranh luận trực tiếp, đưa ra mọi phương
tiện chứng minh để bảo vệ lý lẽ của mình.
Tố tụng trọng tài sẽ được đình chỉ nếu các bên đạt được sự hoà giải. Biên bản hoà
giải (nếu được uỷ ban trọng tài chấp thuận) sẽ trở thành phán quyết trọng tài về điều kiện
được thoả thuận. Phán quyết này có giá trị hiệu lực như phán quyết về nội dung vụ kiện.
6