Xung đột giữa nhãn hiệu và tên thương mại trong bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo quy định của pháp luật việt nam hiện nay - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ THU

XUNG ĐỘT GIỮA NHÃN HIỆU VÀ TÊN THƢƠNG MẠI
TRONG BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI
VỚI NHÃN HIỆU THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ THU

XUNG ĐỘT GIỮA NHÃN HIỆU VÀ TÊN THƢƠNG MẠI
TRONG BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI
VỚI NHÃN HIỆU THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật Dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ QUẾ ANH



Khái niệm, chức năng, điều kiện bảo hộ và ý nghĩa của nhãn hiệu
và tên thƣơng mại ............................................................................... 7

1.1.1. Nhãn hiệu ............................................................................................... 7
1.1.2. Tên thƣơng mại .................................................................................... 22
1.2.

Mối quan hệ xung đột giữa nhãn hiệu và tên thƣơng mại ............. 35

1.2.1. Khái niệm xung đột giữa nhãn hiệu và tên thƣơng mại ....................... 35
1.2.2. Nội dung xung đột giữa nhãn hiệu và tên thƣơng mại......................... 37
1.2.3. Nguyên nhân xung đột giữa nhãn hiệu và tên thƣơng mại .................. 42
1.2.4. Hệ quả xung đột giữa nhãn hiệu và tên thƣơng mại ............................ 46
1.3.

Quy định về giải quyết xung đột giữa nhãn hiệu và tên thƣơng mại
trong bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu theo pháp luật của
một số nƣớc trên thế giới .................................................................. 49

1.3.1. Trung Quốc .......................................................................................... 49
1.3.2. Canada .................................................................................................. 50
1.3.3. Hoa Kỳ ................................................................................................. 54
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT GIỮA NHÃN
HIỆU VÀ TÊN THƢƠNG MẠI TRONG BẢO HỘ QUYỀN SHCN ĐỐI
VỚI NHÃN HIỆU TẠI VIỆT NAM............................................................ 58


2.1.


3.2.2. Giải pháp liên quan đến nâng cao hiệu quả giải quyết xung đột
giữa nhãn hiệu và tên thƣơng mại trong bảo hộ quyền SHCN
đối với nhãn hiệu ........................................................................... 117
KẾT LUẬN .................................................................................................. 121
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 123


DANH MỤC CÁC CHỨ VIẾT TẮT
SHTT:

Sở hữu trí tuệ

SHCN:

Sở hữu công nghiệp

GCNĐKNH:

Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu

TNHH:

Trách nhiệm hữu hạn


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Ngày nay, với tốc độ phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, của
giao thƣơng quốc tế, giá trị của sở hữu trí tuệ ngày càng đƣợc đánh giá đầy đủ
hơn và tiềm năng của sở hữu trí tuệ trong việc tạo ra những cơ hội mang lại

trạng giải quyết vấn đề này ra sao, đã có phƣơng án giải quyết triệt để mối
quan hệ xung đột này trong quy định pháp luật hiện hành hay chƣa là những
vấn đề cần đƣợc giải đáp một cách đầy đủ và có hệ thống. Chính vì vậy, tác
giả chọn đề tài: “Xung đột giữa nhãn hiệu và tên thương mại trong bảo hộ
quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo quy định của Pháp luật Việt
Nam hiện nay”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu của đề tài là dựa trên cơ sở lý luận để nghiên cứu các quy
định của luật thực định về bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu, tìm hiểu
thực tiễn áp dụng luật thực định để tìm ra những xung đột giữa nhãn hiệu và
tên thƣơng mại trong bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu và cơ chế giải
quyết xung đột đó. Từ đó, tìm hiểu những vƣớng mắc, bất cập, đồng thời tìm
hiểu nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó, trên cơ sở đó có những nhận xét,
kiến nghị về giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền SHCN đối với
nhãn hiệu cũng nhƣ nâng cao hiệu quả của cơ chế giải quyết xung đột giữa
nhãn hiệu và tên thƣơng mại trong bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Để đạt đƣợc mục tiêu tổng quát đề cập trên, cần thực hiện các mục tiêu
cụ thể sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về nhãn hiệu, tên thƣơng mại,
bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu và mối quan hệ giữa nhãn hiệu và tên

2


thƣơng mại trong bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu. Với mục tiêu này, tác
giả xây dựng khát quát chung về nhãn hiệu và tên thƣơng mại; nghiên cứu về
vấn đề bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu; tìm hiểu về mối quan hệ giữa
nhãn hiệu và tên thƣơng mại cũng nhƣ quy định pháp luật về giải quyết xung đột

- Phân tích và giải thích về mặt lý luận nguyên nhân, nội dung và hậu
quả của mối quan hệ xung đột giữa nhãn hiệu và tên thƣơng mại trong bảo hộ
Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.
- Phân tích và đánh giá đúng thực trạng và hiệu quả cách thức giải
quyết xung đột giữa nhãn hiệu và tên thƣơng mại trong bảo hộ Quyền sở hữu
công nghiệp đối với nhãn hiệu theo quy định Pháp luật Việt Nam hiện hành.
- Đề xuất đƣợc những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện và thực thi có
hiệu quả những quy định của pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
đối với nhãn hiệu.
Luận văn có ý nghĩa góp phần tăng cƣờng hiệu quả của công tác bảo hộ
quyền SHCN đối với nhãn hiệu, đổi mới và hoàn thiện pháp luật về bảo hộ
Quyền SHCN tại Việt Nam hiện nay. Những đề xuất của luận văn có thể tham
khảo trong việc hoàn thiện pháp luật, hƣớng dẫn thi hành pháp luật và nâng
cao hiệu quả bảo hộ Quyền SHCN đối với nhãn hiệu tại Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận về nhãn hiệu
và tên thƣơng mại, mối quan hệ giữa nhãn hiệu và tên thƣơng mại, là các quy
định của pháp luật về giải quyết xung đột giữa nhãn hiệu và tên thƣơng mại
trong bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và thực trạng áp
dụng các quy định pháp luật trong hoạt động bảo hộ quyền SHCN đối với
nhãn hiệu hiện nay.
Nội dung nghiên cứu đề tài bao gồm nhiều vấn đề khác nhau. Tuy vậy,
do giới hạn của một luận văn thạc sĩ, việc nghiên cứu chỉ tập trung vào những
vấn đề cơ bản nhất thuộc nội dung đề tài nhƣ khái quát chung về nhãn hiệu và
tên thƣơng mại; nội dung các quy định của Luật SHTT về bảo hộ quyền
SHCN đối với nhãn hiệu và thực tiễn thực hiện chúng hiện nay.
4


Tổng quan tài liệu

giữa lý luận với thực tiễn, phƣơng pháp phân tích, tổng hợp và sử dụng số liệu
thống kê, phƣơng pháp so sánh luật.
6. Kết cấu của Luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chƣơng:
Chương 1: Khái quát chung về xung đột giữa nhãn hiệu và tên thương
mại trong bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu.
Chương 2: Thực trạng giải quyết xung đột giữa nhãn hiệu và tên
thương mại trong bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu.
Chương 3: Nguyên nhân của thực trạng và giải pháp nhằm hoàn thiện
cơ chế giải quyết xung đột giữa nhãn hiệu và tên thương mại trong bảo hộ
quyền SHCN đối với nhãn hiệu.

6


Chƣơng 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ XUNG ĐỘT GIỮA NHÃN HIỆU VÀ
TÊN THƢƠNG MẠI TRONG BẢO HỘ QUYỀN SHCN
ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU
1.1. Khái niệm, chức năng, điều kiện bảo hộ và ý nghĩa của nhãn
hiệu và tên thƣơng mại
1.1.1. Nhãn hiệu
1.1.1.1. Khái niệm
Khoảng 4000 năm về trƣớc, nhãn hiệu đã đƣợc sử dụng để nhận biết
nguồn gốc của sản phẩm. Vào thời xa xƣa đó, các thợ thủ công ở Trung Quốc,
Ấn Độ, Ba tƣ đã sử dụng chữ ký của họ hoặc một biểu tƣợng riêng để phân
biệt sản phẩm của họ. Việc sử dụng nhãn hiệu trong thời Trung cổ đã đƣợc
gắn với phát triển và tăng trƣởng của thƣơng mại, từ đó mới xuất hiện thuật
ngữ “Nhãn hiệu hàng hoá” [23, tr.149] . Ngày nay, nhãn hiệu đã phát triển

hai chức năng này sẽ đƣợc đề cập cụ thể trong phần chức năng của nhãn hiệu
dƣới đây.
Kết hợp giữa hai định nghĩa nêu trên, Hiệp định thƣơng mại Việt Nam
– Hoa Kỳ cũng có định nghĩa về nhãn hiệu. Tại khoản 1 Điều 6 Hiệp định này
quy định :
Trong hiệp định này, nhãn hiệu hàng hóa đƣợc cấu thành bởi dấu
hiệu bất kỳ hoặc sự kết hợp bất kỳ của các dấu hiệu có khả năng phân
biệt hàng hóa dịch vụ của một ngƣời với hàng hóa dịch vụ của ngƣời
khác, bao gồm từ ngữ, tên ngƣời,hình ảnh, chữ cái, chữ số, tổ hợp mầu
sắc, các yếu tố hình hoặc hình dạng của hàng hóa hoặc hình dạng của
bao bì hàng hóa. Nhãn hiệu hàng hóa bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ,
nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận.[11]
Với sự tiếp thu có chọn lọc tinh thần của định nghĩa nhãn hiệu trong
Hiệp định TRIPs và định nghĩa của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới, Hiệp định
thƣơng mại Việt Nam – Hoa Kỳ cũng khẳng định bản chất của nhãn hiệu
cũng nhƣ nêu bật các yếu tố cấu thành nhãn hiệu trong định nghĩa đề cập trên,

8


tuy nhiên Hiệp định này không chỉ dừng ở đó mà còn đƣa vào định nghĩa đó
phân loại nhãn hiệu.
Không bao hàm quá nhiều nội dung, định nghĩa nhãn hiệu theo quy
định của pháp luật Việt Nam khá ngắn gọn, đƣợc đề cập tại Khoản 16, Điều 4
Luật SHTT: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của
các tổ chức, cá nhân khác nhau”. [20]
Định nghĩa nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay
loại bỏ gần nhƣ tất cả các vấn đề về yếu tố cấu thành, về điều kiện bảo hộ
cũng nhƣ phân loại nhãn hiệu mà chỉ tập trung vào bản chất của nhãn hiệu là
dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác

sản xuất/cung ứng bởi tổ chức, cá nhân nào, đồng thời phân biệt hàng hóa,
dịch vụ của tổ chức cá nhân đó với hàng hoá/dịch vụ của các cá nhân, tổ
chức sản xuất, kinh doanh khác. Nhãn hiệu hàng hóa bao gồm cả nhãn hiệu
dịch vụ, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận.
1.1.1.2. Chức năng
Từ định nghĩa nêu trên của nhãn hiệu hàng hoá có thể nhận thấy hai
khía cạnh khác nhau thể hiện hai chức năng của nhãn hiệu hàng hoá nhƣng
phụ thuộc lẫn nhau và trong thực tế luôn cần đƣợc xem xét cùng với nhau:
(i) Chức năng chỉ dẫn thƣơng mại, cụ thể là chỉ dẫn nguồn gốc của
hàng hoá/dịch vụ:
Chức năng này là chức năng chung của các dấu hiệu chỉ dẫn thƣơng
mại nhƣ nhãn hiệu, tên thƣơng mại, biểu tƣợng kinh doanh, khẩu hiệu kinh
doanh, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng bao bì của hàng hoá, nhãn hàng hoá. Tất cả
các dấu hiệu này khi đƣợc gắn lên một hàng hóa hay đi kèm với một dịch vụ
nhất định đều nhằm mục đích chỉ dẫn cho ngƣời tiêu dùng về cơ sở sản xuất
hoặc cơ sở phân phối hàng hóa đó hay cơ sở kinh doanh cung cấp dịch vụ
mang các dấu hiệu đó. Mặc dù cùng thực hiện chức năng chỉ dẫn thƣơng mại,
tuy nhiên mỗi một loại dấu hiệu này thực hiện chức năng này theo một cách
thức rất riêng.

10


Khi quyết định lựa chọn một sản phẩm/dich vụ, điều đầu tiên tác động
đến tâm lý ngƣời tiêu dùng đó chính là nhãn hiệu. Bởi nhãn hiệu là sợi dây
liên kết giữa ngƣời tiêu dùng và nhà sản xuất/nhà cung ứng dịch vụ. Nhãn
hiệu với chức năng đầu tiên và quan trọng của mình chính là chỉ dẫn cho
ngƣời tiêu dùng biết sản phẩm/dich vụ đó đƣợc cung cấp bởi nhà sản xuất/nhà
cung ứng dịch vụ nào. Một sản phẩm/dịch vụ khi đã đƣợc đƣa ra thị trƣờng
với một nhãn hiệu nhất định, đã đem đến cho ngƣời tiêu dùng sự tin tƣởng

cơ sở sản xuất, kinh doanh gắn trên sản phẩm hay bao bì sản phẩm khi đƣa ra
thị trƣờng, trong đó nhãn hiệu hàng hoá là một trong những dấu hiệu chỉ dẫn
thƣơng mại đƣợc lƣu tâm hàng đầu đối với cả nhà sản xuất và ngƣời tiêu
dùng. Nhờ có nhãn hiệu hàng hóa mà ngƣời tiêu dùng có thể xác định đƣợc
hàng hóa, dịch vụ mà mình mong muốn đƣợc cung cấp bởi nhà sản xuất/nhà
cung ứng dịch vụ nào, có phải là đơn vị kinh doanh mà ngƣời tiêu dùng đã
biết và tin tƣởng hay không.
Chỉ khi nhãn hiệu cho phép ngƣời tiêu dùng phân biệt đƣợc sản
phẩm/dịch vụ mang nhãn hiệu đó với sản phẩm/dịch vụ của doanh nghiệp khác
trên thị trƣờng thì lúc đó chức năng của nhãn hiệu mới đầy đủ. Điều này cho
thấy chức năng phân biệt và chức năng chỉ dẫn nguồn gốc là hai chức năng
không thể tách rời tạo thành nhãn hiệu. Tuy nhiên không phải bất cứ dấu hiệu
nào cũng thực hiện đƣợc cả hai chức năng đề cập trên để có thể thực hiện vai trò
là một nhãn hiệu. Cần có những điều kiện cần và đủ để một dấu hiệu có thể đóng
vai trò nhƣ một nhãn hiệu đặc biệt là một nhãn hiệu đƣợc bảo hộ cho riêng một
chủ thể nào đó và thực hiện đƣợc chức năng của nhãn hiệu. Các điều kiện cần và
đủ đó chính là điều kiện bảo hộ một nhãn hiệu đƣợc đề cập dƣới đây.
1.1.1.3. Điều kiện bảo hộ
Một dấu hiệu để đƣợc bảo hộ nhƣ một nhãn hiệu cần đáp ứng hai điều
kiện, điều kiện cần là dấu hiệu đó thuộc trong các đối tƣợng đƣợc bảo hộ với
danh nghĩa nhãn hiệu và điều kiện đủ là dấu hiệu đó phải có khả năng phân biệt.

12


(i) Các dấu hiệu được bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu:
Nhƣ đã đƣợc đề cập trong định nghĩa về nhãn hiệu trong Hiệp định
TRIPs hay Hiệp định thƣơng mại Việt Nam-Hoa Kỳ, có rất nhiều dấu hiệu có
khả năng đƣợc bảo hộ nhƣ một nhãn hiệu nhƣ “từ ngữ, tên người,hình ảnh,
chữ cái, chữ số, tổ hợp mầu sắc, các yếu tố hình hoặc hình dạng của hàng

hiệu hình vẽ phải đƣợc trình bày một cách đặc biệt, tạo ra ấn tƣợng và có khả
năng nhận biết cho ngƣời tiêu dùng. Rất nhiều nhãn hiệu hình đã trở thành
biểu tƣợng khó phai mờ trong tâm trí ngƣời tiêu dùng nhƣ nhãn hiệu “
của Apple Inc. hay nhãn hiệu “



” của Microsoft Corporation. Các hình,

hình học hai chiều đơn giản nhƣ hình chữ nhật, hình vuông, hình tam
giác…hoặc hình quá rắc rối, phức tạp, khó ghi nhớ và khó nhận biết thì cũng
không đảm bảo điều kiện đƣợc bảo hộ nhƣ một nhãn hiệu. Điều này đƣợc quy
định tại pháp luật của hầu hết các nƣớc trong đó có Việt Nam. Hình ảnh là
những gì chúng ta thấy đƣợc thông qua thị giác rồi sau đó chuyển về não giúp
ta cảm nhận nhận hình ảnh đó một cách chân thực nhất từ đó đƣa ra những
phản xạ, cảm nhận về hình ảnh mà ta vừa thu nhận. Mặc dù pháp luật có quy
định hình ảnh là một trong những đối tƣợng đƣợc bảo hộ dƣới danh nghĩa
nhãn hiệu, tuy nhiên trong thực tiễn, những hình ảnh thực tế của thực thể sống
sẽ không đƣợc bảo hộ.
- Dấu hiệu kết hợp giữa các yếu tố chữ và hình được thể hiện dưới một
hoặc nhiều màu sắc. Ngay cả trƣờng hợp các yếu tố chữ và hình tách biệt
không đáp ứng đủ điều kiện về tính phân biệt nhƣng sự kết hợp của hai hay
nhiều dấu hiệu hình và dấu hiệu chữ đó tạo thành một tổng thể ấn tƣợng, dễ
nhận biết và có khả năng phân biệt thì vẫn có thể đƣợc bảo hộ nhƣ một nhãn
hiệu. Thông thƣờng sự kết hợp đó đều đi kèm với màu sắc để tạo ấn tƣợng
khác biệt. Qua đó, có thể thấy yếu tố màu sắc là không thể thiếu đƣợc đối với

14




định và bảo hộ các dấu hiệu này nhƣ một nhãn hiệu hàng hóa là vô cùng khó
khăn đặc biệt là trong quá trình thẩm định tính phân biệt của dấu hiệu.
Nhƣ đã đề cập trên, ngoài việc liệt kê các dấu hiệu có khả năng đƣợc
bảo hộ nhƣ một nhãn hiệu, pháp luật của các quốc gia cũng cụ thể hóa các đối
tƣợng không đƣợc phép bảo hộ nhƣ nhãn hiệu căn cứ theo Điều 6ter Công
ƣớc Paris, bao gồm:
- Các dấu hiệu trùng/tƣơng tự gây nhầm lẫn với các quốc huy, quốc kỳ
hoặc các biểu tƣợng quốc gia khác của các nƣớc thành viên của Liên minh,
các dấu hiệu kiểm tra xác nhận hoặc bảo đảm chính thức đƣợc các nƣớc đó
chấp nhận, và bất cứ sự bắt chƣớc nào mang đặc điểm huy hiệu;
- Các dấu hiệu trùng/tƣơng tự gây nhầm lẫn với các huy hiệu, cờ, các
biểu tƣợng khác, tên viết tắt, tên đầy đủ của các tổ chức quốc tế liên Chính
phủ mà có một hoặc nhiều nƣớc thành viên của Liên minh tham gia.
(ii) Điều kiện về khả năng phân biệt của nhãn hiệu.
- Khả năng tự phân biệt của nhãn hiệu:
Khả năng tự phân biệt của một dấu hiệu đƣợc xác định thông qua các
yếu tố cấu thành nên dấu hiệu đó. Nếu dấu hiệu đƣợc tạo thành từ một hoặc
một số yếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một
tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ, dấu hiệu đó đƣợc coi là có khả năng phân
biệt tự thân.
Một dấu hiệu dễ nhận biết là dấu hiệu bao gồm các yếu tố đủ để tác
động vào nhận thức, tạo ấn tƣợng và có khả năng lƣu trữ trong trí nhớ hay
tiềm thức của con ngƣời [9]. Bởi vậy, khi ta đặt dấu hiệu này bên cạnh các
dấu hiệu khác thì chúng ta đều có thể dễ dàng ghi nhớ và phân biệt.
Một dấu hiệu có thể có nhiều yếu tố độc đáo, mới lạ, hoàn toàn không
giống những gì đã có nhƣng lại có quá nhiều chi tiết rắc rối, phức tạp gây ra
sự khó khăn cho ngƣời tiếp cận và dẫn đến việc rất khó để nhận biết và phân

16



năng phân biệt tự thân, pháp luật quốc gia có thể thừa nhận khả năng một số
dấu hiệu nêu trên có thể dần dần đạt đƣợc khả năng phân biệt nhờ quá trình đầu
tƣ tiếp thị và truyền thông của doanh nghiệp. Việt Nam cũng đã có quy định
tƣơng tự trong Luật SHTT, theo quy định của Điều 74 khoản 2 mục a, b Luật
SHTT năm 2005, dấu hiệu có khả năng phân biệt thông qua sử dụng bao gồm
dấu hiệu "đã đƣợc sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn
hiệu", "đƣợc sử dụng rộng rãi, thƣờng xuyên, nhiều ngƣời biết đến". Ví dụ,
nhãn hiệu “BIA HÀ NỘI”, “VANG ĐÀ LẠT” hoặc nhãn hiệu “SM58” của
hãng micro SHURE nổi tiếng, rõ ràng các dấu hiệu này tự thân nó hoàn toàn
không có khả năng phân biệt, tuy nhiên các nhãn hiệu này đã đạt đƣợc khả
năng phân biệt qua một quá trình sử dụng đến trƣớc thời điểm nộp đơn đăng ký
và do vậy, đã đƣợc chấp nhận bảo hộ tại Việt Nam.
- Khả năng phân biệt khách quan của nhãn hiệu so với các đối tượng
được bảo hộ khác của quyền SHTT:
Để thực hiện đƣợc một cách đầy đủ hai chức năng chính của nhãn hiệu
là chức năng chỉ dẫn nguồn gốc và chức năng phân biệt, dấu hiệu xem xét
phải không đƣợc trùng hoặc tƣơng tự ở mức gây nhầm lẫn với một nhãn hiệu
hoặc một đối tƣợng của quyền SHTT cùng đóng vai trò là các chỉ dẫn thƣơng
mại đã tồn tại trƣớc đó nhƣ kiểu dáng công nghiệp, chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu
nổi tiếng, đặc biệt là trùng/tƣơng tự gây nhầm lẫn với tên thƣơng mại. Việc
đánh giá khả năng gây nhầm lẫn giữa các nhãn hiệu, giữa nhãn hiệu với các
đối tƣợng khác của quyền sở hữu công nghiệp đƣợc căn cứ vào phạm vi bảo
hộ của các đối tƣợng đó, đặc biệt là bản thân các dấu hiệu và hàng hoá/dịch
vụ mang các dấu hiệu đó.
Nhƣ vậy, bất cứ nhãn hiệu nào rơi vào các trƣờng hợp nêu trên đều
không đáp ứng đủ điều kiện để đƣợc bảo hộ nhƣ một nhãn hiệu. Việc quy

18




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status