ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NINH THỊ THANH THỦY BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
ĐỐI VỚI CHỈ DẪN ĐỊA LÝ THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2009
HÀ NỘI - 2009
Mục lục Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các bảng Mở đầu
1
Chương 1: Khái quát chung về chỉ dẫn địa lý và quyền
sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý
6
1.1.
Khái niệm chỉ dẫn địa lý và quyền sở hữu công nghiệp
đối với chỉ dẫn địa lý
Khái niệm và đặc điểm của quyền sở hữu công nghiệp
đối với chỉ dẫn địa lý
18
1.1.1.2.
Phân biệt chỉ dẫn địa lý với chỉ dẫn nguồn gốc và tên
gọi xuất xứ
8
1.1.1.3.
Phân biệt chỉ dẫn địa lý với nhãn hiệu
10
1.1.1.4.
Phân biệt chỉ dẫn địa lý với tên thương mại
12
1.1.2.
Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn
địa lý
13
1.1.2.1.
Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp
13
1.1.2.2.
Đặc điểm của quyền sở hữu công nghiệp
14
1.1.2.3.
Khái niệm và đặc điểm của quyền sở hữu công nghiệp
đối với chỉ dẫn địa lý
18
1.2.
Vài nét về sự hình thành và phát triển của hệ thống
pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với
1.2.
Vài nét về sự hình thành và phát triển của hệ thống
pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với
chỉ dẫn địa lý trên thế giới và ở Việt Nam
20
1.2.1.
Lịch sử và hệ thống pháp luật quốc tế về bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý
20
1.2.2.
Lược sử về sự hình thành và phát triển của hệ thống
25
pháp luật Việt Nam về bảo hộ chỉ dẫn địa lý
1.3.
Hình thức bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với
chỉ dẫn địa lý
31
1.3.1.
Bảo hộ chỉ dẫn địa lý bằng pháp luật riêng
32
1.3.2.
Bảo hộ chỉ dẫn địa lý bằng pháp luật về nhãn hiệu tập
thể/ nhãn hiệu chứng nhận
33
1.3.3.
Bảo hộ chỉ dẫn địa lý bằng pháp luật chống cạnh tranh
không lành mạnh
35
1.4.
ý nghĩa của việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý
Điều kiện đối với đơn yêu cầu cấp Giấy chứng nhận
đăng ký chỉ dẫn địa lý
55
2.2.3.
Thủ tục xử lý đơn yêu cầu cấp Giấy chứng nhận đăng
ký chỉ dẫn địa lý
58
2.2.3.1.
Thẩm định hình thức
58
2.2.3.2.
Công bố đơn
59
2.2.3.3.
Thẩm định nội dung
60
2.2.3.4.
Cấp văn bằng bảo hộ
62
2.2.4.
Thời hạn bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý
63
2.2.5.
Các thủ tục khác liên quan đến xác lập quyền sở hữu
công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý
64
2.2.5.1.
Khiếu nại các quyết định liên quan đến việc xác lập
quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý
64
71
2.4.3.
Quyền yêu cầu xử lý vi phạm
72
2.5.
Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa
lý
75
2.5.1.
Xử lý hành vi xâm phạm bằng biện pháp dân sự
76
2.5.2.
Xử lý hành vi xâm phạm bằng biện pháp hành chính,
hình sự và hải quan
80
2.5.2.1.
Xử lý hành vi xâm phạm bằng biện pháp hành chính
80
2.5.2.2.
Xử lý hành vi xâm phạm bằng biện pháp hình sự
83
2.2.5.3.
Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa
lý bằng biện pháp kiểm soát biên giới
86
Chương 3: Thực trạng hoạt động bảo hộ chỉ dẫn
địa lý ở việt nam và giải pháp hoàn
thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ chỉ
dẫn địa lý
104
3.2.2.2.
Các quy định pháp luật về quản lý, sử dụng chỉ dẫn địa
lý
106
3.2.2.3.
Các quy định pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu công
nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý
107
3.3.
Đề xuất một số giải pháp tăng cường hiệu quả bảo hộ
quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý ở
111
Việt Nam
Kết luận
116
Danh mục tài liệu tham khảo
118
Danh mục các bảng
Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
3.1
dân.
Bảo hộ sở hữu trí tuệ vừa xuất phát từ nhu cầu tự thân của nền kinh tế -
xã hội nước ta trong quá trình phát triển, vừa là một đòi hỏi trong quá trình hội
nhập. Việc xây dựng và duy trì hệ thống bảo hộ sở hữu trí tuệ hữu hiệu là một
trong những yếu tố quan trọng và cần thiết của Việt Nam trong thời kỳ hiện
nay.
Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, Nhà nước ta đã ban hành khá
nhiều văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ như: Pháp lệnh
2
Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (1989), Pháp lệnh Bảo hộ quyền tác giả
(1994), Bộ luật Dân sự (1995), Bộ luật Hình sự (1999) và nhiều văn bản khác
để xử lý những vấn đề cơ bản trong giao dịch dân sự về sở hữu trí tuệ. Tuy
nhiên, quy định trong các văn bản pháp luật này chủ yếu là những quy định
mang tính nguyên tắc chung; các quy định cụ thể nằm rải rác ở nhiều văn bản
dưới luật nên thiếu tính đồng bộ và hiệu lực pháp lý, ảnh hưởng tới việc thực
thi quyền sở hữu trí tuệ ở trong nước và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Mặt khác, một số vấn đề mới xuất hiện do sự phát triển mạnh mẽ của khoa
học, công nghệ và yêu cầu của đời sống xã hội như bảo hộ thiết kế bố trí
mạch tích hợp, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh, quyền đối với bí
mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại… chưa có chế định pháp lý
điều chỉnh trong các văn bản quy phạm pháp luật này.
Trong khi đó, là một nước nông nghiệp, Việt Nam có rất nhiều nông
sản có chất lượng và tính chất đặc thù như gạo Hải Hậu, nhãn lồng Hưng Yên,
vải thiều Thanh Hà, xoài cát Hòa Lộc, v.v Ngoài nông sản, rất nhiều địa
phương của Việt Nam còn có các đặc sản nổi tiếng khác như nước mắm Phú
Quốc, bánh đậu xanh Hải Dương, bánh cuốn Thanh Trì, lụa Hà Đông, v.v
Những thương hiệu này có một giá trị thương mại rất lớn, là công cụ marketing
hữu hiệu trong nền kinh tế toàn cầu. Bảo hộ pháp lý hiệu quả các thương hiệu
này không chỉ góp phần nâng cao giá trị thương mại của hàng hóa Việt Nam
của Việt Nam về bảo hộ chỉ dẫn địa lý, nghiên cứu những vấn đề chung và cơ
bản nhất về bảo hộ chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam, nghiên cứu các hình thức bảo
hộ chỉ dẫn địa lý trên thế giới: (i) theo hệ thống đăng ký riêng; (ii) thông qua
đăng ký nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận theo luật nhãn hiệu
hàng hóa; và (iii) theo luật chống cạnh tranh không lành mạnh. Ngoài ra, đề tài
cũng nghiên cứu thực trạng hoạt động bảo hộ chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam. Qua
đó, đề tài đưa ra các yêu cầu và kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện các quy
định của pháp luật Việt Nam về bảo hộ chỉ dẫn địa lý cũng như tăng cường
hiệu quả bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam.
4
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Với mục đích và phạm vi nghiên cứu như đã đề cập ở trên, đề tài này
đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
- Khái niệm về chỉ dẫn địa lý, so sánh chỉ dẫn địa lý với một số đối
tượng sở hữu công nghiệp khác;
- Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp, đặc điểm của quyền sở hữu
công nghiệp và khái niệm quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý;
- Các quy định của hệ thống pháp luật quốc tế về chỉ dẫn địa lý;
- Các hình thức bảo hộ sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý:
(i) theo hệ thống pháp luật riêng; (ii) theo pháp luật về nhãn hiệu hàng hóa; và
(iii) theo pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh;
- Các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về điều kiện bảo hộ chỉ
dẫn địa lý, việc xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý, nội
dung quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý; bảo vệ quyền sở hữu
công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý;
- Thực trạng của hoạt động bảo hộ chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam qua đó
đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về bảo hộ chỉ dẫn địa
lý ở Việt Nam.
3. Phương pháp nghiên cứu
Đỗ Thị Loan làm chủ nhiệm đề tài
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Khái quát chung về quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ
dẫn địa lý.
6
Chương 2: Một số nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam về bảo hộ
chỉ dẫn địa lý.
Chương 3: Thực trạng hoạt động bảo hộ chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam và
giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ chỉ dẫn địa lý.
7
Chương 1
Khái quát chung về chỉ dẫn địa lý
và quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý
1.1. Khái niệm chỉ dẫn địa lý và quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa
lý
1.1.1. Khái niệm chỉ dẫn địa lý và so sánh chỉ dẫn địa lý với một số
đối tượng sở hữu công nghiệp khác
1.1.1.1. Khái niệm chỉ dẫn địa lý với tư cách là đối tượng của quyền
sở hữu công nghiệp
Ngoại trừ luật kiểu dáng công nghiệp, chắc hẳn không có một phạm
trù nào trong Luật Sở hữu trí tuệ lại tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về bảo
hộ như trong lĩnh vực chỉ dẫn địa lý. Thuật ngữ "chỉ dẫn địa lý" có thể là cách
thể hiện hay nhất, nó tương đối mới mẻ và chỉ xuất hiện gần đây trong các
cuộc đàm phán quốc tế [14, tr. 119].
Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp không đưa ra
gia, lãnh thổ, một vùng, một địa phương trong quốc gia đó hoặc lãnh thổ đó,
có chất lượng, danh tiếng hoặc các đặc tính khác của hàng hóa chủ yếu do
nguồn gốc địa lý của hàng hóa quyết định" [53].
Như vậy có thể thấy dù quy định khác nhau nhưng nhìn chung khái
niệm chỉ dẫn địa lý theo các Điều ước quốc tế và luật pháp một số quốc gia
đều thể hiện hai nội dung cơ bản sau đây:
Thứ nhất: Chỉ dẫn địa lý là những chỉ dẫn về nguồn gốc của hàng hóa.
Hàng hóa mang chỉ dẫn địa lý bắt nguồn từ lãnh thổ, địa phương hay khu vực
tương ứng với chỉ dẫn địa lý.
9
Thứ hai: Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý phải có chất lượng, uy tín hay
các đặc tính nhất định chủ yếu do xuất xứ địa lý của sản phẩm quyết định.
Pháp luật Việt Nam bắt đầu đề cập tới khái niệm chỉ dẫn địa lý tại
Nghị định số 54/2000/NĐ-CP ngày 3/10/2000 của Chính phủ về việc bảo hộ
quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên
thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới
sở hữu công nghiệp. Theo quy định của Điều 10 Nghị định số 54/2000/NĐ-CP,
có thể hiểu chỉ dẫn địa lý được bảo hộ là thông tin về nguồn gốc địa lý của
hàng hóa được thể hiện dưới dạng một từ ngữ, dấu hiệu, biểu tượng hoặc hình
ảnh, dùng để chỉ một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, địa phương thuộc một
quốc gia và được thể hiện trên hàng hóa, bao bì hàng hóa hay giấy tờ giao
dịch liên quan tới việc mua bán hàng hóa nhằm chỉ dẫn rằng hàng hóa nói trên
có nguồn gốc tại quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc địa phương mà đặc trưng về
chất lượng, uy tín, danh tiếng hoặc các đặc tính khác của loại hàng hóa này có
được chủ yếu là do nguồn gốc địa lý tạo nên.
Theo khoản 22 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, "chỉ dẫn địa lý là dấu
hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh
thổ hay quốc gia cụ thể".
Như vậy, khái niệm về chỉ dẫn địa lý theo pháp luật hiện hành của
Chất lượng và tính chất đặc thù của "Chè Ceylon" là do yếu tố tự nhiên quyết
định, còn đối với "Vải tuýt (tweed) Harris" là do yếu tố con người.
Như vậy, có thể thấy tên gọi xuất xứ được coi như một loại đặc biệt
của chỉ dẫn nguồn gốc bởi vì sản phẩm được gắn tên gọi xuất xứ phải có chất
lượng hoặc tính chất đặc thù do nơi xuất xứ của sản phẩm quyết định.
Chỉ dẫn nguồn gốc, tên gọi xuất xứ và chỉ dẫn địa lý có mối liên hệ
với nhau. Về nghĩa đen, các thuật ngữ nêu trên chỉ khác nhau ở hai từ "tên
gọi" (địa danh) và "chỉ dẫn" (gồm địa danh và các dấu hiệu khác). Chỉ dẫn
nguồn gốc là đối tượng có nghĩa rộng nhất bao hàm cả hai đối tượng còn lại.
11
Còn tên gọi xuất xứ là đối tượng có nghĩa hẹp nhất, thuộc cả hai đối tượng
còn lại. Nói cách khác, tên gọi xuất xứ là một dạng đặc biệt của chỉ dẫn địa lý,
chỉ dẫn địa lý là một dạng đặc biệt của chỉ dẫn nguồn gốc. Cụ thể hơn, chỉ dẫn
nguồn gốc đơn thuần chỉ đề cập tới nguồn gốc địa lý của sản phẩm trong khi
đó chỉ dẫn địa lý và tên gọi xuất xứ đề cập đến cả đặc tính của sản phẩm do
xuất xứ địa lý đem lại. Yêu cầu về mối quan hệ giữa sản phẩm với xuất xứ địa
lý đối với tên gọi xuất xứ chặt chẽ hơn so với chỉ dẫn địa lý. Đối với tên gọi
xuất xứ, sản phẩm phải có chất lượng và tính chất đặc thù do điều kiện địa lý
tự nhiên và con người tạo nên trong khi đó đối với chỉ dẫn địa lý, sản phẩm
chỉ có một đặc tính nào đó do nguồn gốc địa lý đem lại, bất kể đó là đặc tính
về chất lượng, danh tiếng hay đặc tính nào khác. Đối với tên gọi xuất xứ, toàn
bộ quy trình sản xuất (từ sản xuất nguyên liệu thô đến chế biến, tinh chế sản
phẩm) nhất thiết phải diễn ra tại khu vực địa lý tương ứng còn đối với chỉ dẫn
địa lý, chỉ cần một hoặc một số công đoạn sản xuất diễn ra tại địa phương đã
đủ tạo nên đặc tính của sản phẩm.
1.1.1.3. Phân biệt chỉ dẫn địa lý với nhãn hiệu
Chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu đều là các dấu hiệu có khả năng phân biệt
dùng cho hàng hóa, dịch vụ trong lưu thông thương mại. Do vậy, trên thực tế
- Chủ thể quyền sở
hữu - Quyền sử dụng
- Đặc điểm của sản
phẩm mang dấu hiệu
- Sự phụ thuộc vào
việc bảo hộ tại nước
xuất xứ
Chỉ dẫn địa lý dùng để phân biệt
một khu vực địa lý trên đó một
hoặc vài chủ thể sản xuất loại sản
phẩm mang chỉ dẫn địa lý của khu
bảo hộ ở một nước khác khi chỉ
dẫn địa lý đó đã được bảo hộ tại
nước xuất xứ.
Nhãn hiệu dùng để phân biệt một
cá nhân, tổ chức cung cấp một số
sản phẩm hoặc dịch vụ nhất định
trên thị trường. Ví dụ, "TRUNG
NGUYÊN" là một nhãn hiệu cho
sản phẩm cà phê của Công ty Cà
phê Trung Nguyên được dùng để
phân biệt với sản phẩm cà phê do
các chủ thể khác sản xuất. Người sử dụng nhãn hiệu có thể
là chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc
người được chủ sở hữu nhãn
hiệu cho phép sử dụng nhãn hiệu
đó thông qua hợp đồng li xăng.
Chủ sở hữu nhãn hiệu có độc
quyền sử dụng nhãn hiệu đã
được bảo hộ và có thể chuyển
giao quyền sử dụng nhãn hiệu
của mình thông qua hợp đồng li
xăng theo quy định của pháp luật
Chất lượng hàng hóa mang nhãn
hiệu có thể liên quan đến các yếu
- Hạn chế về phạm vi
bảo hộ
- Khai thác, sử dụng,
quản lý
Là dấu hiệu (có thể là tên gọi,
biểu tượng, hình ảnh tượng
trưng …) dùng để chỉ sản phẩm
có nguồn gốc từ khu vực, địa
phương, vùng lãnh thổ hay
quốc gia cụ thể
Đăng ký xác lập quyền sở hữu
công nghiệp đối với chỉ dẫn địa
khác trong cùng lĩnh vực và
khu vực kinh doanh
Quyền sở hữu công nghiệp đối
với tên thương mại tự động được
xác lập khi có đủ các điều kiện
theo quy định của pháp luật mà
không cần phải đăng ký tại cơ
quan nhà nước có thẩm quyền,
nghĩa là quyền sở hữu công
nghiệp đối với tên thương mại
được xác lập trên cơ sở sử dụng
hợp pháp tên thương mại đó
Tên thương mại chỉ được bảo
hộ trong phạm vi cùng một địa
bàn hoạt động của các chủ thể
kinh doanh, trong những lĩnh
vực kinh doanh cùng loại hoặc
liên quan đến lĩnh vực kinh
doanh mà tên thương mại đó
được chủ sở hữu sử dụng.
Việc khai thác, quản lý và sử
dụng tên thương mại là do chủ
sở hữu tên thương mại tiến
hành theo các quy định của
pháp luật.
14
ra trong quy chế quản lý và sử
dụng chỉ dẫn địa lý.
1.1.2. Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý
quyền sử dụng đối với tên gọi xuất xứ hàng hóa và quyền sở hữu đối với các
đối tượng khác do pháp luật quy định.
Khoản 4 Điều 4 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định: "Quyền
sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng
công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương
mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và
quyền chống cạnh tranh không lành mạnh".
1.1.2.2. Đặc điểm của quyền sở hữu công nghiệp
Quyền sở hữu công nghiệp là một loại quyền sở hữu, do vậy nó cũng
mang đặc điểm chung của quyền sở hữu (chẳng hạn chủ thể mang quyền luôn
xác định còn chủ thể mang nghĩa vụ là không xác định ). Ngoài ra, quyền sở
hữu công nghiệp còn có những đặc điểm riêng để phân biệt không chỉ với
quyền sở hữu tài sản vật chất mà còn phân biệt với quyền tác giả - một lĩnh
vực thuộc quyền sở hữu trí tuệ.
Quyền sở hữu công nghiệp có những đặc điểm cơ bản như sau:
a. Tính vô hình
Cũng giống như quyền tác giả, đối tượng quyền sở hữu công nghiệp
mang đặc trưng của đối tượng quyền sở hữu trí tuệ đó là đặc tính vô hình. Đặc
điểm này hoàn toàn khác với đặc tính hữu hình của sở hữu tài sản vật chất. Là
sản phẩm của sáng tạo trí tuệ, mang tính vô hình nên đối tượng của quyền sở
hữu trí tuệ nói chung và của quyền sở hữu công nghiệp nói riêng phải được
vật chất hóa hoặc được thể hiện trên các vật mang tin cụ thể. Nói cách khác,
tài sản trí tuệ vô hình phải được phản ánh, thể hiện thông qua những vật thể
hữu hình. Những vật thể hữu hình này lại chính là đối tượng của quyền sở
hữu tài sản vật chất. Như vậy, một vật thể hữu hình có thể vừa là đối tượng
của quyền sở hữu tài sản vật chất lại vừa chứa đựng trong nó đối tượng của
16
quyền sở hữu trí tuệ. Đặc tính vô hình của đối tượng quyền sở hữu trí tuệ là
đặc trưng quan trọng nhất dẫn đến nhiều đặc trưng quan trọng khác của quyền