ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TẠ NGỌC NAM
PHÂN BIỆT TRANH CHẤP KINH DOANH,
THƢƠNG MẠI VÀ TRANH CHẤP DÂN SỰ
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Công trình đƣợc hoàn thành
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Nhƣ Phát
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số
: 60 38 50
Luận văn sẽ đƣợc bảo vệ trƣớc Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ,
họp tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vào hồi ..... giờ ....., ngày ..... tháng ..... năm 2015
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
1
1.3.1.
1.3.2.
1.3.3.
Khái niệm và bản chất của tranh chấp kinh doanh,
thƣơng mại và tranh chấp dân sự
Khái niệm tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại và tranh
chấp dân sự
Bản chất của tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại và
tranh chấp dân sự
Phân biệt giữa hành vi dân sự và hành vi thƣơng mại
Lịch sử phát sinh và phát triển của hành vi dân sự và
hành vi thƣơng mại
Khái niệm hành vi dân sự và khái niệm hành vi thƣơng mại
Tính chất của hành vi dân sự và hành vi thƣơng mại
Cách thức xác định hành vi thƣơng mại
Phân loại hành vi thƣơng mại
Các thành tố của hành vi thƣơng mại
Một số loại trừ khi xác định hành vi thƣơng mại
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ
6
6
2.1.1. Thực trạng các qui định pháp luật trực tiếp phân biệt
tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại và tranh chấp dân sự
2.1.2. Thực trạng các qui định pháp luật đặt nền tảng cho sự
phân biệt tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại và tranh
chấp dân sự
2.2.
Thực trạng các qui định pháp luật về phân biệt tranh
chấp kinh doanh, thƣơng mại và tranh chấp dân sự
3
35
4
35
38
40
68
68
69
70
70
71
72
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết nghiên cứu của đề tài
Kinh tế thị trƣờng thúc đẩy kinh doanh, thƣơng mại phát triển, đồng
thời kéo theo sự gia tăng các tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại. Nhu
cầu giải quyết đúng đắn các tranh chấp này đòi hỏi có cơ chế giải quyết
thỏa đáng. Sự đòi hỏi này cùng với sự đòi hỏi khác của sinh hoạt chính
trị, kinh tế, xã hội thúc đẩy cải cách pháp luật.
Trong tiến trình cải cách pháp luật, việc xóa đi quan niệm về ngành
có nghiên cứu ở nƣớc ngoài về vấn đề này của Việt Nam hiện nay. Trong
khi đó các công trình nghiên cứu ở trong nƣớc chƣa đi sâu vào nền tảng
lý luận và còn thiếu bao quát. Vì vậy, khoảng đất trống cho đề tài nghiên
cứu này vẫn còn.
Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu của các luật gia
Việt Nam về vấn đề phân biệt giải quyết tranh chấp kinh doanh, thƣơng
mại và tranh chấp dân sự nhƣ sau: Thứ nhất, công trình nghiên cứu mang
tên "Những khác biệt giữa luật thương mại Việt Nam và các chế định
pháp luật thương mại các nước" của PGS.TS Nguyễn Nhƣ Phát và
PGS.TS Ngô Huy Cƣơng (Đề tài nhánh của đề tài nghiên cứu xây dựng
Luật Thƣơng mại năm 2005 do UNDP tài trợ năm 2004); thứ hai, đề tài
nghiên cứu mang tên "Đảm bảo quyền tự do lựa chọn phương thức giải
quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại ở Việt Nam" do TS. Phan Thị
Thanh Thủy chủ trì (năm 2013 - 2014); thứ ba, công trình mang tên
"Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh theo pháp luật Việt Nam" của
PGS.TS. Phạm Hữu Nghị (đăng trong "Kỷ yếu hội thảo giải quyết tranh
chấp kinh doanh và phá sản doanh nghiệp", Trung tâm nghiên cứu và hỗ
trợ pháp lý (leres), Trƣờng Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, dƣới
sự tài trợ của Konrad Adenauer Stifftung, Nxb Giao thông vận tải, 2000);
thứ tư, công trình mang tên "Tăng cường vai trò của tòa án trong việc
giải quyết tranh chấp kinh tế" của TS. Phan Chí Hiếu (đăng trong "Kỷ
yếu hội thảo giải quyết tranh chấp kinh doanh và phá sản doanh nghiệp",
5
6
Trung tâm nghiên cứu và hỗ trợ pháp lý (leres), Trƣờng Đại học Khoa
học xã hội và nhân văn, dƣới sự tài trợ của Konrad Adenauer Stifftung,
này mà không đi sâu vào các kỹ năng liên quan, cũng nhƣ không dự định
đƣa ra các kiến nghị có tầm bao quát cả hệ thống pháp luật.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Các phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc sử dụng trong luận văn bao gồm:
phƣơng pháp phân tích qui phạm; phƣơng pháp phân loại pháp lý;
phƣơng pháp diễn dịch; phƣơng pháp quy nạp; phƣơng pháp so sánh
pháp luật; phƣơng pháp xây dựng mô hình. Các phƣơng pháp này đƣợc
sử dụng trên cơ sở phƣơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử.
Phƣơng pháp phân loại pháp lý, phƣơng pháp diễn dịch, phƣơng
pháp quy nạp và phƣơng pháp so sánh pháp luật đƣợc dùng chủ yếu để
nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan.
Phƣơng pháp phân tích qui phạm và phân tích tình huống đƣợc sử
dụng chủ yếu để nghiên cứu thực trạng pháp luật liên quan.
Phƣơng pháp quy nạp và phƣơng pháp xây dựng mô hình chủ yếu
dùng để đƣa ra các kiến nghị cải cách pháp luật.
6. Tính mới và những đóng góp của đề tài
Đề tài nghiên cứu một cách toàn diện về cả lý luận và thực tiễn vấn
đề, xác định những hạn chế, bất cập của pháp luật Việt Nam về phân biệt
tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại và tranh chấp dân sự, đồng thời phân
tích kinh nghiệm pháp luật một số quốc gia trên thế giới về vấn đề này.
Tác giả của luận văn với mong muốn đây là công trình nghiên cứu có ít
nhiều giá trị về mặt lý luận cũng nhƣ thực tiễn để làm tài liệu tham khảo
cho các hoạt động giảng dạy pháp lý và công tác xét xử, cũng nhƣ tạo
những gợi ý có giá trị cho các nhà lập pháp hoàn thiện hơn hệ thống pháp
luật về việc phân biệt các loại tranh chấp này.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 2 chƣơng:
thân hoặc quan hệ tài sản đƣợc luật dân sự điều chỉnh mà không phải là
các tranh chấp thƣơng mại.
+ Tranh chấp thƣơng mại là các tranh chấp phát sinh từ các hành vi
thƣơng mại.
Các định nghĩa này có mối liên hệ quan trọng nếu không làm rõ
đƣợc khái niệm này thì cũng không thể xác định đƣợc khái niệm kia.
Chính vì vậy có nhiều ý tƣởng pháp lý xóa nhòa sự phân biệt giữa luật
dân sự và luật thƣơng mại, nói cách khác hợp nhất luật dân sự và luật
thƣơng mại để chỉ xây dựng một bộ luật áp dụng cho cả quan hệ dân sự
và quan hệ thƣơng mại. Việc làm rõ gần nhƣ hoàn toàn hai khái niệm này
đòi hỏi phải có một nghiên cứu hệ thống mà phần nào sẽ đƣợc nghiên
cứu tại các mục, các tiểu mục dƣới đây.
1.1.2. Bản chất của tranh chấp kinh doanh, thương mại và tranh
chấp dân sự
Tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại và tranh chấp dân sự đƣợc luật
thực định (Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2011)
mô tả bằng cách thức liệt kê. Nhƣng thông qua sự liệt kê đó, có thể thấy
bản chất pháp lý của các loại tranh chấp này.
Ngoài một số tranh chấp về nhân thân, tranh chấp dân sự theo Bộ
luật này bao gồm các tranh chấp liên quan tới trái quyền dân sự và liên
quan tới vật quyền, cũng nhƣ quyền sở hữu trí tuệ nếu không có mục tiêu
lợi nhuận. Trong khi đó tranh chấp kinh doanh, thƣơng mại hầu nhƣ là
các tranh chấp liên quan tới các hành vi thƣơng mại. Vì vậy, đƣợc xem là
có lý trong một phạm vi nhất định khi Luật Thƣơng mại 1997 định nghĩa
tại Điều 238 rằng: "Tranh chấp thƣơng mại là tranh chấp phát sinh do
việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt
động thƣơng mại". Chƣa bàn tới phạm vi, định nghĩa này chỉ nói tới
tranh chấp trong vấn đề thực hiện hợp đồng thƣơng mại.
Theo GS.TSKH. Đào Trí Úc, luật dân sự và luật thƣơng mại đều là
ta phân công lao động và tiến hành chuyên môn hóa sản xuất. Để hàng
hóa đƣợc lƣu thông trên thị trƣờng, một nhóm ngƣời đƣợc gọi là thƣơng
nhân xuất hiện. Họ lấy việc mua bán hàng hóa từ cơ sở sản xuất từ ngƣời
khác để bán lại hoặc gia công chế biến... rồi bán lại với mục đích kiếm
lời. Các hành vi mua bán nhằm mục đích kiếm lời kể trên chính là các
hành vi thƣơng mại ngày nay.
Ngày nay, nội hàm của khái niệm hành vi thƣơng mại không còn gói
gọn trong hoạt động với tính cách là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng mà
còn bao hàm cả các lĩnh lĩnh vực sản xuất công nghiệp, xây dựng, dịch vụ...
Hành vi thƣơng mại xuất hiện ở Việt Nam từ rất sớm, song sự phát
triển của chúng lại là những thăng trầm, tựu chung, Việt Nam không có
truyền thống trong lĩnh vực thƣơng mại giống nhƣ các quốc gia nông
nghiệp khác. Cho mãi tới những năm gần đây, nhận thức về hoạt động
thƣơng mại và vị trí của các thƣơng nhân mới đƣợc đổi mới theo đúng xu
hƣớng phát triển của nền kinh tế thế giới. Chính vì sự khẳng định tầm
quan trọng của các hoạt động thƣơng mại này mà việc nghiên cứu bản
chất của hành vi thƣơng mại trở nên cấp thiết nhằm tạo cơ sở lý luận cho
việc xây dựng hệ thống các quy phạm pháp luật về thƣơng mại.
1.2.2. Khái niệm hành vi dân sự và khái niệm hành vi thương mại
Hành vi dân sự hay hành vi thƣơng mại trƣớc hết đều là hành vi pháp
lý, có nghĩa là việc làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp lý
bởi ý chí của chính đƣơng sự. Hành vi dân sự và hành vi thƣơng mại chỉ
khác nhau ở chỗ: hành vi dân sự làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt
quan hệ pháp luật dân sự; còn hành vi thƣơng mại làm phát sinh, thay đổi
hay chấm dứt quan hệ pháp luật thƣơng mại. Tuy nhiên, bản thân việc
phân biệt giữa quan hệ pháp luật dân sự và quan hệ pháp luật thƣơng mại
lại rất phức tạp bởi bản thân chúng không có ranh giới rõ ràng.
Hành vi thƣơng mại thƣờng luôn gắn liền với thƣơng nhân. Các chủ
yếu này chính là ngƣời tạo ra các hành vi thƣơng mại, ngƣợc lại khi
bản quy phạm pháp luật của các quốc gia khác nhau, khái niệm hành vi
thƣơng mại đƣợc xây dựng theo tiêu chí khác nhau và đƣợc hiểu ở những
phục vụ khác nhau. Do đó mà một khái niệm thống nhất về hành vi
thƣơng mại và một cách hiểu chung về thƣơng mại hiện nay chƣa có.
1.2.3. Tính chất của hành vi dân sự và hành vi thương mại
Nếu nhƣ so với các quan hệ dân sự thì các quan hệ thƣơng mại có
lịch sử ra đời muộn hơn. Luật dân sự có từ rất lâu đời trong các nền kinh
tế tự nhiên. Nó điều tiết các quyền lợi của tƣ nhân, cá nhân và gắn bó với
đời sống của con ngƣời. Luật thƣơng mại ra đời muộn hơn, khi những quan
hệ cơ bản của đời sống con ngƣời đã đƣợc luật dân sự điều chỉnh, do đó có
thể nói quan hệ thƣơng mại là các quan hệ dân sự đặc biệt, nó cũng là các
quan hệ tƣ giữa các cá nhân trong cộng đồng với nhau. Các quan hệ này đều
thiết lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận và bình đẳng. Tuy nhiên, các
quan hệ thƣơng mại đƣợc thiết lập bởi các hành vi và các chủ thể có
những đặc điểm khác. So với hành vi dân sự và chủ thể dân sự, do đó hoạt
động thƣơng mại cần có những quy phạm pháp luật riêng để điều chỉnh.
Thứ nhất, do mục đích của thƣơng nhân khi thực hiện hành vi không
phải đơn thuần là tiêu dùng mà là với ý định kiếm lời. Trong khi đó, các chủ
thể dân sự thực hiện các hành vi chỉ với mục tiêu phục vụ cho sinh hoạt
hàng ngày. Ví dụ một ngƣời mua ti vi để xem, hành vi này là hành vi dân
sự do Luật dân sự điều chỉnh, nhƣng đối với ngƣời bán vô tuyến thì hành
vi đó là hành vi thƣơng mại bởi vì anh ta kiếm lời từ việc bán ti vi đó.
Thứ hai, xét về số lƣợng hàng hóa. Chủ thể dân sự thƣờng chỉ mua hàng
hóa với số lƣợng ít vừa đủ cho sinh hoạt, ngƣợc lại, các thƣơng nhân để thực
hiện công việc buôn bán của mình, phải mua một số lƣợng hàng hóa hơn gấp
nhiều lần các chủ thể dân sự. Đó là chƣa kể đến việc các thƣơng nhân này
tích trữ hàng hóa. Nói cách khác, số lƣợng hàng hóa trong giao lƣu thƣơng
mại lớn hơn rất nhiều so với số lƣợng hàng hóa trong giao lƣu dân sự.
Thứ ba, các hành vi dân sự chỉ đƣợc thực hiện một cách riêng lẻ theo
16
Hành vi bán lại ở đây cũng không nhất thiết phải hiểu duy nhất là
mình trong mọi hành vi có liên quan đến tính chất thƣơng mại. Ở đây các
bán lại một cách cứng nhắc. Có rất nhiều hình thức mang tính chất "bán
quan hệ mua bán đất đai luôn mang tính dân sự nhiều hơn là tính cách
lại" song không phải là "mua đứt, bán đoạn" hàng hóa để kiếm lời. Một
thƣơng mại bởi vì các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu đất đai luôn là
ngƣời có thể mua hàng hóa về sau đó đem cho thuê hàng hóa đó, về bản
quyền tƣ hữu tiêu biểu, đặc trƣng cho các quyền về thân nhân và tài sản.
chất việc cho thuê này giống nhƣ việc bán dẫn hàng hóa đó.
Và nhƣ ta đã biết, luật dân sự là luật chuyên điều chỉnh các mối quan hệ
Kiếm lời luôn là linh hồn của hoạt động thƣơng mại. Song không có
thân nhân và tài sản của các chủ thể dân sự.
nghĩa là việc lời hay lỗ quyết định tính chất thƣơng mại của một hành vi.
1.3.3. Một số loại trừ khi xác định hành vi thương mại
từ luật dân sự.
Hoạt động thƣơng mại xuất hiện đầu tiên là từ các hoạt động mua
Hàng hóa là động sản hữu hình vốn là đối tƣợng truyền thống của
bán hàng hóa. Lúc này hàng hóa đƣợc hiểu đơn giản là các hoạt động
các hành vi thƣơng mại, ngay cả ngày nay, đối tƣợng này vẫn là chủ yếu
hữu hình. Và theo quan điểm truyền thống, đất đai dù có đƣợc mua bán
trong các giao dịch thƣơng mại, có điều từ lâu, các nhà nghiên cứu cũng
thì giao dịch về đất đai vẫn chịu sự điều chỉnh của Luật dân sự.
đã phát hiện ra một loại hàng hóa đặc biệt khác là các sản phẩm trí tuệ
Bên cạnh một vài án lệ coi việc mua đất đai rồi xây cất nhà cửa để
của con ngƣời. Trƣớc đây, do hoạt động kinh tế thƣơng mại còn hạn chế,
bán hay cho thuê là hành vi thƣơng mại. Bộ luật Thƣơng mại Pháp đƣợc
ngƣời ta chỉ chú trọng đến giá trị tinh thần của các sáng tạo trí tuệ này
luật ngày 13/7/1967 và luật ngày 9/1/1970 sửa đổi lại, quy định rằng mọi
17
18
2.1. Thực trạng các qui định pháp luật về phân biệt tranh chấp
kinh doanh, thƣơng mại và tranh chấp dân sự
2.1.1. Thực trạng các qui định pháp luật trực tiếp phân biệt tranh
chấp kinh doanh, thương mại và tranh chấp dân sự
Các qui định nền tảng liên quan tới sự phân biệt giữa tranh chấp kinh
doanh, thƣơng mại và tranh chấp dân sự thuộc về luật nội dung, có nghĩa là
đạo luật về thƣơng mại có nhiệm vụ qui định về hành vi thƣơng mại và việc
xác định hành vi thƣơng mại. Thế nhƣng Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 đƣợc
ban hành trƣớc Luật Thƣơng mại 2005 và Bộ luật Dân sự 2005. Vì vậy, Bộ
luật Tố tụng dân sự 2004 phải qui định việc xác định tranh chấp kinh doanh,
thƣơng mại để phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp về vụ việc bởi
trong tổ chức tƣ pháp của nƣớc ta vẫn có sự phân biệt giữa tòa kinh tế và tòa
dân sự. Mặc dù đã đƣợc sửa đổi năm 2011, nhƣng Bộ luật Tố tụng dân sự
2004 vẫn còn các qui định này vì pháp luật chƣa đƣợc đồng bộ hóa.
Điều luật quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (đƣợc sửa đổi, bổ
sung năm 2011 mà sau đây gọi chung là Bộ luật Tố tụng dân sự) có các khoản
đƣợc xây dựng trên cơ sở phân loại hành vi thƣơng mại. Cụ thể: khoản 1 đề
cập tới hành vi thƣơng mại do bản chất; khoản 2 nói tới hành vi dân sự đƣợc
chuyển hóa thành hành vi thƣơng mại; khoản 3 nói về hành thƣơng mại
do hình thức; và khoản 4 nói về hành vi thƣơng mại phụ thuộc. Tuy nhiên,
việc thể hiện các loại hành vi này có những bất cập đáng kể nhƣ sau:
Thứ nhất, khoản 1 của điều luật này đã gắn hành vi thƣơng mại (mà
đƣợc gọi là hoạt động thƣơng mại) với thƣơng nhân (mà đƣợc xác định
bởi việc có đăng ký kinh doanh) cùng với mục tiêu lợi nhuận để đƣa ra
cách thức xác định hành vi thƣơng mại. Cách thức xác định này chƣa
pháp lý chắt lọc ra từ trong các án lệ của truyền thống Common Law.
Việc thiếu kiến thức lý luận là nguyên nhân sâu xa của bất cập này.
+ Thiếu tính hệ thống trong xây dựng pháp luật. Về nguyên lý, ở
những nƣớc có chủ trƣơng pháp điển hóa, thông thƣờng phải xây dựng
19
20
Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
VỀ PHÂN BIỆT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƢƠNG MẠI
VÀ TRANH CHẤP DÂN SỰ - KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN
luật vật chất trƣớc luật tố tụng bởi luật vật chất quyết định luật tố tụng.
Thế nhƣng trong trƣờng hợp này, Bộ luật Tố tụng dân sự lại đƣợc xây
dựng trƣớc Bộ luật Dân sự và Luật thƣơng mại.
+ Khi hợp nhất tố tụng dân sự và tố tụng thƣơng mại, không cân
nhắc đầy đủ các yếu tố, đặc điểm của tố tụng thƣơng mại vốn dĩ xuất
phát từ các đặc thù của luật thƣơng mại.
2.1.2. Thực trạng các qui định pháp luật đặt nền tảng cho sự phân
biệt tranh chấp kinh doanh, thương mại và tranh chấp dân sự
Nền tảng về mặt lý luận cho việc phân biệt tranh chấp kinh doanh,
thƣơng mại và tranh chấp dân sự là sự phân biệt giữa hành vi dân sự và hành
vi thƣơng mại. Và sự phân biệt giữa hành vi dân sự và hành vi thƣơng mại
đƣợc thể hiện trong đạo luật về thƣơng mại. Bởi sự ra đời sớm hơn luật
thƣơng mại và tạo nền tảng cho toàn bộ hệ thống luật tƣ, luật dân sự không
có nhiệm vụ qui định sự phân biệt giữa hành vi dân sự và hành vi thƣơng mại.
Luật Thƣơng mại 2005 thay vì qui định tƣơng đối đầy đủ các cách thức
2.2. Thực tiễn giải quyết tranh chấp có liên quan đến phân biệt
dạng tranh chấp
Thực tiễn tòa án rất khó khăn trong việc xác định tính chất dân sự
hay thƣơng mại cho một vụ tranh chấp cụ thể. Có thể nêu ra một số vụ
tranh chấp sau:
Vụ án thứ nhất: tại bản án số 141/2008/ST-KDTM ngày 25/01/2008
về việc tranh chấp hợp đồng mua bán
Nguyên đơn: CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN KINH DOANH CHẾ
BIẾN THỦY SẢN VÀ XUẤT NHẬP KHẨU QUỐC VIỆT (Công ty Quốc Việt);
Địa chỉ: 444 Lý Thƣờng Kiệt, phƣờng 6, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau;
Đại diện: Do ông Huỳnh Tùng Chung, theo Giấy ủy quyền ngày 22/11/2007
Bị đơn: CÔNG TY CỔ PHẦN IN BAO BÌ VÀ XUẤT NHẬP KHẨU
TỔNG HỢP (PAPRIMEX); Địa chỉ: 1bis Hoàng Diệu, quận 4, Thành phố
Hồ Chí Minh; Đại diện: Do bà Huỳnh Thị Thanh Hƣơng, theo giấy ủy
quyền số 2 ngày 23/11/2007;
Vụ án này đƣợc xem là một vụ án kinh doanh, thƣơng mại do áp dụng
Điều 29, Bộ luật Tố tụng dân sự mặc dù hai bên có "Bản đối chiếu công nợ"
xác nhận số tiền còn nợ là 114.173.307 đồng. Thông thƣờng tòa án quan
21
22
niệm (thông qua nhiều vụ án đã xét xử), nếu có thỏa thuận nhận nợ thì vụ án
đòi khoản nợ đã nhận nợ là vụ án dân sự. Thực tế thỏa thuận nhận nợ làm
chấm dứt hành vi thƣơng mại chính và làm phát sinh ra quan hệ đòi nợ mới.
Tuy nhiên, xét cho cùng thì thỏa thuận nhận nợ này là một hành vi thƣơng
mại phụ thuộc, vì vậy có thể xem nó là một vụ án thƣơng mại. Vấn đề đặt
ra ở đây là Luật Thƣơng mại cũng nhƣ Bộ luật Tố tụng dân sự không có
Đại diện: Ông Trần Tuấn Phong, Giấy ủy quyền ngày 22/12/2006
Vụ án này thực chất là tranh chấp liên quan tới yêu cầu hủy bỏ các hành
vi pháp lý của nội bộ công ty. Tranh chấp này chƣa đƣợc qui định cụ thể, rõ
ràng trong các văn bản pháp luật hiện nay. Tranh chấp này xuất phát từ hành
vi không trực tiếp nhằm tới mục tiêu lợi nhuận, nhƣng có thể nằm trong hành
vi thƣơng mại bởi hình thức. Vì vậy, tranh chấp này có thể xem là một tranh
chấp thƣơng mại. Nếu xác định nhƣ vậy thì định nghĩa về hoạt động thƣơng
mại tại khoản 1, Điều 3 của Luật Thƣơng mại 2005 cần phải xem xét lại.
Tuy nhiên, qua các vụ án này có thể thấy các tòa án Việt Nam khi
xác định tính chất dân sự hay thƣơng mại của tranh chấp chỉ quen áp
dụng luật tố tụng mà không quen xác định từ luật vật chất. Về mặt lý
thuyết thì đây là một sai lầm, nhƣng xét từ góc độ thực tiễn thì đó là một
suy tính có hiệu quả bởi Luật Thƣơng mại 2005 không thể sử dụng để
xác định tính chất thƣơng mại của tranh chấp.
2.3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật
2.3.1. Kiến nghị về hoàn thiện Luật thương mại
Căn cứ vào sự khác biệt giữa hành vi dân sự và hành vi thƣơng mại
mà các nhà làm luật định ra hai lĩnh vực pháp luật riêng biệt. Đó là pháp
luật dân sự và pháp luật thƣơng mại. Điều này có nghĩa là hành vi thƣơng
mại đƣợc xác định là nhằm giới hạn phạm vi điều chỉnh của luật thƣơng
mại. Bởi vì mỗi lĩnh vực pháp luật điều chỉnh mỗi nhóm quan hệ xã hội
có cùng tính chất. Luật dân sự điều chỉnh các mối quan hệ tài sản và nhân
thân giữa cá nhân, pháp nhân trong xã hội, còn luật thƣơng mại điều
chỉnh các mối quan hệ đƣợc xác lập giữa các thƣơng nhân với nhau hoặc
giữa thƣơng nhân với một bên phi thƣơng nhân.
Mặt khác, theo quy định của pháp luật một số quốc gia, hành vi
thƣơng mại là một trong những yếu tố làm cơ sở để xác định tƣ cách
thƣơng gia của một chủ thể tham gia thực hiện các hoạt động thƣơng
23
tòa dân sự, đối với bên thực hiện hành vi có tính dân sự thì pháp luật cho
phép anh ta lựa chọn khởi kiện ra hoặc là tòa dân sự, hoặc là tòa thƣơng
mại. Nhƣ vậy, thì quyền lợi của các chủ thể dân sự đƣợc bảo đảm và ƣu
tiên hơn. Nhƣ vậy, trình tự thủ tục cụ thể (chung hay riêng) sẽ do sự lựa
chọn của "ngƣời tham gia tố tụng".
2.3.3. Kiến nghị về việc xác định chế độ pháp lý về năng lực chủ
thể thực hiện hành vi
Năng lực chủ thể thực hiện hành vi là một trong những yếu tố quyết
định tính hợp pháp của một giao dịch. Quy định về năng lực chủ thể thực
hiện hành vi trong luật thƣơng mại khác với các quy định cùng về vấn đề
ấy trong luật dân sự. Bên cạnh các yêu cầu cơ bản tƣơng tự nhƣ các yêu cầu
trong luật dân sự (phải đạt đến độ tuổi nhất định, phải có năng lực pháp luật
và năng lực hành vi dân sự đầy đủ), các chủ thể thực hiện các hành vi
thƣơng mại còn phải đáp ứng các yêu cầu khác về đăng ký kinh doanh, về
thẩm quyền… theo quy định của luật thƣơng mại. Vì thế, mà việc xác định
một hành vi là dân sự hay thƣơng mại có ý nghĩa quyết định cho việc áp
dụng các quy chế phù hợp cho các chủ thể thực hiện hành vi.
2.3.4. Kiến nghị về xác định thời hiệu tố tụng và thời hiệu hợp đồng
Do sự khác biệt giữa hành vi dân sự và hành vi thƣơng mại mà thời hiệu
về tố tụng và thời hiệu khởi kiện liên quan đến hợp đồng dân sự và thƣơng
mại đƣợc quy định khác nhau. Thông thƣờng do yêu cầu nhanh chóng trong
hoạt động kinh doanh, nhu cầu xoay vòng vốn và đảm bảo có lãi... thời hạn
trong hợp đồng thƣơng mại ngắn hơn thời hạn quy định trong luật dân sự.
25
26
KẾT LUẬN