các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại và thực tiễn ap dụng taị Việt Nam - Pdf 27

suMỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................trang
1. Tính cấp thiết của đề tài ...............................................................1
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.................................................2
3. Phạm vi nghiên cứu ......................................................................2
4. Phương pháp nghiên cứu ..............................................................3
5. Cơ cấu của niên luận ....................................................................3
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ CÁC PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH
CHÂP KINH DOANH - THƯƠNG MẠI ......................................................4
1.1.Khái quát về tranh chấp kinh doanh thương mại ............................4
1.1.1.Khái niệm và đặc điểm .........................................................4
1.1.2.Các hình thức giải quyết tranh chấp KDTM .......................6
1.2.Quy định của pháp luật về các phương thức giải quyết tranh chấp trong
KDTM ..........................................................................................................15
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THƯƠNG MẠI VIỆT
NAM VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT GÓP PHẦN HOÀN THIỆN .....................18
2.1.Thực trạng áp dụng các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thương mại tại Việt Nam ..............................................................................18
2.1.1.Tinh hình kinh tế xã hội ở Việt Nam..................................18
2.2.2.Thực tiển hoạt động giải quyết tranh chấp ở Việt Nam trong thời
gian qua.........................................................................................................19
2.2.Một số đề xuất.............................................................................26
KẾT LUẬN .................................................................................................28
TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................29
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế Việt Nam đã và đang phát triển với tốc độ rất đáng lạc
quan theo cơ chế thị trường. Sau hơn 20 năm đổi mới và mở cửa đã có
những chuyển biến tích cực, hợp tác và giao lưu thương mại ngày càng

quyết tranh chấp trong lĩnh vực KDTM hiện nay là yêu cầu chính đáng để
nhìn nhận rõ hơn về tính hiệu quả của việc áp dụng các quy phạm pháp luật,
đồng thời là cơ sở để đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm góp phần hoàn thiện
khung pháp lý cho hoạt động KDTM nước nhà.
Xuất phất từ lý do trên, em đã chọn đề tài “các phương thức giải
quyết tranh chấp kinh doanh thương mại và thực tiễn ap dụng taị Việt
Nam” để làm đề tài niên luận của mình.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: niên luận đề cập đến những nét chính về các
phương thức giải quyết tranh chấpểtng linh vực KDTM tại Viẹt Nam, những
quy định của pháp luật Việt Nam trong việc giải quyết các tranh chấp phát
sinhtrong hoạt động KDTM và thực trang giải quyết các tranh chấp đó hiện
nay ở Việt Nam.
Phạm vi nghiêm cứu: Nghiên cứu các văn bản pháp luật về việc giải
quyết các tranh chấp trong linh vực KDTM như pháp lệnh Trọng tài thương
mại năm 2003, luật thương mại năm 2005, bộ luật tố tụng dân sụ năm 2004;
các văn bản pháp luật lien quan và các văn bản hương dẫn thi hành. Đồng
thời tìm hiểu thực trạng giải quyết tranh chấp hiện nay trong lĩnh vực
KDTM tại Việt Nam để làm rõ các yêu cầu của đề tài đặt ra.
3. Phạm vi nghiên cứu
3
Đề tài có mục đích tìm hiểu các quy định của pháp luật hiện hành về
giải quyết tranh chấp trên lĩnh vực KDTM tại Việt Nam; tìm hiểu thực trạng
của việc giả quyết các tranh chấp phát sinh trên linh vực KDTM. Từ nhữnh
nghiên cứu đó ngườ thực nhiệ đề tài muốn trình bày quan điểm của mình về
nhưng yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh
chấp trong linh vực KDTM ở nước ta hiện nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Người viết niên luận sử dung phương pháp luận khoa học của chủ
nghĩa mac- lênin về vấn đề nhà nước và pháp luật để nghiên cứu và thực

ban hành cụ thể hơn quy định về các tranh chấp được gọi là các tranh chấp
kinh tế. Pháp lệnh giải quyết các vụ án kinh tế ngày 16/3/1994 và nghị định
số 116/CP ngày 5/9/1994 cũng đã liệt kê các tranh chấp kinh tế thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án kinh tế và Trọng tài kinh tế.
Các tranh chấp kinh tế được các văn bản pháp luật thời kỳ này xác định,
bao gồm:
Thứ nhất, các tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữi phấp nhân với pháp
nhân, giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh.
5
Thứ hai, các tranh chấp giữa các thành viên công ty với công ty; tranh
chấp giữa thành viên công ty với nhau trong quá trình thành lập, hoạt động và
giải thể công ty.
Thứ ba, tranh liên quan đến việc mua bán các loại cổ phiếu, trái phiếu;
Thứ tư, các tranh chấp kinh tế khác theo quy định của pháp luật.
Với nội dung như vậy, tranh chấp kinh tế cũng đã mở rộng hơn về
các loại tranh chấp so với thời kỳ kế hoach hoá. Tuy nhiên, hiện nay, khái
niệm và nội hàm các đinh như vậy chưa bao hàm được bản chất của các loại
tranh chấp phát sinh trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay.
Khái niệm “kinh doanh”, ‘thương mại” được đề cập trong luật doanh
nghiệp năm 1999 (sau này cũng được quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật
doanh nghiệp năm 2005) là một khái niệm rộng, bao hàm cả hoạt động kinh
doanh, thương mại của các thương nhân.
“Kinh doanh” được hiểu là việc thực hiện liên tục một, một số hoạc
tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm
hoặc cung ưng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
Khái niệm “kinh doanh” trong Luật doanh nghiệp tương đồng với
khái niệm “hoạt động thương mại’ quy định trong Luật thương mại.
Từ đó, khái niệm “tranh chấp kinh doanh , thương mại” ra đời là hoàn
toàn phù hợp với nội dung và bản chất của các tranh chấp trên thị trương
hiện nay. Nó cũng hoàn toàn phù hợp với pháp luật quốc tế (công ước New

Thứ ba, những tranh chấp KDTM phát triển gắn liền với các hoạt
động kinh doanh. Hoạt động kinh doanh vốn rất đa dạng, chịu sự tác động,
điều tiết của các quy luật và yếu tố riêng của thị trường,chẳng hạn như quy
luật cung cầu, sự biến đổi quy luật của giá cả.
7
Những tranh chấp phát sinh trong hoạt động KDTM cũng vì thế mà có
những biến đổi về biểu hiện, mức độ và cả về đòi hỏi, cách thức giải quyết
giữa các bên.
1.1.2 Các hình thức giải quyết tranh chấp KDTM
Việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp nói riêng cũng như
mọi vấn đề liên quan đến quá trình giải quyết các tranh chấp trong kinh
doanh nói chung dựa trên nguyên tắc quan trọng là quyền tự định đoạt của
các bên.
Cơ quan nhà nước và Trọng tài thương mại can thiệp theo yêu cầu của
các bên tranh chấp. kể cả khi Tòa án hoặc Trọng tài đã can thiệp trong quá
trình tố tụng, quyền tự định doạt biểu hiện bằng những hành vi đơn phương
hoặc thoả thuận của các bên luôn được ghi nhận và tôn trọng. Quyền tự định
doạt của các bên được coi là một nội dung của quyền tự do kinh doanh và
được pháp luật bảo hộ.
Pháp luật hiện hành của Việt Nam, trong các văn bản pháp luật quốc gia
cung như trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên đều ghi nhận
nguyên tắc này.
Khái quát lại, các phương thức để quyết tranh chấp trong KDTM bao
gồm: Thương lượng; Hoà giải; Trọng tài; Tòa án.
Thương lượng
Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp trong chấp trong
KDTM mà không cần đến vai trò của người thứ ba. Đặc điểm cơ bản của
phương thức thương lượng là các bên cùng nhau trình bày quan điểm, chính
kiến, tìm các biện pháp thích hợp và đi đến thống nhất thoả thuận đẻ tự giải
quyết các bất đồng.

thương lượng.
9
Thương lượng đòi hỏi trước hết các bên phải có thiện chí, trung thực,
hợp tác và phải có đầy đủ những kiến thức, am hiểu về chuyên môn và pháp
lý. Thương lượng thật sự đã trở thành quá trình trao đổi, bày tỏ ý chí giữa
các bên để tìm giải pháp thích hợp nhất.
Do vậy, trong thương lượng, các bên tiến hành bàn bạc, trao đổi ý kiển,
thoả thuận thông qua “hành vi giao dịch” cần phải đảm bảo các điều kiện
pháp lý đặt ra. Đó là: chế định đại diện, chế định uỷ quyền, giao dịch dân sự,
năng lực hành vi…
Giải quyết tranh chấp bằng thương lượng thực chất được thực hiện bởi
cơ chế nội bộ (cơ chế tự giải quyết) và hoàn toàn xuất phát từ cơ chế tự giải
quyết của các bên tranh chấp mà không có sự can thiệp củ bất kỳ cơ quan nhà
nước hoặc của bất kỳ người thứ ba nào. Giải quyết tranh chấp thương mại
bằng phương thức thương lượng là sự thể hiện quyền tự do thoả thuận, tự do
định đoạt của các bên tranh chấp. Các bên tự đề xuất các giải pháp và thỏa
hiệp với nhau theo trình tự thủ tục tự chọn để giải quyết các bất đồng phát
sinh mà không bắt buộc phải tuân thao một thủ tục pháp lý nào. Do thể thức
đơn giản, ít phiền hà, hiệu quả, ít tốn kém, không gây ra ảnh hướng xấu trong
quan hệ kinh doanh giữa các bên sau tranh chấp mà thương lượng luôn là
phương thức ưa chuộng, phổ biến, được các thương nhân ưu tiên lựa chọn
trước khi tìm đến các giải pháp khác để giải quyết các tranh chấp KDTM.
Quá trình thương lượng đẻ giải quyết các tranh chấp KDTM có thể được tiến
hành bằng nhiều cách thức: thương lượng trực tiếp, thương lượng gián tiếp và
kết hợp thương lượng trực tiếp với thương lượng gián tiếp.
* Ưu điểm nổi bật của phương thức giải quyết tranh chấp bằng
thương lượng là thuân tiện, đơn giản, nhanh chóng, tính linh hoạt, hiệu quả
và ít tồn kém. Mặt khác giải quyết tranh chấp KDTM bằng thương lượng
còn bảo vệ được uy tín của các bên tranh chấp cũng như bí mật trong kinh
doanh của các nhà kinh doanh. Nếu thương lương thành công không những

gắn liền với lợi ích của một trong các bểntong các vụ việc đang có tranh
11
chấp. Bên thứ ba tham gia làm trung gian hoà giải thường là những cá
nhân, tổ chúc có trình độ chuyên môn cao và có kinh nghiệm về những
vụ việc có liên quan đến các vụ việc phát sinh. Công việc của bên thứ ba
là; xem xét, phân tích, đánh giá và dưa ra những ý kiến, nhận định , bình
luận về chguyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ để các bên tham khảo lựa
chọn và quyết định.
Bản chất của hoà giải được thể hiện qua những đặc trưng sau đây:
Thứ nhất, việc giải quyết tranh chấp phát sinh trong KDTM bằng
phương pháp hoà giải đã có sụ hiện diện của bên thứ ba (do các bên lựa
chọn) làm trung gian để trợ giúp các bên tìm kiếm giải pháp tối ưu nhằm loại
trừ tranh chấp.
Điểm khác biệt cơ bản giữa hoà giải và thương lượng là trong hoà giải
luôn có sụ xuất hiện của người thứ ba tham gia vào quá trình giải quyết tranh
chấp còn thương lượng là sự tự giải quyết tranh chấp giữa các bên mà không
có sụ hiện diện của người thứ ba.
Tuy nhiên, bên thứ ba làm trung gian hoà giải không có quyền quyết
định hay áp đặt bất cứ vấn đề gì nhằm ràng buộc các bên tranh chấp. Quyết
định cuối cùng vẫn thuộc về các bên tranh chấp khi họ thống nhất được ý chí
với nhau về giải quyết vụ tranh chấp trên cơ sở hướng dẫn, trợ giúp của
người thứ ba làm trung gian hoà giải.
Tuy cùng có sụ tham gia của người thứ ba vào quá trình giải quyết
tranh chấp nhưng hoà giải khác với phương thức giải quyết tranh chấp
thương mại trọng tài hay Tòa án bởi vai trò của người thứ ba. Trong tài hay
Tòa án với vai trò là người thứ ba tham gia vào giải quyết vụ tranh chấp lại
có thẩm quyền ra phán quyết để ràng buộc các bên tranh chấp.
Thứ hai, quá trình hoà giải các bên tranh chấp cũng không chịu sự chi
phối bởi các quy định có tính khuôn mẫu, bắt buộc của pháp luật về thủ tục
hoà giải.

khuyến nghị, tham vấn đối với các bên tranh chấp.
Trên cơ sở nhưng phân tích đánh giá và khuyến nghị của người trung
gian hoà giải về các giải pháp cầ lụa chọn, nếu các bên thoả thuận được với
nhau về phương án giải quyết tranh chấp thì nội dung sự thoả thuận phải
được ghi nhận bằng văn bản có đầy đủ chũ ký của đại diện các bên và người
trung gian hoà giải. Văn bản thoả thuận này có giái trị rang buộc các bên và
các bên phải tôn trọng, tự nguyện thực hiện cam kết.
* Giải quyết tranh chấp KDTM bằng hoà giải cũng có những ưu điểm
như thương lượng bởi tính đơn giản thuận tiện, nhanh chóng, sự linh hoạt, hiệu
quả và ít tốn kém. Bên cạnh đó thì hoà giải còn có ưu điểm vượt trội được
mang lại bởi có sự tham gia của người thứ ba trong quá trình giải quyết tranh
chấp. Người thứ ba thường là người có trình độ chuyên môn, có kinh nghiệm,
am hieeur lĩnh vực và vắn đề đang tranh chấp. Khi hiểu rõ được nguyên nhân,
hoàn cảnh phát sinh mâu thuẫn cũng như quan điểm nhận thức của các bên, họ
sẽ biết cách làm cho ý chí của các bên dễ gặp nhau trong quá trình dàm phán để
lọai trừ tranh chấp.
Ngoài ra, kết quả hoà giải được ghi nhận và chứng kiến của bên thứ
ba. Nên mức độ tự nguyên thực hiện của các bên cung cao hơn so với
phương thức thương lượng.
* Bên cạnh đó thì hoà giải cũng có những hạn chế bởi nền tảng của
hoà giải vẫn được quyết định trên cơ sở tự nguyện thi hành của các bên.
Bởi vậy, dù có sự trợ giúp của người thứ ba làm trung gian hoà giải mà một
bên không trung thực, thiếu thiện chí, hợp tác trong quá trình đàm phán thì
hoà giải cũng khó đạt được kết quả cao. Bên cạnh đó, thì trong quá trình
hoà giải các bên phải trao đổi, cung cấp thông tin cho người thứ ba về hoạt
động kinh doanh của mỗi bên liên quan đến vụ tranh chấp nên uy tín cũng
như bí mặt kinh doanh của mỗi bên dễ bị ảnh hưởng. Cũng như chi phí bỏ
ra cho khoản dịch vụ phí cho người thứ ba làm trung gian hoà giải.
14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status