ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN NGỌC THU
BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI
CHỈ DẪN THƢƠNG MẠI BẰNG BIỆN PHÁP DÂN SỰ
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM Chuyên ngành : Luật Dân sự
Mã số : 60 38 30 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. Lê Đình Nghị
Hà Nội - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
dẫn thương mại bằng biện pháp dân sự 22
1.4. Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn
thƣơng mại 24
1.4.1. Biện pháp dân sự 24
1.4.2. Biện pháp hành chính 27
1.4.3. Biện pháp hình sự 27
1.4.4. Biện pháp kiểm soát biên giới 28
1.5. Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn thƣơng mại bằng
biện pháp dân sự theo các Điều ƣớc quốc tế 29
1.5.1. Công ước Paris về bảo hộ quyền SHCN 1883 29
1.5.2. Hiệp định TRIPs 1994 30
1.5.3. Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ 2000 32
Chƣơng 2. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN
HÀNH VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI
CHỈ DẪN THƢƠNG MẠI BẰNG BIỆN PHÁP DÂN SỰ 34
2.1. Khái quát quá trình hình thành và phát triển của pháp luật Việt
Nam về bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn thƣơng mại
bằng biện pháp dân sự 34
2.2. Xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ
dẫn thƣơng mại 39
2.2.1. Hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu 40
2.2.2. Hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại 43
2.2.3. Hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp với chỉ dẫn địa lý 44
2.2.4. Các hành vi không bị coi là xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối
với chỉ dẫn thương mại theo quy định của pháp luật 49
2.3. Thẩm quyền và trình tự thủ tục xử lý hành vi xâm phạm bằng biện
pháp dân sự 51
2.3.1. Thẩm quyền xử lý 52
2.3.2. Trình tự thủ tục xử lý 53
BLDS
Bộ luật Dân sự
BLHS
Bộ luật Hình sự
BLTTDS
Bộ luật Tố tụng Dân sự
BLTTHS
Bộ luật Tố tụng Hình sự
TRIPs
Agreement on Trade –
Related Aspects of
Intellectual Property Rights.
Hiệp định về các khía cạnh liên
quan đến thương mại của quyền
sở hữu trí tuệ
SHCN
Sở hữu công nghiệp
QSHCN
Quyền sở hữu công nghiệp
QSHTT
Quyền sở hữu trí tuệ
SHTT
Có thể thấy trên thị trường, hàng hóa nào có thương hiệu, có uy tín được
người tiêu dùng ưa chuộng thì lập tức có hàng giả. Những mặt hàng thường bị
làm giả, xâm phạm QSHTT nhiều như hàng may mặc, hàng tiêu dùng bằng
da, giả da, mỹ phẩm, phân bón, rượu ngoại, thực phẩm chức năng, phần mềm
máy tính…Hàng xâm phạm QSHTT phần lớn được sản xuất ở nước ngoài
(chủ yếu là Trung Quốc) sau đó đưa vào Việt Nam tiêu thụ bằng nhiều đường
(kể cả chính ngạch và tiểu ngạch), trong đó chủ yếu nhập lậu qua biên giới,
nhiều nhất là biên giới phía Bắc và phía Trung. Thủ đoạn của bọn tội phạm
sản xuất, buôn bán hàng giả, xâm phạm QSHTT ngày càng tinh vi và phức
tạp. Đối với hàng giả, xâm phạ-m SHTT sản xuất ở nước ngoài, các đối tượng
có hành vi xâm phạm thường sử dụng kỹ thuật công nghệ cao, các thiết bị
hiện đại để sản xuất, in ấn nhãn mác, bao bì giống với hàng thật rất khó phân
biệt bằng mắt. Đối với hàng giả, xâm phạm SHTT sản xuất hoặc lắp ráp trong
nước thì các đối tượng thường thuê địa điểm hẻo lánh, việc sản xuất được
chia ra nhiều công đoạn, nhiều nơi khác như như nơi in vỏ bao bì, nhãn mác,
nơi pha trộn, nơi đóng gói…
2
Theo báo cáo của Công an 50 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương,
năm 2013, lực lượng Cảnh sát kinh tế đã phát hiện 560 vụ xâm phạm SHTT,
sản xuất, buôn bán hàng giả, phạt tiền hơn 5,4 tỷ đồng. [27]
Các số liệu trên chứng tỏ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nói chung và
xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với các chỉ dẫn thương mại nói
riêng đang trở thành một vấn nạn mà thế giới và Việt Nam đang phải đối mặt
hàng ngày. Ở nước ta, xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn
thương mại đang ngày càng mở rộng về phạm vi, tăng lên về quy mô, số
lượng…Vấn nạn trên đặt ra một yêu cầu cấp thiết phải bảo vệ QSTTT nói
chung, QSHCN đối với chỉ dẫn thương mại nói riêng một cách triệt để và hiệu
quả hơn.
Tại Việt Nam, quyền sở hữu trí tuệ và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ chưa
Nhận thức được vai trò quan trọng của việc bảo vệ QSHCN đối với chỉ
dẫn thương mại bằng biện pháp dân sự, tác giả chọn đề tài “Bảo vệ quyền sở
hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn thương mại bằng biện pháp dân sự theo
pháp luật Việt Nam” là đề tài luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trước khi Bộ luật Dân sự năm 1995 ra đời, bảo vệ QSHTT nói chung và
bảo vệ QSHCN đối với chỉ dẫn thương mại nói riêng vẫn chưa thực sự được
quan tâm đúng mức ở Việt Nam. Vì vậy, liên quan đến vấn đề này có rất ít
các công trình nghiên cứu, sách, báo. Vài năm trở lại đây, đặc biệt là khi Việt
Nam gia nhập WTO, vai trò của việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ mới được đề
cao, Chính phủ Việt Nam cũng thừa nhận vai trò của việc bảo hộ quyền
SHTT trong việc phát triển khoa học kỹ thuật hiện đại, khuyến khích hoạt
động sáng tạo và phát minh phục vụ phát triển kinh tế, chính vì vậy cũng có
4
khá nhiều những bài viết liên quan đến việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ như
“Đổi mới và hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu
trí tuệ”, Luận án tiến sỹ của tác giả Lê Xuân Thảo; “Bảo hộ quyền sở hữu
công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ của tác
giả Nguyễn Văn Luật; “Đổi mới và hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ”
của tác giả Lê Xuân Thảo biên soạn, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2005; “Bảo vệ
quyền sở hữu công nghiệp bằng biện pháp dân sự”, Luận văn thạc sỹ của tác
giả Phạm Văn Toàn; “Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý
theo pháp luật Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ của tác giả Ninh Thị Thanh Thủy;
“Nâng cao vai trò của tòa án trong việc giải quyết tranh chấp về quyền sở
hữu trí tuệ” của tác giả Nguyễn Thị Quế Anh…
Các công trình nghiên cứu trên tuy có đề cập đến những biện pháp bảo
vệ QSHCN bằng biện pháp dân sự, nhưng chưa có nghiên cứu nào đi sâu tìm
hiểu về chỉ dẫn thương mại bao gồm nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương
mại, đồng thời so sánh và phân tích được sự khác biệt giữa các đối tượng bảo
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần cung cấp những thông tin
mang tính lý luận và thực tiễn về bảo vệ QSHCN đối với chỉ dẫn thương mại
bằng biện pháp dân sự theo pháp luật Việt Nam. Luận văn có ý nghĩa góp
phần tăng cường việc giải quyết tranh chấp QSHCN đối với chỉ dẫn thương
mại bằng biện pháp dân sự, đổi mới và hoàn thiện pháp luật về bảo vệ
QSHCN tại Việt Nam hiện nay. Tác giả mong muốn luận văn có thể cung cấp
những hiểu biết sâu hơn cho chủ thể quyền về biện pháp dân sự, cũng như
những ưu điểm khi áp dụng việc bảo vệ QSHCN đối với chỉ dẫn thương mại
bằng biện pháp dân sự. Ngoài ra, từ việc trình bày những bất cập còn tồn tại
trong thực tiễn xử lý hành vi xâm phạm QSHCN đối với chỉ dẫn thương mại,
6
tác giả đã đưa ra một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật, nâng
cao hiệu quả giải quyết tranh chấp của Tòa án.
7. Bố cục luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận
văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp
đối với chỉ dẫn thương mại bằng biện pháp dân sự.
Chương 2: Quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo vệ quyền sở
hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn thương mại bằng biện pháp dân sự.
Chương 3: Thực trạng bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn
thương mại bằng biện pháp dân sự ở Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện pháp luật
7
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG
lĩnh vực công nghiệp, thương mại. Hiểu theo nghĩa khách quan, QSHCN là
pháp luật về SHCN hay nói cách khác là tổng hợp các quy phạm pháp luật
điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh sau khi con người sáng tạo ra sản
phẩm trí tuệ và được pháp luật coi là các đối tượng SHCN. Hiểu theo nghĩa
chủ quan thì QSHCN là quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân đối với các đối
tượng SHCN. Pháp luật Việt Nam hiện hành đã tập hợp và đưa ra phạm vi
QSHCN khá rộng so với trước đây, thể hiện trong khái niệm tương đối khái
quát về QSHCN quy định tại Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005:
Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với
sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán
dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh
do mình sáng tạo hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không
lành mạnh. [18, Điều 4]
QSHCN được xác lập như sau: QSHCN đối với sáng chế, kiểu dáng
công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở
quyết định cấp văn bản bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ
tục đăng ký quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ hoặc công nhận đăng ký quốc
tế theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Riêng đối
với tên thương mại và bí mật kinh doanh, QSHCN được xác lập một cách tự
động, không cần phải trải qua các trình tự, thủ tục xin xác lập quyền. Đối với
tên thương mại, QSHCN được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên
thương mại đó. Đối với bí mật kinh doanh, QSHCN được xác lập trên cơ sở
có được một cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện việc bảo mật bí
9
mật kinh doanh đó. Đối với quyền chống cạnh tranh không lành mạnh thì
được xác lập trên cơ sở hoạt động cạnh tranh trong kinh doanh. [18, Điều 6]
Xuất phát từ giá trị to lớn cũng như thuộc tính vô hình, khả năng chia sẻ
và tính xã hội rất cao của các đối tượng thuộc QSHCN nên các hành vi vi
phạm QSHCN ngày càng diễn ra tinh vi, gây thiệt hại to lớn cho chủ sở hữu
thẩm quyền
Đây là đặc trưng cơ bản của QSHCN so với quyền tác giả. Nếu như
quyền tác giả là quyền tự nhiên, xuất hiện khi tác giả sáng tác, làm ra các tác
phẩm, việc đăng ký quyền tác giả chỉ mang tính chất khuyến khích, thì
QSHCN chỉ được pháp luật bảo hộ khi chúng được cơ quan nhà nước chính
thức cấp văn bằng bảo hộ.
QSHCN đối với sáng chế, thiết kế bố trí, kiểu dáng công nghiệp, nhãn
hiệu và chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở quyết định của cơ quan quản lý
nhà nước về sở hữu công nghiệp cho người nộp đơn đăng kí các đối tượng đó.
Riêng với tên thương mại và bí mật kinh doanh, QSHCN được xác lập một
cách tự động, không cần trải qua các trình tự, thủ tục xin xác lập quyền.
QSHCN đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở thực tiễn sử dụng hợp
pháp tên thương mại tương ứng với khu vực và lĩnh vực kinh doanh. QSHCN
đối với bí mật kinh doanh được xác lập trên cơ sở đầu tư tài chính, trí tuệ hay
bất kì cách thức hợp pháp nào để tìm ra, tạo ra hoặc đạt được thông tin và bảo
mật thông tin tạo thành bí mật kinh doanh đó.
QSHCN được bảo hộ theo giới hạn không gian và thời gian
Quyền sở hữu đối với tài sản thông thường được bảo hộ vô thời hạn và
chỉ chấm dứt khi có các căn cứ chấm dứt quyền sở hữu được ghi nhận trong
các văn bản pháp luật hoặc khi tài sản bị tiêu huỷ. Quyền sở hữu đối với tài
sản thông thường không bị giới hạn về mặt không gian. Trong khi đó, quyền
11
sở hữu công nghiệp chỉ có thể được bảo hộ trong một khoảng thời gian xác
định tùy thuộc vào từng loại đối tượng và chỉ giới hạn trong một phạm vi lãnh
thổ xác định.
Thời gian nhắc đến ở đây là thời hạn của văn bằng bảo hộ mà chủ sở hữu
các đối tượng SHCN được cấp. Căn cứ vào giá trị của từng đối tượng SHCN
đối với sự phát triển của tiến bộ xã hội, có thể chia thời hạn bảo hộ ra thành
ba loại: thời hạn bảo hộ được xác định và không được gia hạn; thời hạn bảo
các chế tài do các cơ quan có thẩm quyền áp dụng khi có hành vi vi phạm.
Xét về bản chất, nội dung quan trọng nhất của QSHCN là độc quyền sử dụng,
khai thác đối tượng thuộc thẩm quyền. Vì vậy, thực thi QSHCN cũng có
nghĩa là đảm bảo quyền khai thác, sử dụng đối tượng QSHCN của chủ thể
nắm giữ quyền đó không gặp cản trở từ phía người thứ ba. Nói cách khác, bản
chất của việc bảo đảm điều kiện cần thiết để chủ thể QSHCN thực hiện các
quyền của mình là ngăn chặn mọi hành vi cản trở việc sử dụng, khai thác đối
tượng QSHCN của chủ thể quyền.
Vấn đề bảo vệ quyền SHTT được quy định trong các công ước quốc tế
về nền tảng về quyền SHTT như Công ước Berne năm 1883 về bảo hộ tác
phẩm văn học, nghệ thuật, Công ước Paris năm 1883 về bảo hộ QSHCN và
Hiệp định các khía cạnh thương mại của quyền SHTT năm 1994 (TRIPs). So
với TRIPs, hệ thống luật pháp về SHTT của Việt Nam về cơ bản đã tương
thích với các quy định của Hiệp định này. Tại Phần thứ năm của Luật Sở hữu
trí tuệ 2005 đã quy định về “Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ”, bao gồm các nội
dung: quy định chung về bảo vệ quyền SHTT; xử lý xâm phạm quyền SHTT
bằng các biện pháp dân sự, biện pháp hành chính, biện pháp hình sự, kiểm
soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến SHTT. Từ những nội dung
trên, có thể hiểu bảo vệ QSHTT nói chung và QSHCN nói riêng là việc các cơ
13
quan nhà nước có thẩm quyền, thông qua hệ thống chính sách pháp luật bảo
vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu quyền, nhằm chống lại
sự xâm phạm của bên thứ ba. Như vậy, bảo vệ QSHCN hiểu một cách chung
nhất là tổng hợp các quy định của pháp luật công nhận các chủ thể QSHCN
được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp. Thông qua các quy định của pháp luật,
các cơ quan có thẩm quyền xác định những hành vi bị coi là xâm phạm
QSHCN và quy định các biện pháp xử lý những hành vi xâm phạm đó tùy
theo tính chất, mức độ xâm phạm.
Bảo vệ QSHCN hiện nay là đòi hỏi khách quan, có ý nghĩa quan trọng
pháp chủ đạo và phù hợp với việc áp dụng để bảo vệ QSHCN, có khả năng
giải quyết thỏa đáng, triệt để những thiệt hại mà chủ sở hữu quyền bị xâm
phạm đã phải chịu, qua đó giúp các bên có được thái độ mềm dẻo, linh hoạt
khi giải quyết, khắc phục những hạn chế mà các biện pháp khác không giải
quyết được.
Trên thế giới hiện nay, bảo vệ QSHCN bằng biện pháp dân sự được đánh
giá là cơ chế bảo vệ hữu hiệu và phổ biến nhất, nhưng ở Việt Nam thì trong
thực tiễn xét xử trong những năm qua cho thấy có rất ít tranh chấp về QSHCN
được đưa ra giải quyết ở Tòa án. Các chủ thể QSHCN thường chọn biện pháp
hành chính để xử lý những hành vi xâm phạm quyền của mình. Một đặc điểm
quan trọng của việc bảo vệ QSHCN bằng biện pháp hành chính chính là ý
nghĩa trừng phạt đối với hành vi xâm phạm quyền. Bên cạnh đó, biện pháp
hành chính có tính tăng nặng đối với các hành vi xâm phạm có tình tiết tăng
nặng như: vi phạm có tổ chức, vi phạm nhiều lần hoặc tái phạm, tiếp tục thực
hiện hành vi vi phạm khi người có thẩm quyền đã yêu cầu chấm dứt hành vi
đó… Do vậy, việc bảo vệ QSHCN bằng biện pháp hành chính thường có tính
răn đe và phòng ngừa cao. Tuy nhiên, biện pháp hành chính không thể buộc
15
người vi phạm bồi thường thiệt hại cho chủ thể quyền. Đây là hạn chế của
việc thực thi QSHCN bằng biện pháp hành chính. Trong quá trình thụ lý và
xử lý hành vi xâm phạm QSHCN bằng biện pháp hành chính, cơ quan hành
chính có thẩm quyền chỉ xử phạt hành vi xâm phạm quyền, còn phần bồi
thường thiệt hại của chủ thể quyền đề nghị tách riêng và thực hiện theo trình
tự dân sự. Ngược lại, cơ chế dân sự điều chỉnh quan hệ giữa chủ sở hữu quyền
và người xâm phạm quyền. Việc đền bù thiệt hại cho chủ thể quyền bị xâm
phạm là một trong những nội dung cơ bản nhất của việc bảo vệ QSHCN bằng
biện pháp dân sự, các chủ sở hữu QSHCN không chỉ được quyền yêu cầu Tòa
án áp dụng các biện pháp ngăn chặn hành vi xâm phạm QSHCN một cách có
hiệu quả mà còn buộc bên vi phạm bồi thường những tổn thất về vật chất, tinh
chỉ dẫn thƣơng mại bằng biện pháp dân sự.
1.3.1. Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn thương mại
Chỉ dẫn thương mại là các dấu hiệu, thông tin nhằm hướng dẫn thương
mại hàng hoá, dịch vụ bao gồm: nhãn hiệu, tên thương mại, biểu tượng kinh
doanh, khẩu hiệu kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng bao bì của hàng hoá và
nhãn hàng hoá. [18, Điều 130]
Các đối tượng như nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý đều là đối
tượng của QSHCN, ba đối tượng này có đặc điểm chung nhất là giúp cá nhân,
tổ chức phân biệt được chủ thể, dịch vụ - hàng hóa, nguồn gốc xuất xứ của
sản phẩm, người tiêu dùng lựa chọn đúng hàng hóa phù hợp với nhu cầu, chất
lượng mà mình mong muốn, từ đó, giúp nhà sản xuất đẩy mạnh lưu thông
hàng hóa. Mặt khác, các chỉ dẫn thương mại này thường được gắn lên hàng
hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch kinh doanh,
phương tiện quảng cáo…do vậy các đối tượng này rất dễ bị làm giả, làm nhái,
nguy cơ bị xâm phạm là rất lớn. Việc quy định về QSHCN đối với nhãn hiệu,
17
tên thương mại, chỉ dẫn địa lý mang ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ
quyền và lợi ích hợp phải của các chủ thể quyền. Để hiểu rõ hơn về QHSCN
đối với chỉ dẫn thương mại, người viết xin phép phân tích QSHCN của từng
đối tượng mà đề tài đã giới hạn.
Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu:
Trong các đối tượng của QSHCN thì nhãn hiệu được coi là đối tượng có
vai trò rõ rệt nhất trong quá trình lưu thông hàng hóa. Bằng nhãn hiệu, nhà
sản xuất có thể đánh dấu hàng hóa, dịch vụ mà mình đưa ra thị trường, là
thông tin trước hết và cơ bản đầu tiên mà người tiêu dùng nhận thức được đối
với loại hàng hóa, dịch vụ cụ thể. Từ đó, tác động trực tiếp đến việc lưu thông
hoàng hóa, tăng hoặc giảm doanh số bán hàng. QSHCN đối với nhãn hiệu
theo pháp luật mỗi nước cũng như trong các Điều ước quốc tế có khác nhau vì
bị chi phối bởi quan điểm về các dấu hiệu cấu thành nên nhãn hiệu. Các Điều
hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện
bằng một hoặc nhiều mầu sắc‟‟ [18, Điều 72]. Các dấu hiệu này tiếp tục được
làm rõ thông qua Điều 73, Điều 74 quy định về dấu hiệu không được bảo hộ
với danh nghĩa nhãn hiệu, về khả năng phân biệt của nhãn hiệu. Khái niệm về
nhãn hiệu trong Luật Sở hữu trí tuệ 2005 đã có những thay đổi tích cực và gần
hơn với quy định trong Hiệp định TRIPs, từ đó tạo cơ sở cho việc thực thi
quyền SHTT có hiệu quả.
Từ những phân tích ở trên, QSHCN đối với nhãn hiệu có thể hiểu một
cách chung nhất là quyền của các chủ thể do pháp luật quy định hoặc thừa
nhận đối với các dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ với các chủ thể
khác, bao gồm dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ,
hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện
bằng một hoặc nhiều màu sắc.
19
Quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý:
Chỉ dẫn địa lý theo nghĩa đơn giản là dấu hiệu để chỉ dẫn đến một khu
vực địa lý cụ thể với các yếu tố tự nhiên, xã hội, kinh tế, dân cư… nhất định.
Do sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, những hàng hóa thông thường như
các sản phẩm nông ngiệp, thủ công nghiệp…ngày càng tham gia nhiều vào thị
trường khu vực và quốc tế. Những dấu hiệu chỉ dẫn xuất xứ địa lý của hàng
hóa là những loại nhãn mác ra đời sớm nhất để phân biệt sản phẩm của những
người sản xuất ở các vùng khác nhau. Thuật ngữ pháp lý “chỉ dẫn địa lý” mới
chỉ xuất hiện gần đây trong đàm phán quốc tế về SHTT và được chính thức
thừa nhận trong Hiệp định TRIPs 1994:
Trong Hiệp định này chỉ dẫn địa lý là những chỉ dẫn về hàng hoá bắt
nguồn từ lãnh thổ của một Thành viên hoặc từ khu vực hay địa
phương thuộc lãnh thổ đó, có chất lượng, uy tín hoặc đặc tính nhất
định chủ yếu do xuất xứ địa lý quyết định.” [35, Điều 22].