Hoàn thiện pháp luật về bảo hộ
quyền sở hữu công nghiệp đối với
bí mật kinh doanh
Bí mật kinh doanh là một loại tài sản trí tuệ rất có giá trị vì nó tạo
ra lợi thế riêng của chủ sở hữu BMKD so với các đối thủ cạnh
tranh khác.
Bí mật kinh doanh (BMKD) là một loại tài sản trí tuệ rất có giá
trị vì nó tạo ra lợi thế riêng của chủ sở hữu BMKD so với các đối
thủ cạnh tranh khác. Theo Điều 39 của Hiệp định TRIPs (Hiệp
định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở
hữu trí tuệ - SHTT), việc bảo hộ quyền SHTT đối với thông tin bí
mật (TTBM) là nghĩa vụ pháp lý bắt buộc đối với các quốc gia
thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới nhằm tạo dựng và
phát triển các quan hệ thương mại lành mạnh và bình đẳng. ở
nước ta, việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) đối với
BMKD được ghi nhận tại Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Sở hữu
trí tuệ (Luật SHTT) và một số văn bản hướng dẫn thực hiện Luật
SHTT. Tuy nhiên, so với quy định của các điều ước quốc tế mà
Việt Nam là thành viên cũng như pháp luật của nhiều nước trên
thế giới, pháp luật nước ta về bảo hộ BMKD vẫn chưa đầy đủ,
đang bộc lộ những hạn chế nhất định cần tiếp tục hoàn thiện.
1. Thực trạng pháp luật về bảo hộ bí mật kinh doanh
Theo quy định của các văn bản pháp luật hiện hành, việc bảo hộ
quyền SHCN đối với BMKD tập trung vào một số nội dung cơ
bản sau:
điều kiện bảo hộ đối với BMKD là rất quan trọng. Theo quy định
của Điều 84 Luật SHTT, BMKD sẽ được bảo hộ khi đáp ứng các
điều kiện sau: không phải là hiểu biết thông thường và không dễ
dàng có được; khi được sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo cho
người nắm giữ lợi thế so với người không nắm giữ hoặc không sử
dụng BMKD đó; được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp
cần thiết để BMKD đó không bị bộc lộ và không dễ dàng tiếp cận
được.
Ngoài ra, theo tinh thần của Điều 8 Luật SHTT, thì các BMKD
trái với đạo đức xã hội, xâm phạm tới lợi ích của Nhà nước, lợi
ích công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh sẽ không được
pháp luật Việt Nam bảo hộ.
Về cơ bản, các điều kiện bảo hộ theo quy định của pháp luật nước
ta đã thể hiện được ba đặc điểm chính của BMKD là: tính bí mật;
có giá trị; và được chủ sở hữu bảo mật. Tuy nhiên, so sánh với
quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, chúng
ta thấy có một số điểm khác biệt như:
- Theo Điều 39 của Hiệp định TRIPs, một trong các điều kiện
quan trọng để TTBM được bảo hộ là phải có giá trị thương mại
(commercial value). Cụ thể, Khoản 2, Điều 39 Hiệp định TRIPs
quy định thông tin được bảo hộ phải đáp ứng các điều kiện: “có
tính chất bí mật nghĩa là các thông tin đó không phổ biến hoặc
không dễ dàng tiếp cận thông tin đó dưới dạng thông tin toàn bộ,
tức là dưới dạng ghép nối theo trật tự chính xác mọi chi tiết của
thông tin đó đối với những người thường xuyên giải quyết với
các loại thông tin như vậy; có giá trị thương mại vì nó có tính
chất bí mật, và được người kiểm soát hợp pháp thông tin đó giữ
bí mật bằng các biện pháp hợp lý”.
Điều 9, Chương 2 Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ
cũng quy định tương tự. Như vậy, pháp luật Việt Nam chưa thể
SHTT). Điều này hoàn toàn phù hợp với tính chất đặc thù của
BMKD cũng như các quy định của các điều ước quốc tế mà Việt
Nam là thành viên. Tuy nhiên, thời điểm chấm dứt quyền SHCN
đối với BMKD lại chưa được pháp luật Việt Nam đề cập tới dẫn
đến nhiều khó khăn cho việc giải quyết các tranh chấp, khiếu*
kiện liên quan đến BMKD.
1.3. Quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu bí mật kinh doanh
Quyền của chủ sở hữu bí mật kinh doanh
Theo Điều 123 Luật SHTT, chủ sở hữu BMKD có các quyền:
Thứ nhất, sử dụng, cho phép người khác sử dụng BMKD. Được
coi là “sử dụng” BMKD khi chủ thể thực hiện một trong các hành
vi được quy định tại Điều 124 Luật SHTT, bao gồm: áp dụng
BMKD để sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ, thương mại
hàng hoá; bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán, nhập khẩu sản
phẩm được sản xuất do áp dụng BMKD;
Thứ hai, ngăn cấm người khác sử dụng BMKD. Chủ sở hữu
BMKD không có quyền ngăn cấm người khác thực hiện các hành
vi sau (Khoản 3, Điều 125 Luật SHTT):
- Bộc lộ, sử dụng BMKD thu được khi không biết và không có
nghĩa vụ phải biết BMKD đó do người khác thu được một cách
bất hợp pháp;
- Bộc lộ dữ liệu bí mật nhằm bảo vệ công chúng. Đây là trường
hợp bộc lộ các kết quả thử nghiệm hoặc các dữ liệu liên quan đến
việc lưu hành các dược phẩm, các nông hoá phẩm đã được quy
định cụ thể tại Điều 128 Luật SHTT.
- Sử dụng dữ liệu bí mật liên quan đến các loại dược phẩm, nông
hoá phẩm không nhằm mục đích thương mại;
- Bộc lộ, sử dụng BMKD được tạo ra một cách độc lập. Trong
trường hợp này người tạo ra BMKD phải chứng minh được tính
“độc lập” trong việc đã tạo ra BMKD mà người đó sử dụng.
BMKD đã được Hiệp định TRIPs và pháp luật các nước quy định
rất cụ thể;
- Các quy định về sử dụng BMKD chưa khái quát được tất cả các
hành vi sử dụng BMKD trên thực tế;
- Về chuyển giao quyền SHCN đối với BMKD, pháp luật Việt
Nam đã không quy định cụ thể về nghĩa vụ phải giữ bí mật
BMKD đối với Bên chuyển giao quyền và Bên được chuyển
giao. Mặt khác, pháp luật cũng chưa làm rõ việc Bên nhận được
chuyển giao quyền sử dụng BMKD có được tiếp tục sử dụng
BMKD đó sau khi hợp đồng chuyển giao hết hiệu lực?
- Pháp luật lao động Việt Nam chưa đề cập đến quyền và nghĩa
vụ của người lao động và người sử dụng lao động đối với việc
quản lý, bộc lộ, khai thác sử dụng BMKD. Nếu công việc của
người lao động được phép tiếp cận đối với BMKD, thì họ có
nghĩa vụ phải giữ bí mật hay không và nghĩa vụ đó tồn tại tới khi
nào? Điều khoản giữ bí mật đối với BMKD có là điều khoản bắt
buộc của hợp đồng lao động? Sau khi chấm dứt hợp đồng lao
động, người lao động có được quyền sử dụng hoặc phát triển
BMKD của người sử dụng lao động?
1.4. Về hành vi vi phạm bí mật kinh doanh
Theo Khoản 1, éiều 127 Luật SHTT, hành vi vi phạm BMKD bao
gồm các hành vi sau:
a) Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc BMKD bằng cách chống lại
các biện pháp bảo mật của người kiểm soát hợp pháp BMKD đó.
Người kiểm soát BMKD trong trường hợp này bao gồm chủ sở
hữu BMKD, người được chuyển giao hợp pháp quyền sử dụng
BMKD;
b) Bộc lộ, sử dụng thông tin thuộc BMKD mà không được phép
của chủ sở hữu BMKD đó (loại trừ các trường hợp ngoại lệ đã
được nêu tại Khoản 3, Điều 125 Luật SHTT)
130 của Luật SHTT có đề cập đến hành vi cạnh tranh không lành
mạnh trong lĩnh vực SHTT; nhưng việc Bên thứ ba xâm phạm
BMKD của chủ sở hữu hoặc của người kiểm soát BMKD lại
không có trong nội dung của Điều luật. Điều đó là chưa phù hợp
với quy định của Hiệp định TRIPs, bởi mục đích trước tiên trong
việc bảo hộ quyền SHTT đối với TTBM theo quy định của Hiệp
định này là tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể: “để
đảm bảo việc chống cạnh tranh không lành mạnh một cách hữu
hiệu các nước thành viên phải có nghĩa vụ bảo hộ TTBM”
(Khoản 1, Điều 39 Hiệp định TRIPs);.
- Các hành vi vi phạm BMKD trong lĩnh vực quan hệ lao động,
trong lĩnh vực chuyển giao quyền SHTT đối với BMKD cũng
chưa được pháp luật Việt Nam đề cập tới.
2. Các giải pháp hoàn thiện
Các hạn chế trên tồn tại trong pháp luật Việt Nam là khó tránh
khỏiC, bởi việc bảo hộ quyền SHCN đối với BMKD là một lĩnh
vực còn rất mới và thực sự chưa được chú trọng tại Việt Nam.
Trong một thời gian dài chúng ta mới chỉ tập trung vào một số
đối tượng được xem là “nóng” của quyền SHTT, như: bản quyền,
nhãn hiệu hàng hoá, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp còn các
đối tượng khác, trong đó có BMKD hầu như không được chú ý
tới. Trong giai đoạn hiện nay, xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn,
để bảo đảm thực hiện đúng, đầy đủ các cam kết quốc tế cũng như
phù hợp với các điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, pháp luật
Việt Nam về bảo hộ quyền SHCN đối với BMKD cần phải được
hoàn thiện hơn nữa theo hướng tập trung vào một số nội dung
chính sau:
2.1. Quy định cụ thể hơn về phạm vi và điều kiện bảo hộ
Học tập kinh nghiệm của các nước, pháp luật Việt Nam khi quy
định về BMKD cần đưa ra các tiêu chí mang tính chuẩn mực để
tượng SHCN” quyền được ngăn chặn các chủ thể khác bộc lộ
một cách bất hợp pháp đối tượng SHCN của mình.
Ngoài các trường hợp được nêu tại Khoản 4 Điều 124, Luật
SHTT cần bổ sung thêm một số hành vi sử dụng BMKD hợp
pháp khác của chủ sở hữu như: góp vốn, cầm cố, thế chấp đối với
BMKD.
2.3. Quy định thời điểm chấm dứt quyền sở hữu công nghiệp
đối với bí mật kinh doanh
Xác định thời điểm chấm dứt quyền SHCN đối với BMKD là vô
cùng quan trọng vì vấn đề này liên quan trực tiếp đến quyền và
nghĩa vụ cũng như trách nhiệm pháp lý của các bên chủ thể. Do
vậy, pháp luật cần quy định cụ thể về thời điểm chấm dứt quyền
SHCN đối với BMKD. Căn cứ vào tính chất, đặc điểm của
BMKD, thời điểm chấm dứt quyền SHCN đối với BMKD sẽ rơi
vào một trong các trường hợp sau: 1) Chủ sở hữu BMKD chuyển
giao quyền sở hữu đối với BMKD cho chủ thể khác; 2) BMKD
không đảm bảo các điều kiện để được bảo hộ theo quy định của
pháp luật, ví dụ như không còn tính bí mật hoặc không còn giá trị
thương mại…; 3) BMKD đã bị tiêu huỷ.
2.4. Quy định các vấn đề liên quan đến chuyển giao quyền sở
hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh
Pháp luật về SHTT cần bổ sung các quy định về nghĩa vụ phải
giữ bí mật đối với BMKD của Bên chuyển giao quyền và Bên
được chuyển giao khi ký kết hợp đồng chuyển giao quyền SHCN
đối với BMKD (nghĩa vụ này tồn tại ngay cả khi hợp đồng đã hết
hiệu lực, trừ khi các bên có thoả thuận khác). Bên nhận được
chuyển giao quyền sử dụng BMKD phải chấm dứt việc sử dụng
BMKD đó sau khi hợp đồng chuyển giao hết hiệu lực. Tuy nhiên,
nếu BMKD đã được bên nhận chuyển giao phát triển, cải tiến, thì
việc sử dụng đó là hoàn toàn hợp pháp.
Secrets Act 1979
(Bài đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 156-thang-10-
2009 ngày 20/10/2009) ThS Nguyễn Thái Mai, Giảng viên Khoa
quốc tế - Đại học Luật Hà Nội.