1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRƯƠNG THỊ THANH TUYÊT
BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
ĐỐI VỚI BÍ MẬT KINH DOANH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2011
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT TRƯƠNG THỊ THANH TUYÊT
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2011
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT TRƯƠNG THỊ THANH TUYÊT BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
ĐỐI VỚI BÍ MẬT KINH DOANH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAMChuyên ngành: Luật dân sự
Mã số: 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Quế Anh Hà Nội – 2011
4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
toàn xã hội.
Theo quy luật khách quan của sự phát triển xã hội, muốn phát triển,
con người buộc phải làm theo đúng những quy luật của nó. Việc bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp đối với các đối tượng như sáng chế, kiểu dáng công
nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, … và bí mật kinh doanh là tuân
theo một trong các quy luật đó nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển lành mạnh
góp phần quan trọng làm thay đổi vượt bậc và căn bản mọi mặt đời sống kinh
tế - xã hội của nhân loại.
Khi loài người bắt đầu bước vào giai đoạn sản xuất hàng hóa thì các
thương nhân độc lập cũng bắt đầu biết tích luỹ những kinh nghiệm, những kỹ
năng sản xuất, kinh doanh của mình để tạo nên những ưu thế nhất định nhằm
cạnh tranh với những thương nhân khác. Và cũng để cạnh tranh, một trong
những quy luật của kinh tế thị trường, các thương nhân bắt buộc phải tìm tòi,
sáng tạo, nghiên cứu, tích lũy, phát triển bí quyết riêng. Điều quan trọng là
các bí quyết đó phải được giữ bí mật, không thể tiết lộ cho người khác thì mới
giữ được ưu thế trong kinh doanh. Chính những kinh nghiệm được tích lũy,
6
những kỹ năng đạt được, những bí quyết rút ra được trong quá trình sản xuất
kinh doanh đó mà được chính chủ sở hữu của chúng giữ bí mật được gọi là
“bí mật kinh doanh”.
Ban đầu thì các thương nhân tự bảo vệ bí mật kinh doanh của mình,
các bí mật đó có thể truyền từ đời này sang đời khác. Sau này do nhu cầu mở
rộng kinh doanh, do cạnh tranh ngày càng khốc liệt, hoặc do những hành vi
cạnh tranh không lành mạnh, việc bảo mật cho các BMKD gặp nhiều khó
khăn. Chính vì vậy, cần phải có sự góp mặt của công cụ hữu hiệu giúp các
thương nhân bảo vệ bí mật của mình, đó là pháp luật.
Nhu cầu bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh
xuất hiện cùng với sự phát triển của giao lưu thương mại nhằm bảo vệ quyền
của chủ sở hữu đối với đối tượng sở hữu công nghiệp này. Vấn đề bảo hộ
cụ thúc đẩy kinh tế phát triển từ phía chính các doanh nghiệp, phía nhà nước
và toàn xã hội.
Cho đến nay, qua khảo sát hạn hẹp của tác giả luận văn, sự nghiên cứu
về bảo hộ sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh ở Việt Nam còn
chưa được quan tâm tương xứng với vai trò của nó đối với sự phát triển chung
của nền kinh tế - xã hội. Những vấn đề về bí mật kinh doanh còn mới mẻ với
đa số các chủ thể kinh doanh và với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
trong việc quản lý. Mặt khác, khi tìm hiểu về vấn đề này, chúng tôi nhận thấy
đây là vấn đề thời sự hấp dẫn còn ẩn giấu những điều mới của một công cụ
đắc lực mà chúng ta chưa khai thác được nhiều công dụng của nó để phát
triển sản xuất kinh doanh trong mỗi doanh nghiệp nói riêng và trong sự
nghiệp phát triển kinh tế đất nước nói chung.
8
Bên cạnh đó, thực tiễn áp dụng các quy định liên quan đến BMKD
còn rất ít, hầu như không xảy ra trên thực tế, hiện tại ở Việt Nam vẫn chưa có
tranh chấp nào xảy ra về BMKD. Điều đó chứng tỏ người dân của chúng ta
nói chung cũng như các nhà kinh doanh nói riêng còn chưa quan tâm nhiều
đến đối tượng này.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn “Bảo hộ
quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh theo quy định của pháp
luật Việt Nam” làm đề tài cho luận văn cao học của mình với mong muốn có
cơ hội tìm hiểu, nghiên cứu những quy định của pháp luật hiện hành và thực
tiễn áp dụng, từ đó đưa ra những kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp
luật trong nước về bảo hộ bí mật kinh doanh. Hy vọng rằng luận văn hoàn
thành sẽ góp phần nhỏ cho việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí
mật kinh doanh ở Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập WTO
được hơn 4 năm (Việt Nam gia nhập WTO chính thức từ ngày 11/1/2007),
với đối tượng này của một số nước trên thế giới.
Về mục đích nghiên cứu của luận văn, trên cơ sở kế thừa và phát triển
các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước, luận văn tập trung làm rõ
những vấn đề lý luận, bản chất, nội dung của bí mật kinh doanh, vai trò, ý
nghĩa của việc bảo hộ. Muốn vậy, chúng tôi đã có sự nghiên cứu về sự hình
thành pháp luật bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh
trên thế giới và ở Việt Nam. Với mục đích nghiên cứu như trên, nhiệm vụ cụ
thể của luận văn là:
Tiếp cận một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về quyền sở
hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh;
10
Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, so sánh với các quy định của
các Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, từ đó chỉ ra những định
hướng hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí
mật kinh doanh.
4. Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận:
chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng, phép biện chứng của
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; quan
điểm của Đảng và Nhà nước ta về quyền sở hữu công nghiệp; thành tựu của
triết học, các chuyên ngành khoa học pháp lý như lịch sử pháp luật, lý luận
nhà nước và pháp luật, luật dân sự, luật sở hữu trí tuệ … và những luận điểm
khoa học trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết
trên các tạp chí khoa học về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp.
Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử
dụng kết hợp các phương pháp sau: Phương pháp duy vật biện chứng, Phương
pháp duy vật lịch sử, Phương pháp lịch sử cụ thể, Phương pháp thống kê,
Phương pháp luật học so sánh, Phương pháp phân tích - tổng hợp, Phương
12
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BÍ MẬT KINH DOANH VÀ BẢO HỘ
QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI BÍ MẬT KINH DOANH
1.1. Khái niệm bí mật kinh doanh và quyền sở hữu công
nghiệp đối với bí mật kinh doanh
1.1.1. Khái niệm bí mật kinh doanh
1.1.1.1. Khái niệm
Từ xa xưa con người đã biết giữ gìn các bí quyết nghề nghiệp của
mình. Các bí quyết này chính là thế mạnh, là lợi thế để họ cạnh tranh với các
đối thủ của mình. Là người kinh doanh ai cũng có bí mật thương mại hay bí
quyết sản xuất riêng. Những bí mật hay bí quyết riêng đó đem lại lợi ích cho
chủ sở hữu của nó nên chúng không thể chia sẻ cho người khác, chúng tồn tại
dưới dạng thông tin và được bảo vệ để không bị lộ ra bên ngoài. Đơn giản là
vì nếu người khác biết được nội dung của bí quyết đó thì có nghĩa là thông tin
đó không còn bí mật, giá trị của nó hay khả năng cạnh tranh đã mất, lợi thế
trong kinh doanh đã không còn. Việc tạo ra hay có được thông tin bí mật là
rất quan trọng nhưng việc bảo mật chúng cũng quan trọng không kém. Lúc
đầu các bí quyết đó là bí mật riêng của cá nhân và được giữ gìn bởi cá nhân,
được tích lũy, phát triển từ đời này sang đời khác hoặc chỉ truyền cho những
người thân thuộc nhất của họ. Sau này khi trình độ sản xuất phát triển cao
hơn, chủ sở hữu các bí mật kinh doanh bên cạnh các biện pháp bảo mật của
mình còn được nhà nước thông qua hệ thống pháp luật góp phần đắc lực vào
việc giữ gìn các bí mật đó. Chính các quy định của pháp luật trong việc chống
lại những hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh của các chủ thể sản xuất kinh
doanh được thiết lập một cách có hệ thống ở các nước hiện nay đã tạo nên sự
bảo hộ của nhà nước đối với các bí mật kinh doanh, bảo hộ kết quả của một
Như vậy bí mật kinh doanh là một dạng của thông tin bí mật. Phần lớn
các nước hiện nay đều có quy định về bảo hộ BMKD, phù hợp với Điều 10bis
của Công ước Paris. BMKD có vai trò quyết định trong việc tạo ưu thế cạnh
tranh giữa người nắm thông tin và những người khác. Để được bảo hộ, người
sở hữu BMKD phải có ý định giữ BMKD và thực hiện các biện pháp cụ thể
cần thiết để giữ bí mật chúng trên thực tế.
Tại Việt Nam, Nghị định 54/2000/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 3-10-
2000 cũng đã quy định về bảo hộ BMKD. Theo quy định của pháp luật Việt
nam hiện hành, Khái niệm bí mật kinh doanh được quy định tại khoản 23
Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005: “Bí mật kinh doanh là thông tin thu được
từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử
dụng trong kinh doanh”.
Trên thực tế kinh doanh ngày nay, các thương nhân có thể coi nhiều
loại thông tin khác nhau là bí mật kinh doanh. Đó có thể là các thông tin khoa
học như hướng nghiên cứu phát triển khoa học, các kết quả nghiên cứu khoa
học…Hoặc đó có thể là thông tin công nghệ, kỹ thuật như các công thức pha
chế, quy trình sản xuất, cấu trúc của sản phẩm, mã nguồn của các chương
trình máy tính, sơ đồ kiến trúc…Hay đó có thể là các thông tin thương mại
như danh sách khách hàng, nhu cầu, thái độ, cơ cấu tiêu dùng của khách hàng,
phương án cung ứng, lưu trữ, chăm sóc khách hàng, kế hoạch, chiến lược kinh
doanh tiếp thị, quảng cáo, ý tưởng kinh doanh, kết quả nghiên cứu, khảo sát
thị trường… Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định các thông tin bí mật không
được bảo hộ dưới danh nghĩa bí mật kinh doanh gồm các loại thông tin sau:
15
các bí mật nhân thân, về quản lý nhà nước, về an ninh, quốc phòng, các thông
tin bí mật khác không liên quan đến kinh doanh.
1.1.1.2. Đặc điểm
Bí mật kinh doanh là một đối tượng đặc biệt của quyền sở hữu công
nghiệp, ngoài những tính chất chung của các đối tượng quyền sở hữu công
thông tin dù có giá trị đến mấy cũng không còn là BMKD và không còn là ưu
thế của chủ sở hữu BMKD nữa. Do đó, trước tiên thông tin đó phải còn tồn tại
trong tình trạng bí mật, thông tin hoặc phần quan trọng của thông tin đó phải
không được dễ biết hoặc dễ suy đoán. Không cần thiết tất cả các phần của
thông tin đều phải bí mật mà sự bí mật có thể chỉ là sự kết hợp của những
điều đã biết. Những người quan tâm đến BMKD không thể dễ dàng có được
chúng thông qua các phương tiện truyền thông thông thường như sách, báo,
giáo trình hay các tài liệu khoa học, các tác phẩm văn học, nghệ thuật …
Phạm vi những người biết BMKD là rất hạn chế, chỉ những người được chủ
sở hữu thông tin thực sự tin tưởng thì mới được phép sử dụng hoặc quản lý
BMKD. Tất cả những người làm việc có liên quan đến BMKD đều phải có
các cam kết về bảo mật thông tin, ví dụ như cam kết trong hợp đồng lao động
về trách nhiệm giữ BMKD giữa người lao động và người sử dụng lao động.
Trong Hiệp định TRIPS, tại khoản 2 Điều 39 đã nói về tính bí mật của
BMKD như sau: “Có tính bí mật nghĩa là những người thường xuyên xử lý
thông tin đó nói chung không thể biết đến hoặc không thể dễ dàng tiếp cận
thông tin đó dưới dạng thông tin toàn bộ, tức là dưới dạng ghép nối theo trật
tự chính xác mọi chi tiết của thông tin đó”.
17
Chính vì tính bí mật của thông tin mà bí mật kinh doanh có cơ chế xác
lập quyền một cách tự động, tức là không cần phải đăng ký bảo hộ như sáng
chế hay kiểu dáng công nghiệp. Cũng có thể do thông tin trong bí mật kinh
doanh quá quý báu đối với người tạo ra nó và với các đối thủ cạnh tranh nên
không thể tiết lộ được tạo nên tính bí mật của thông tin. Điều này làm cho
việc soạn thảo hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng bí mật kinh doanh trở
nên phức tạp do bên chuyển giao không biết được bên nhận chuyển giao đã
biết đến thông tin này hay chưa, họ cũng không thể mô tả cụ thể về thông tin
đó rồi hỏi phía bên kia xem họ có muốn nhận chuyển giao hay không. Về phía
người đi mua quyền sử dụng bí mật kinh doanh cũng không thể ký hợp đồng
năng sử dụng trong kinh doanh đem lại lợi thế nhất định cho chủ sở hữu. Đó
là một trong những tài sản trí tuệ, là thành quả lao động, nghiên cứu, sáng tạo
của con người cần được bảo vệ và phát triển khuyến khích sáng tạo trong kinh
doanh và tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh.
Ở nước ta, chúng ta cũng đã ý thức được vai trò quan trọng của các
BMKD cũng như các đối tượng khác của quyền sở hữu công nghiệp nhưng
phải đến khi Chính phủ ban hành Nghị định 54/2000/NĐ-CP ngày 3/10/2000
chúng ta mới chính thức bảo hộ đối tượng này. Trong Nghị định này, tại
khoản 1Điều 6, BMKD được ghi nhận là thành quả đầu tư dưới dạng thông
tin và phải thỏa mãn các điều kiện mà Nghị định quy định. Với những quy
định của Nghị định này thì thực chất pháp luật vẫn chưa đưa ra được khái
19
niệm của BMKD mà mới chỉ đề cập đến các điều kiện để một thông tin được
bảo hộ như một BMKD.
Năm 2005, khi Luật Sở hữu trí tuệ ra đời, đánh dấu một sự phát triển
mới trong khoa học pháp lý về sở hữu trí tuệ ở Việt Nam một cách toàn diện,
phù hợp với các điều ước quốc tế song phương và đa phương, thúc đẩy và bảo
vệ cho các quan hệ sở hữu trí tuệ trong đó có những quy định tương đối đầy
đủ về BMKD. Theo khoản 23 Điều 4 Luật này thì: “Bí mật kinh doanh là
thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ chưa được bộc lộ và
có khả năng sử dụng trong kinh doanh”.
Khái niệm BMKD nói trên đã phản ánh được đầy đủ những đặc trưng
mang tính bản chất của BMKD đó là tính thông tin, tính bí mật và tính có giá
trị thương mại.
1.1.2. Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh
doanh
1.1.2.1. Khái niệm
Các sản phẩm khoa học, kỹ thuật do con người sáng tạo ra có đặc
trưng khác biệt so với các sản phẩm thông thường đó là người sáng tạo ra nó
đối với BMKD, đó chính là sự độc quyền thực tế của một chủ thể xác định
đối với một tập hợp kiến thức nhất định - BMKD. Việc bảo hộ quyền sở hữu
công nghiệp đối với BMKD chủ yếu dựa trên cơ sở các biện pháp mà chủ sở
hữu áp dụng trên thực tế nhằm bảo vệ quyền của mình đối với những thông
tin gọi là BMKD. Những công cụ pháp lý mà nhà nước dành cho chủ sở hữu
BMKD có thể bảo vệ một cách hữu hiệu các BMKD khỏi sự vi phạm của
21
những người khác như các quy định về những hành vi xâm phạm quyền sở
hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, xử lý hành vi xâm phạm… nhưng
chúng lại kém hiệu quả hơn so với công cụ tương ứng của các chủ sở hữu đối
tượng quyền sở hữu trí tuệ khác như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn
hiệu… Do vậy, “sự sống còn của các quyền năng của chủ sở hữu đối với
BMKD phụ thuộc vào chính chủ sở hữu, vào sự toàn diện và hiệu quả của các
biện pháp mà chủ sở hữu áp dụng nhằm bảo về độc quyền của mình đối với
thông tin”[1]. Sự độc quyền thực tế này là đặc điểm riêng chỉ chủ sở hữu
BMKD mới có, và nó phát sinh ngay khi một tập hợp kiến thức nhất định hội
đủ các điều kiện của một BMKD. Chính những biện pháp thực tế mà chủ sở
hữu BMKD áp dụng nói trên mà thể hiện sự độc quyền thực tế của họ đối với
BMKD cũng là một trong những điều kiện bắt buộc để thành quả đầu tư dưới
dạng thông tin được coi là BMKD. Để được bảo hộ, người sở hữu BMKD
phải có ý định giữ BMKD và thực hiện các biện pháp cần thiết để giữ bí mật
đó.
Thứ hai, với tư cách là một đối tượng của quyền SHCN, BMKD
có tính chất tổng hợp cao. Nếu như các đối tượng khác của quyền sở hữu
công nghiệp như sáng chế, giải pháp hữu ích, nhãn hiệu hàng hóa… là những
kết quả xác định của hoạt động sáng tạo thì BMKD có thể là tập hợp những
thông tin thuộc nhiều mặt khác nhau của lĩnh vực kinh doanh như sản xuất,
quản lý, tài chính, thương mại…, hoặc tồn tại trong nhiều loại hình thức thể
hiện khác nhau như kết quả nghiên cứu khoa học, công thức pha chế, quy
xác lập và bảo hộ tự động, không cần đăng ký, không phải trả lệ phí. Và đây
cũng là phương thức bảo hộ có nhiều ưu điểm mà nhiều chủ sở hữu thành quả
23
lao động sáng tạo ưu tiên lựa chọn để bảo hộ cho các sản phẩm trí tuệ của
mình.
1.1.3. Phân biệt bí mật kinh doanh với sáng chế
Quyền sở hữu công nghiệp bao gồm nhiều đối tượng như sáng chế,
kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên
thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh và quyền chống cạnh tranh
không lành mạnh. Chúng đều là các sản phẩm vô hình và là kết quả của hoạt
động lao động sáng tạo nên giữa chúng có sự giao thoa nhất định với nhau.
Pháp luật đã quy định cho mỗi đối tượng một chế độ pháp lý khác nhau để
điều chỉnh và bảo vệ một cách tốt nhất quyền của các chủ thể sở hữu công
nghiệp.
Những đối tượng sở hữu công nghiệp (sáng chế, kiểu dáng) khi chưa
đăng ký bảo hộ phải có tính mới, lúc này chúng tồn tại với hình thức là bí mật
kinh doanh. Nhưng tùy thuộc tình hình phát triển công nghệ trên thị trường, bí
mật kinh doanh được đăng ký sẽ trở thành một đối tượng sở hữu công nghiệp
cụ thể. Do vậy, để áp dụng pháp luật về sở hữu công nghiệp một cách có hiệu
quả hơn, chúng ta cần phân biệt rõ ràng các đối tượng nói trên. BMKD như
trên đã đề cập đến, có tính chất tổng hợp cao, do đó việc phân biệt chúng với
các đối tượng còn lại là cần thiết và có ý nghĩa, đặc biệt với sáng chế. Việc
phân biệt BMKD với đối tượng này giúp chúng ta có thể hiểu rõ hơn bản chất
của BMKD.
Theo Khoản 12 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung một
số điều 2009 thì: “Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc
quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy
luật tự nhiên”.
24