Quy định pháp luật về xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu tại việt nam - Pdf 38

Trang 1
Sinh viên thực hiện: Dư Hồng Nhung

Khoa: Luật Kinh tế

MỞ ĐẦU
1.

Tính cấp thiết của đề tài
Sở hữu trí tuệ là một trong những vấn đề được pháp luật quốc tế và quốc gia
quan tâm hàng đầu hiện nay. Ở Việt Nam, trong nhiều năm gần đây vấn đề này được
coi là vấn đề nóng bỏng, thu hút rất nhiều sự chú ý từ phía chủ thể sản xuất kinh doanh.
Một trong những nội dung này là việc xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với các
đối tượng khác nhau.
Với vai trò là một trong số các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp, nhãn
hiệu là một trong những thành tố góp phần vào sự phát triển và sự thành công của
doanh nghiệp, đó là yếu tố đầu tiên và quan trọng trong chiến lược xâm nhập và mở
rộng thị trường, quyết định sự thành bại của doanh nghiệp trong thị trường mới. Trong
thực tế, nhãn hiệu là một trong những đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp đang bị
xâm phạm nhiều nhất. Các hành vi như làm hàng giả, hàng nhái…không chỉ gây thiệt
hại về vật chất, uy tín của các doanh nghiệp, nhà sản xuất mà còn ảnh hưởng đến quyền
lợi của người tiêu dùng - những người sử dụng trực tiếp các sản phẩm hàng hóa, dịch
vụ đó. Đặc biệt trong thời kỳ hội nhập hiện nay, khi mà các sản phẩm hàng hóa, dịch
vụ trao đổi không chỉ giới hạn trong phạm vi các quốc gia mà còn trên thị trường khu
vực và quốc tế, vấn đề bảo hộ nhãn hiệu được đặt ra đối với tất cả các quốc gia.
Nhận thức được tầm quan trọng của nhãn hiệu cũng như việc bảo hộ nhãn hiệu, là một
sinh viên ngành Luật, em xin chọn đề tài: “Quy định pháp luật về xác lập quyền sở hữu
công nghiệp đối với nhãn hiệu tại Việt Nam” làm khảo luận tốt nghiệp của mình.
2.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

nhãn hiệu cùng với việc phân tích luật và thực trạng của hoạt động xác lập quyền sở
hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu tại Việt Nam. Đồng thời thông qua đó đưa ra những
đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện quá trình xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với
nhãn hiệu tại Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ một số vấn đề lý luận về quyền sở hữu công nghiệp nói chung và xác
lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nói riêng theo quy định pháp luật tại
Việt Nam.
-

Phân tích điều kiện, thủ tục, quy trình xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối

với nhãn hiệu theo quy định pháp luật Việt Nam. Từ đó, đặt ra những vấn đề, nội dung
pháp lý bất cập cần được khắc phục, sửa đổi, bổ sung.
-

Đưa ra những kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật Việt

Nam về xác lập quyền sở hữu công nghiệp.
4.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận là nội dung quy định về quyền
sở hữu công nghiệp, xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo pháp
luật Việt Nam thể hiện trong: Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009
(sau đây gọi là Luật Sở hữu trí tuệ) và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Sở hữu trí
tuệ.
5.


Sinh viên thực hiện: Dư Hồng Nhung

Khoa: Luật Kinh tế

CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU
1.1.

Khái niệm và đặc điểm của quyền sở hữu công nghiệp

1.1.1.

Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp

Quyền sở hữu công nghiệp là một trong các nhánh của quyền sở hữu trí tuệ. Vì
vậy, trước khi tìm hiểu về quyền sở hữu công nghiệp có thể tìm hiểu quyền sở hữu trí
tuệ là gì.
Quyền sở hữu trí tuệ có thể được hiểu một cách chung nhất là quyền sở hữu
đối với những kết quả sáng tạo trí tuệ mang tính vô hình nhưng lại có ý nghĩa rất lớn
khi được ứng dụng vào các sản phẩm hữu hình và ngày càng có vị trí, vai trò quan
trọng trong đời sống vật chất và tinh thần của con người. Đối tượng của quyền sở hữu
trí tuệ bao gồm những tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, cuộc biểu diễn, bản ghi
âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa,
sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh
doanh, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, vật liệu nhân giống, vật liệu thu
hoạch,… Thuật ngữ sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu trí tuệ được hình thành và được đề
cập đến cùng với quá trình sử dụng trí tưởng tượng và tri thức của con người để đổi
mới, sáng tạo nhằm giảm thiểu tối đa sức lao động và chi phí tạo ra sản phẩm. Ngày
nay, thuật ngữ này đang được sử dụng ngày càng rộng rãi trong đời sống xã hội.

khi đáp ứng yêu cầu nêu tại Điều 6 khoản 2 và Điều 17 khoản 4 Luật Sở hữu trí tuệ.
Giống như quyền tác giả, quyền liên quan chỉ được bảo hộ trong thời hạn nhất định kể
cả các quyền nhân thân.
Quyền sở hữu công nghiệp
Quyền sở hữu công nghiệp đề cập đến quyền của người sáng tạo và nhà đầu tư
sáng tạo liên quan đến các đối tượng thuộc lĩnh vực quyền sở hữu công nghiệp gồm:
Sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên
thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và
quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.
Quyền đối với giống cây trồng
Nhìn chung, quyền đối với giống cây trồng có thể được hiểu là tổng hợp các
quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, chủ văn bằng bảo hộ giống cây trồng do
có việc chọn tạo, phát hiện, phát triển, sử dụng, chuyển giao cho người khác, để thừa
kế, kế thừa và quyền được bảo vệ khi quyền của tác giả, chủ văn bằng bảo hộ đối với
giống cây trồng bị xâm phạm.
Như vậy, có thể thấy quyền sở hữu trí tuệ được hiểu là quyền bao gồm các nội
dung, quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp
và quyền đối với giống cây trồng.
Từ những trình bày trên, có thể thấy quyền sở hữu công nghiệp là một bộ phận
cấu thành quyền sở hữu trí tuệ. Quyền sở hữu công nghiệp có thể được hiểu theo các
khía cạnh khác nhau cụ thể như sau:

Đề tài khóa luận tốt nghiệp: Quy định pháp luật về xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
tại Việt Nam


Trang 6
Sinh viên thực hiện: Dư Hồng Nhung

Khoa: Luật Kinh tế

được xác lập thông qua việc nộp đơn đăng ký và cấp văn bằng bảo hộ hoặc có thể được
xác lập một cách tự động nếu đối tượng sở hữu công nghiệp đáp ứng những tiêu chuẩn
bảo hộ nhất định do pháp luật quy định.
Quyền sở hữu công nghiệp chỉ được pháp luật bảo hộ khi chúng đã được cơ
quan nhà nước chính thức cấp văn bằng bảo hộ.

Đề tài khóa luận tốt nghiệp: Quy định pháp luật về xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
tại Việt Nam


Trang 7
Sinh viên thực hiện: Dư Hồng Nhung

Khoa: Luật Kinh tế

Về chủ thể quyền sở hữu công nghiệp:
Chủ thể quyền sở hữu công nghiệp chỉ có thể là những cá nhân, tổ chức đáp
ứng các điều kiện tương ứng với từng loại đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định
của pháp luật.
Về đối tượng quyền sở hữu công nghiệp:
Đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp là những sản phẩm vô hình chỉ có thể
được định tính, định lượng khi ứng dụng vào các loại sản phẩm hữu hình hoặc các hoạt
động cụ thể.
Về phạm vi, thời hạn bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp:
Quyền sở hữu công nghiệp chỉ có thể được bảo hộ trong một khoảng thời gian
xác định tùy thuộc vào từng loại đối tượng và chỉ giới hạn trong một phạm vi lãnh thổ
xác định.
Có thể chia thời hạn bảo hộ thành ba loại:
Thứ nhất, thời hạn bảo hộ được xác định và không được gia hạn. Loại thời hạn
này được áp dụng đối với sáng chế là 20 năm tính từ ngày nộp đơn hợp lệ; với giải


Trong nền kinh tế thị trường, nhãn hiệu có vai trò đặc biệt quan trọng khi nó
được coi như một công cụ tạo ra sự khác biệt cho các sản phẩm trên thị trường, tạo
dựng lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, thu hút khách hàng, tạo dựng niềm tin cho
người tiêu dùng, tạo dựng giá trị trong quá trình củng cố ấn tượng từ người tiêu dùng
đối với các hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp.
Luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam định nghĩa nhãn hiệu trong phần giải thích từ
ngữ. Theo đó, “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ
chức, cá nhân khác nhau” Điều 4 khoản 16 Luật Sở hữu trí tuệ. Trong một khung cảnh
rộng hơn, Điều 785 Bộ Luật Dân sự 2005 cũng quy định: “Nhãn hiệu hàng hóa là
những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất
kinh doanh khác nhau. Nhãn hiệu hàng hóa có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp
của các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc”.
Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ cũng chỉ ra các dấu hiệu đáp ứng điều kiện đăng
ký nhãn hiệu gồm: “Nhãn hiệu là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ,
hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều, hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện
bằng một hay nhiều màu sắc” và “Có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ
sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác”.
Đặc trưng của nhãn hiệu
Trên cơ sở khái niệm nhãn hiệu, có thể nhận thấy các đặc trưng của nhãn hiệu
như sau:
Thứ nhất, nhãn hiệu có tính phân biệt: Việc đăng ký đối với một nhãn hiệu sẽ
bị từ chối và theo đó quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến nhãn hiệu cũng sẽ không được
bảo vệ nếu nhãn hiệu không có tính phân biệt hoặc trong một số trường hợp tính phân
biệt đó không được thể hiện một cách rõ ràng.
Thứ hai, nhãn hiệu có tính đa dạng: Các dấu hiệu được xem xét như là nhãn
hiệu luôn tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, như là những từ ngữ, tên gọi (bao
gồm cả tên riêng), biểu tượng, hình ảnh, âm thanh hay bất kỳ sự kết hợp nào của các
yếu tố này, hình dạng của hàng hóa (nhãn hiệu không gian ba chiều), màu sắc hay sự
kết hợp các màu sắc và bất kỳ một cái gì khác có thể được sử dụng để xác định những

hiệu hay nhãn hiệu mà các cơ sở sản xuất, kinh doanh gắn trên sản phẩm hay bao bì
sản phẩm khi đưa ra thị trường. Như vậy, với chức năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ,
nhãn hiệu cho phép người tiêu dùng phân biệt được sản phẩm bán dưới nhãn hiệu đó
với những hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp khác trao đổi, mua bán hay phân phối
trên thị trường. Đây đuợc coi là chức năng quan trọng nhất của nhãn hiệu.
1.2.2.

Một số loại nhãn hiệu
Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ thì ngoài nhãn hiệu thông thường, căn

cứ vào các đặc tính riêng của nhãn hiệu còn có các nhãn hiệu nổi tiếng, nhãn hiệu liên
kết, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận:

1

Nguyễn Thị Định, CTKLM liên quan đến tên miền- pháp luật và thực tiễn ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật
học, Đại học Luật Hà Nội, 2014.

Đề tài khóa luận tốt nghiệp: Quy định pháp luật về xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
tại Việt Nam


Trang 10
Sinh viên thực hiện: Dư Hồng Nhung

Khoa: Luật Kinh tế

Nhãn hiệu nổi tiếng
Theo định nghĩa tại Điều 4 khoản 20 Luật Sở hữu trí tuệ thì “Nhãn hiệu nổi
tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt

tại Việt Nam


Trang 11
Sinh viên thực hiện: Dư Hồng Nhung

Khoa: Luật Kinh tế

hiệu liên kết mang lại cho chủ sở hữu hàng hóa những quyền lợi lớn như chủ nhãn hiệu
được độc quyền sử dụng dấu hiệu có khả năng phân biệt cho nhiều loại hàng hóa, dịch
vụ không cùng nhóm của mình với điều kiện hàng hóa và dịch vụ đó có liên quan với
nhau. Đồng thời nhãn hiệu liên kết còn cho người tiêu dùng biết rằng sản phẩm mang
nhãn hiệu mới là sản phẩm tương tự hoặc có liên quan với sản phẩm, dịch vụ mà họ đã
dùng trước đó.
Nhãn hiệu tập thể
Theo Điều 4 khoản 17 Luật Sở hữu trí tuệ “Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu
dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu
nhãn hiệu đó với hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành vên của
tổ chức đó”. Khác với nhãn hiệu thông thường, nhãn hiệu tập thể chỉ được cấp cho các
tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp và phải là tổ chức tập thể của các tổ chức, cá
nhân tiến hành sản xuất, kinh doanh. Quyền sở hữu nhãn hiệu tập thể tùy từng trường
hợp có thể là cá nhân hoặc pháp nhân đại diện hợp pháp cho tập thể đó, đồng thời khi
người nộp đơn đăng kí nhãn hiệu tập thể phải nộp kèm theo bản dự thảo quy chế sử
dụng nhãn hiệu để điều chỉnh, quản lý việc sử dụng nhãn hiệu của các thành viên trong
tập thể.
Ví dụ: Hiệp hội thuốc lá Việt Nam là tổ chức tập thể của các nhà máy, công ty
thuốc lá như: Nhà máy thuốc lá Sài Gòn, Công ty thuốc lá Thăng Long…Hiệp hội
thuốc lá Việt Nam là chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể Vinataba, các nhà máy thuốc lá là
thành viên của Hiệp hội thuốc lá Việt Nam đều có quyền sử dụng nhãn hiệu Vinataba
cho sản phẩm thuốc lá do mình sản xuất.

Trang 13
Sinh viên thực hiện: Dư Hồng Nhung

Khoa: Luật Kinh tế

CHƯƠNG 2
XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU THEO
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
2.1.

Khái quát chung về xác lập quyền sở hữu công nghiệp

2.1.1.

Khái niệm
Quyền sở hữu công nghiệp mang tính chất là một loại quyền sở hữu vì vậy nó

chỉ phát sinh và được bảo hộ dựa trên căn cứ pháp lý nhất định hay nói cách khác
quyền sở hữu công nghiệp chỉ phát sinh được pháp luật công nhận và bảo hộ các quyền
của chủ sở hữu nếu quyền đó được xác lập dựa trên những căn cứ do pháp luật quy
định.
Hơn nữa, đối với quyền sở hữu công nghiệp rất khó có thể nắm giữ, bảo vệ
chúng một cách cơ học như với tài sản hữu hình và cũng không thể dễ dàng xác định
được tài sản đó có nguồn gốc từ đâu, thuộc về ai như các đối tượng hữu hình khác nên
vấn đề xác lập quyền sở hữu công nghiệp được đặt ra như một điều kiện quan trọng
nhằm xác định và ghi nhận chủ sở hữu đối với đối tượng sở hữu công nghiệp.
Từ những đặc thù riêng biệt của từng loại đối tượng sở hữu công nghiệp mà
pháp luật của hầu hết các nước đều quy định về việc xác lập quyền sở hữu công nghiệp
đối với nhiều đối tượng quyền sở hữu công nghiệp. Để nắm được thủ tục, quá trình quá
trình xác lập quyền sở hữu công nghiệp thì chúng ta cần hiểu xác lập quyền sở hữu

theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên; đối với nhãn hiệu nổi tiếng, quyền sở hữu được xác lập trên cơ sở sử dụng, không
phụ thuộc vào thủ tục đăng ký.
Tất cả các loại đơn đăng ký sở hữu công nghiệp đều được Cục Sở hữu trí tuệ
xử lý theo các bước tiếp nhận đơn; thẩm định hình thức đơn; công bố đơn hợp lệ; thẩm
định nội dung đơn (trừ đơn đăng ký thiết kế bố trí không tiến hành thủ tục thẩm định
nội dung đơn); cấp hoặc từ chối cấp văn bằng bảo hộ; đăng bạ và công bố quyết định
cấp văn bằng bảo hộ. Như vậy, nguyên tắc xác lập dựa trên cơ sở đăng ký theo trình tự,
thủ tục luật định và được cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ, bắt buộc phải
có sự công nhận từ phía nhà nước.
2.1.3.

Ý nghĩa

Việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp thông qua thủ tục xác lập quyền sở hữu
công nghiệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ đối với các chủ thể sở hữu đối
tượng sở hữu công nghiệp, đối với xã hội, cộng đồng nói chung mà còn tác động đến
quá trình phát triển của nền kinh tế đất nước và thúc đẩy phát triển hợp tác quốc tế.
-

Đối với chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp
Việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đem lại cho chủ sở hữu quyền năng

tương ứng về tài sản được như quyền của chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp, sử
dụng đối tượng sở hữu công nghiệp, quyền ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng sở
hữu công nghiệp quy định cụ thể tại Điều 123, Điều 124, Điều 125 Luật Sở hữu trí tuệ.
Đối với từng đối tượng khác nhau mà quyền nhân thân được quy định cụ thể tại Điều
92, Điều 122, Điều 135 Luật Sở hữu trí tuệ, các quyền được bảo đảm bởi sự cưỡng chế
nhà nước đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp nhằm đẳm bảo quyền, lợi ích hợp
pháp của họ trong việc khai thác, sử dụng đồng thời ngăn chặn hành vi khai thác, sử


Đối với nền kinh tế đất nước

Sự vận hành và phát triển của nền kinh tế luôn tiềm ẩn trong nó những hiện
tượng trục lợi bất hợp pháp, nếu không có cơ chế kiểm soát, các hiện tượng này sẽ là
lực cản đối với sự phát triển của nền kinh tế. Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp chính
là một trong những cơ chế kiểm soát hữu hiệu nhằm tạo điều kiện đảm bảo cho nền
kinh tế phát triển một môi trường kinh doanh lành mạnh, có trật tự, đúng định hướng.
Chính vì vậy, việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp nhằm thiết lập và duy trì sự phát
triển lành mạnh của nền kinh tế.
-

Đối với quá trình giao lưu, hợp tác quốc tế

Sở hữu công nghiệp gắn liền với nhiều lĩnh vực của đời sống xã hôi, do đó, vệc
mở rộng hợp tác, trao đổi, giao lưu quốc tế giữa các quốc gia, tổ chức quốc tế trong bảo
hộ sở hữu công nghiệp cũng là cầu nối cho việc phát triển quan hệ hợp tác quốc tế trên
mọi lĩnh vực như: khoa học, công nghệ, văn hóa, giáo dục, thương mại... bảo hộ sở hữu
công nghiệp được coi là cầu nối thúc đẩy quá trình giao lưu, hợp tác quốc tế trên mọi
lĩnh vực.

Đề tài khóa luận tốt nghiệp: Quy định pháp luật về xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
tại Việt Nam


Trang 16
Sinh viên thực hiện: Dư Hồng Nhung

Khoa: Luật Kinh tế


nghiệp”;
Đối với kiểu dáng công nghiệp điều kiện để xác lập quyền sở hữu công nghiệp
gồm: Có tính mới, có tính sáng tạo và có khả năng áp dụng công nghiệp; quy định tại
Điều 63 Luật Sở hữu trí tuệ;
-

Đối với thiết kế bố trí điều kiện để xác lập quyền sở hữu công nghiệp gồm: Có

tính nguyên gốc đồng thời có tính thương mại; quy định tại Điều 68 Luật Sở hữu trí
tuệ;
Đề tài khóa luận tốt nghiệp: Quy định pháp luật về xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
tại Việt Nam


Trang 17
Sinh viên thực hiện: Dư Hồng Nhung

Khoa: Luật Kinh tế

Đối với nhãn hiệu để xác lập quyền sở hữu công nghiệp thì gồm 2 điều kiện
sau: dấu hiệu nhìn thấy được và có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ với hàng hóa,
dịch vụ của chủ thể khác; quy định tại Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ;
-

Đối với tên thương mại điều kiện xác lập quyền sở hữu công nghiệp khi tên

thương mại được bảo hộ có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên thương
mại đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh; quy
đinh tại Điều 76 Luật Sở hữu trí tuệ;
Đối với chỉ dẫn địa ký điều kiện xác lập quyền sở hữu công nghiệp bao gồm 2

Đề tài khóa luận tốt nghiệp: Quy định pháp luật về xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
tại Việt Nam


Trang 18
Sinh viên thực hiện: Dư Hồng Nhung

Khoa: Luật Kinh tế

dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các
yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc; 2. Có khả năng phân biệt hàng
hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác”.
Từ quy định nên có thể thấy một số điểm sau đây:

Thứ nhất, các dấu hiệu dùng làm nhãn hiệu phải khả năng phân biệt các sản
phẩm khác nhau. Tức là, nhãn hiệu phải giúp người tiêu dùng phân biệt được hàng hóa,
dịch vụ của một doanh nghiệp với các hàng hóa, dịch vụ của các doanh nghiệp khác.
Nhãn hiệu được coi là có khả năng phân biệt nếu được tạo thành từ một hoặc một số
yếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể dễ
nhận biết, dễ ghi nhớ…Nhãn hiệu dễ nhận biết là nhãn hiệu bao gồm các yếu tố đủ để
tác động vào nhận thức, tạo nên ấn tượng có khả năng lưu trữ trong trí nhớ hay tiềm
thức của con người, nó giúp cho tất cả các đối tượng khi tiếp xúc có thể dễ dàng cảm
nhận được và ghi nhớ chúng khi đặt bên cạnh các loại nhãn hiệu khác. Một nhãn hiệu
không có khả năng phân biệt, tức là đã không thực hiện được chức năng cơ bản của
nhãn hiệu, sẽ bị cơ quan đăng kí từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng kí nhãn hiệu. Một
số dấu hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt như: các biểu tượng, hình vẽ, tên gọi
thông thường của hàng hóa, dịch vụ; các dấu hiệu chỉ địa điểm, nguồn gốc địa lý,
phương pháp sản xuất hoặc các đặc tính mô tả hàng hoá, dịch vụ; các hình đơn giản,
chữ số, chữ cái…Chính vì vậy, các tên gọi chung; các dấu hiệu mô tả, tức là các dấu
hiệu có sự chỉ dẫn về các đặc tính của hàng hóa hay xuất xứ địa lý, chứ không phải là

với nhãn hiệu nói riêng ở Việt Nam là Cục Sở hữu trí tuệ.
Quyền sở hữu đối với nhãn hiệu được xác lập được xác lập trong các trường
hợp sau:
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định cấp văn bằng bảo hộ (giấy chứng
nhận đăng ký nhãn hiệu) theo thủ tục luật định.
Văn bằng bảo hộ là căn cứ chứng minh quyền sở hữu đối với nhãn hiệu do Cục
Sở hữu trí tuệ cấp cho chủ sở hữu. Trong văn bằng bảo hộ sẽ có đầy đủ thông tin về
tên, địa chỉ người được cấp văn bằng bảo hộ cũng như thông tin liên quan đến đối
tượng được bảo hộ.
Cục Sở hữu trí tuệ được công nhận đăng ký quốc tế theo quy định của điều ước
quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu đăng ký quốc tế theo thỏa ước
Madrid và Nghị định thư Madrid được xác lập trên cơ sở quyết định chấp nhận bảo hộ
hoặc giấy chứng nhãn hiệu đăng ký quốc tế được bảo hộ tại Việt Nam do Cục Sở hữu
trí tuệ cấp theo yêu cầu của chủ nhãn hiệu. Quyết định và giấy chứng nhận nói trên có
giá trị như văn bằng bảo hộ cấp cho người đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam.
-

Cục Sở hữu trí tuệ ra quyết định công nhận nhãn hiệu là nhãn hiệu nổi tiếng.

Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu mà được nhiều người biết đến và nhận được
sự công nhận rộng rãi của người tiêu dùng. Nhãn hiệu nổi tiếng tự động được hưởng
chế độ bảo hộ đặc biệt tại tất cả các nước thành viên mà không cần thực hiện thông qua
bất kỳ thủ tục đăng ký nào tại Cục Sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, quyền đối với nhãn hiệu
nổi tiếng chỉ phát sinh trên cơ sở quyết định công nhận của Cục Sở hữu trí tuệ, có
nghĩa là nhãn hiệu phải được Cục Sở hữu trí tuệ công nhận là nổi tiếng. Khi sử dụng
quyền và giải quyết tranh chấp quyền đối với nhãn hiệu nổi tiếng, chủ sở hữu nhãn
Đề tài khóa luận tốt nghiệp: Quy định pháp luật về xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
tại Việt Nam


hiệu đó cho sản phẩn; chủ thể sản xuất hàng hóa biết việc đăng ký đó nhưng không
phản đối.
Tổ chức tập thể có quyền đăng ký “nhãn hiệu tập thể” để các thành viên của
mình sử dụng theo một hệ thống sử dung quy chế chung.
-

Tổ chức có chức năng kiểm soát, chứng nhận chất lượng, đặc tính, nguồn gốc

hoặc tiêu chí khác liên quan đến hàng hoá, dịch vụ có quyền đăng ký “nhãn hiệu chứng
nhận” theo một “quy chế chứng nhận” và bản thân tổ chức đó không được tiến hành
sản xuất, kinh doanh loại hàng hoá, dịch vụ được chứng nhận.
Nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của các chủ thể liên quan, trong trường hợp
cần thiết, hai hoặc nhiều tổ chức, cá nhân có thể cùng đăng ký một nhãn hiệu để trở
thành đồng chủ sở hữu với điều kiện việc sử dụng nhãn hiệu đó không gây nhầm lẫn
cho người tiêu dùng về nguồn gốc của sản phẩm (hàng hóa, dịch vụ) liên quan; đồng
thời, phải nhân danh tất cả các đồng chủ sở hữu hoặc phải sử dụng cho sản phẩm mà tất
cả các đồng chủ sở hữu đều tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh. Quyền đăng
ký nhãn hiệu có thể được chuyển giao với điều kiện người được chuyển giao đáp ứng
các yêu cầu đối với người đăng ký nhãn hiệu theo quy định của pháp luật.

Đề tài khóa luận tốt nghiệp: Quy định pháp luật về xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
tại Việt Nam


Trang 21
Sinh viên thực hiện: Dư Hồng Nhung

Khoa: Luật Kinh tế

Các tổ chức, cá nhân có quyền đăng ký nêu trên có thể chuyển giao quyền

nhãn hiệu có quyền yêu cầu hưởng quyền ưu tiên trên cơ sở đơn đầu tiên đăng ký bảo
Đề tài khóa luận tốt nghiệp: Quy định pháp luật về xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
tại Việt Nam


Trang 22
Sinh viên thực hiện: Dư Hồng Nhung

Khoa: Luật Kinh tế

hộ cùng một đối tượng nếu đáp ứng các điều kiện sau đây: a) Đơn đầu tiên đã được
nộp tại Việt Nam hoặc tại nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về
quyền ưu tiên mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thành viên hoặc có
thoả thuận áp dụng quy định như vậy với Việt Nam; b) Người nộp đơn là công dân Việt
Nam, công dân của nước khác quy định tại điểm a khoản này cư trú hoặc có cơ sở sản
xuất, kinh doanh tại Việt Nam hoặc tại nước khác quy định tại điểm a khoản này; c)
Trong đơn có nêu rõ yêu cầu được hưởng quyền ưu tiên và có nộp bản sao đơn đầu
tiên có xác nhận của cơ quan đã nhận đơn đầu tiên; d) Đơn được nộp trong thời hạn
ấn định tại điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. 2.
Trong một đơn đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp hoặc nhãn hiệu, người nộp
đơn có quyền yêu cầu hưởng quyền ưu tiên trên cơ sở nhiều đơn khác nhau được nộp
sớm hơn với điều kiện phải chỉ ra nội dung tương ứng giữa các đơn nộp sớm hơn ứng
với nội dung trong đơn. 3. Đơn đăng ký sở hữu công nghiệp được hưởng quyền ưu tiên
có ngày ưu tiên là ngày nộp đơn của đơn đầu tiên.”
2.3.2.2. Yêu cầu chung và yêu cầu về tính thống nhất đối với đơn đăng ký quyền sở
hữu công nghiệp
Đơn đăng ký quyền sở hữu công nghiệp trong đó có đơn đăng ký nhãn hiệu là
tài liệu pháp lý thể hiện yêu cầu của các chủ thể liên quan đến việc đăng ký đối tượng
sở hữu công nghiệp, đồng thời cũng là tài liệu để cơ quan đăng ký căn cứ, xem xét,
đánh giá về đối tượng yêu cầu bảo hộ trong quá trình tiến hành thủ tục xác lập quyền.

riêng biệt của sản phẩm mang nhãn hiệu khi nhãn hiệu được đăng ký là nhãn hiệu tập
thể dùng cho sản phẩm có tính chất đặc thù hoặc là nhãn hiệu chứng nhận chất lượng
của sản phẩm hoặc là nhãn hiệu chứng nhận nguồn gốc địa lý; bản đồ xác định lãnh thổ
trong trường hợp nhãn hiệu đăng ký là nhãn hiệu chứng nhận nguồn gốc địa lý của sản
phẩm.
Nếu thiếu một trong các tài liệu nói trên, Cục Sở hữu trí tuệ có quyền từ chối
tiếp nhận đơn.
Yêu cầu đối với đơn:
Đơn phải đáp ứng các yêu cầu chung quy định tại Điều 100 và yêu cầu tính
thống nhất của đơn đăng ký tại Điều 101 của Luật Sở hữu trí tuệ.
“Điều 101. Yêu cầu về tính thống nhất của đơn đăng ký sở hữu công nghiệp
1. Mỗi đơn đăng ký sở hữu công nghiệp chỉ được yêu cầu cấp một văn bằng
bảo hộ cho một đối tượng sở hữu công nghiệp duy nhất, trừ trường hợp quy
định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này.
2. Mỗi đơn đăng ký có thể yêu cầu cấp một Bằng độc quyền sáng chế hoặc một
Bằng độc quyền giải pháp hữu ích cho một nhóm sáng chế có mối liên hệ chặt
chẽ về kỹ thuật nhằm thực hiện một ý đồ sáng tạo chung duy nhất.
3. Mỗi đơn đăng ký có thể yêu cầu cấp một Bằng độc quyền kiểu dáng công
nghiệp cho nhiều kiểu dáng công nghiệp trong các trường hợp sau đây:
a) Các kiểu dáng công nghiệp của một bộ sản phẩm gồm nhiều sản phẩm thể
hiện ý tưởng sáng tạo chung duy nhất, được sử dụng cùng nhau hoặc để thực
hiện chung một mục đích;

Đề tài khóa luận tốt nghiệp: Quy định pháp luật về xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
tại Việt Nam


Trang 24
Sinh viên thực hiện: Dư Hồng Nhung


a)
Đáp ứng đầy đủ các yêu cầu chung đối với đơn đăng ký quyền sở hữu công
nghiệp.
Đơn đảm bảo tính thống nhất của đơn đăng ký sở hữu công nghiệp. Mỗi đơn

b)

đăng ký chỉ được yêu cầu đăng ký một nhãn hiệu dùng cho một hoặc nhiều hàng hóa,
dịch vụ.
Trong trường hợp, thông tin nêu trong đơn của người đăng ký có nghi ngờ,

c)

chưa đủ tính xác thực thì Cục Sở hữu trí tuệ có thể yêu cầu người nộp đơn trong vòng
01 tháng, phải nộp các tài liệu để xác minh các thông tin đó là có thật, bao gồm:
-

Đối với tài liệu chứng minh tư cách người nộp đơn: Theo quy định tại Điều 87

Luật SHTT và Điểm 3 Thông tư 01/2007/TT-BKHCN như sau:
Đề tài khóa luận tốt nghiệp: Quy định pháp luật về xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
tại Việt Nam


Trang 25
Sinh viên thực hiện: Dư Hồng Nhung

Khoa: Luật Kinh tế



hiệu được quy định tại Điều 73, Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ:

Tên, biểu tượng, cờ, huy hiệu của cơ quan, tổ chức trong nước và quốc tế hoặc
dấu chứng nhận, dấu kiểm tra, dấu bảo hành của tổ chức quốc tế;

Tên nhân vật, hình tượng của tác phẩm thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả đã
được biết đến rộng rãi hoặc tên thương mại, chỉ dẫn thương mại, chỉ dẫn xuất xứ, giải
thưởng, huy chương hoặc ký hiệu đặc trưng của một loại sản phẩm nhất định có khả
năng gây nhầm lẫn;


Dấu hiệu thuộc phạm vi bảo hộ kiểu dáng công nghiệp của người khác;

-

Tài liệu để chứng minh quyền ưu tiên;

Đề tài khóa luận tốt nghiệp: Quy định pháp luật về xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
tại Việt Nam



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status