ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT BÙI THỊ HẢI NHƯ ĐIỀU KIỆN BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Quế Anh
Hà nội - 2009
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các chữ viết tắt
19
1.2.
Khái quát chung về điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp đối với nhãn hiệu
21
1.2.1.
Cơ sở xây dựng điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp đối với nhãn hiệu
21
1.2.2.
Khái niệm điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
đối với nhãn hiệu
23
1.2.3.
ý nghĩa của điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
đối với nhãn hiệu
24
1.2.4.
Điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với
nhãn hiệu theo pháp luật một số quốc gia trên thế giới
25
1.2.5.
Quá trình hình thành và phát triển của các quy định
28 pháp luật Việt Nam về điều kiện bảo hộ quyền sở hữu
công nghiệp đối với nhãn hiệu
Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện bảo hộ quyền
HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
VỀ ĐIỀU KIỆN BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG
NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU
82
3.1.
Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam
về điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với
nhãn hiệu
82
3.1.1.
Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam
về điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với
nhãn hiệu trong giai đoạn thẩm định hình thức
83
3.1.2.
Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam
về điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với
nhãn hiệu trong giai đoạn thẩm định nội dung
87
3.2.
Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp
luật Việt Nam về điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp đối với nhãn hiệu
94
KẾT LUẬN
100
bảng
Tên bảng
Trang
3.1
Đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu từ năm 2000 đến năm
2008
82
3.2
Kết quả thẩm định hình thức đơn đăng ký nhãn hiệu
84
3.3
Kết quả thẩm định nội dung đơn đăng ký nhãn hiệu
88
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) nói chung và nhãn hiệu
nói riêng đóng vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội
của mỗi quốc gia. Quyền SHCN được bảo hộ là cơ sở pháp lý đảm bảo quyền
và lợi ích của nhà sản xuất, kinh doanh, góp phần ngăn chặn và phòng ngừa
hành vi xâm phạm quyền, hành vi cạnh tranh không lành mạnh từ phía các
chủ thể khác. Tuy nhiên, khác với tài sản thông thường, để được bảo hộ quyền
SHCN, chủ sở hữu nhãn hiệu cần thực hiện thủ tục đăng ký tại cơ quan nhà
nước có thẩm quyền. Thực tế cho thấy rằng, tuy các dấu hiệu được lựa chọn
để sử dụng cho sản phẩm, dịch vụ rất phong phú, đa dạng song chúng chỉ có
thể được bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu khi và chỉ khi thỏa mãn các điều
kiện do pháp luật quy định.
hơn các công trình nghiên cứu, các sách, báo, tạp chí đề cập đến các khía cạnh
của bảo hộ quyền SHTT nói chung và quyền SHCN đối với nhãn hiệu nói
riêng. Điển hình như: "Pháp luật về sở hữu trí tuệ- thực trạng và hướng phát
triển trong những năm đầu thế kỷ XXI" (Đề tài cấp Bộ, Bộ Tư pháp, 2000);
"Những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoàn thiện khung pháp luật Việt Nam
về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong xu thế hội nhập quốc tế và khu vực" (Đề
tài Đại học Quốc gia, 2002); "Nhãn hiệu hàng hóa trong pháp luật dân sự"
(PGS.TS Đinh Văn Thanh, Luật gia Đinh Thị Hằng, Nxb Công an nhân dân,
2004); Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Luật: "Những vấn đề pháp lý
về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt
Nam"; Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Mai Thanh: "Những vấn đề pháp lý về
bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt
Nam". Vấn đề này cũng được đề cập tới trong các hội thảo khoa học, bài báo
và tạp chí chuyên ngành. Tuy nhiên, các công trình trên chưa tập trung nghiên
cứu chuyên sâu về các khía cạnh cụ thể của bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu. Có thể nói, điều kiện bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu chưa từng
được nghiên cứu một cách có hệ thống dưới góc độ một đề tài riêng, độc lập.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích
Mục đích của đề tài là làm sáng tỏ về mặt lý luận, thực tiễn áp dụng
các điều kiện bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu nhằm đưa ra một số kiến
nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
* Nhiệm vụ
Với mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu
như sau:
- Khái quát chung về bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu và điều
kiện bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu.
- Phân tích các quy định cụ thể pháp luật Việt Nam về điều kiện bảo
dựng và bảo vệ nhãn hiệu.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp đối với nhãn hiệu.
Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện bảo hộ
quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện
quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp đối với nhãn hiệu. Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHÃN HIỆU VÀ ĐIỀU KIỆN BẢO HỘ
QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHÃN HIỆU
1.1.1. Khái niệm
Thuật ngữ nhãn hiệu hàng hóa (NHHH) được sử dụng lần đầu tiên
trong một văn bản pháp luật quốc tế về bảo hộ quyền SHCN là Công ước Pari
năm 1886. Tiếp đó, vào năm 1994, Hiệp ước luật nhãn hiệu được ký kết với
mục tiêu đơn giản hóa và hài hòa hóa các quy định về thủ tục và yêu cầu hành
chính của hệ thống đăng ký nhãn hiệu quốc gia và khu vực. Mặc dù không
đưa ra một khái niệm cụ thể nhưng thông qua việc liệt kê các nhãn hiệu được
áp dụng, Hiệp ước đã khẳng định các đặc tính bản chất của nhãn hiệu: "được
cấu tạo bởi các dấu hiệu nhìn thấy được". Cũng tại Điểm b Khoản 1 Điều 2
của Hiệp ước quy định "Hiệp ước này không áp dụng đối với nhãn hiệu là ảnh
chụp ba chiều và nhãn hiệu vô hình, cụ thể là nhãn hiệu âm thanh và nhãn
hiệu mùi". Tuy nhiên, nhãn hiệu ba chiều sẽ được thừa nhận "với điều kiện là
Nhãn hiệu hàng hóa được cấu thành bởi dấu hiệu bất kỳ
hoặc sự kết hợp bất kỳ của các dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng
hóa hoặc dịch vụ của một người với hàng hóa hoặc dịch vụ của
người khác bao gồm từ ngữ, tên người, hình ảnh, chữ cái, chữ số, tổ
hợp màu sắc, các yếu tố hình hoặc hình dạng của bao bì hàng hóa.
Nhãn hiệu hàng hóa bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập
thể và nhãn hiệu chứng nhận [25].
Khi Luật SHTT (LSHTT) năm 2005 ra đời, lần đầu tiên thuật ngữ
"nhãn hiệu" được sử dụng trong các văn bản pháp luật quốc gia bởi lẽ trước đây
"nhãn hiệu hàng hóa" được hiểu là bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ. Điểm 16
Điều 4 LSHTT định nghĩa: "Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng
hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau" [35]. Như vậy, bất kỳ dấu hiệu nào thỏa mãn điều kiện phân biệt hàng hóa/dịch vụ cùng loại của các chủ
thể khác đều được coi là nhãn hiệu. Tính mở và tính khái quát của quy định
cho phép các loại dấu hiệu mới có thể được cấp văn bằng bảo hộ. Điều này
hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển không ngừng của khoa học và công
nghệ, với sự xuất hiện ngày càng phong phú của các dạng dấu hiệu. Tuy
nhiên, đặt trong trong bối cảnh của Việt Nam, quy định trên sẽ gây khó khăn
cho quá trình áp dụng thống nhất pháp luật.
Bởi vậy, Khoản 1 Điều 72 LSHTT đã thu hẹp phạm vi bảo hộ bằng
việc quy định: "Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây: Là
dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả
hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc
nhiều mầu sắc" [35]. Việc quy định tách rời thành hai điều luật khác nhau là
không cần thiết và có khả năng gây hiểu lầm cho các chủ thể khi lựa chọn các
dấu hiệu đăng ký nhãn hiệu. Theo chúng tôi, có thể hợp nhất hai quy định này
trong một khái niệm chung: Nhãn hiệu là dấu hiệu nhìn thấy được có khả
năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể kinh doanh khác nhau được
biệt về đặc tính và chất lượng và họ cần một phương pháp để nhận biết sự
khác biệt giữa các loại hàng hóa, dịch vụ. Nhãn hiệu được coi là con đường
tắt làm khách hàng nhớ tới doanh nghiệp cũng như các sản phẩm của họ một
cách nhanh nhất và có hiệu quả đồng thời giúp người tiêu dùng giảm chi phí,
thời gian tìm kiếm thông tin về những sản phẩm, dịch vụ có giá trị, chất lượng
như mong muốn.
Khi mua một sản phẩm hay sử dụng một dịch vụ, người tiêu dùng
thường quan tâm tới việc ai là người sản xuất hoặc ai là nhà cung cấp. Ví dụ:
mua quần áo gắn nhãn hiệu "Việt Tiến", người ta biết ngay Tổng công ty may
Việt Tiến là nhà sản xuất hay khi mua sản phẩm mang nhãn hiệu "Samsung",
người ta biết do Công ty Samsung cung cấp và phân phối. Khách hàng có thể
yên tâm về xuất xứ của sản phẩm và xác định được chủ thể chịu trách nhiệm
pháp lý khi xảy ra vi phạm, tranh chấp.
* Chức năng đảm bảo chất lượng của sản phẩm, dịch vụ Một nhãn hiệu có đẳng cấp, đã được chấp nhận sẽ tạo ra sự tin cậy đối
với khách hàng. Đại đa số người tiêu dùng đều không muốn mình là người
thử nghiệm đối với một nhãn hiệu mới trong khi họ đã có sự trải nghiệm, hài
lòng về một nhãn hiệu khác cho loại hàng hóa tương tự.
Một nhãn hiệu được người tiêu dùng được người tiêu dùng chấp nhận và
tin tưởng sẽ góp phần tạo ra lợi nhuận rất lớn cho chủ sở hữu. Tata - quan
chức điều hành cao cấp của một tập đoàn ấn Độ đã khẳng định: "Khi nền kinh tế
phát triển và người tiêu dùng có sức mua lớn hơn, dân chúng không mua sản
phẩm. Họ mua một lời hứa. Nhãn hiệu chỉ là sự diễn đạt một lời hứa" [30, tr.
153]. "Lời hứa" về chất lượng không được bảo đảm sẽ ảnh hưởng tới niềm tin
của người tiêu dùng và "lòng trung thành" của họ không phải là bất biến. Nếu
chủ sở hữu nhãn hiệu không đầu tư vào chất lượng, duy trì và cải tiến sản
phẩm, dịch vụ thì khó có thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người
tiêu dùng cũng như giữ vững được thị phần trên thị trường.
bảo hộ cho một tổ chức, cá nhân duy nhất và chỉ có tổ chức, các nhân đó mới
có quyền sở hữu nhãn hiệu. Đây là dạng nhãn hiệu phổ biến nhất, thường gặp
nhất trong quá trình thẩm định nhãn hiệu.
Nhãn hiệu tập thể (NHTT) là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa,
dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng
hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó
(Khoản 17 Điều 4 LSHTT). Tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp có
quyền đăng ký NHTT để các thành viên của mình sử dụng theo quy chế
chung mang tính chất ràng buộc. Quy chế sử dụng NHTT là lài liệu không thể
thiếu trong đơn đăng ký và bất kỳ sự thay đổi nào cũng phải được thông báo
với cơ quan đăng ký nhãn hiệu. Trong trường hợp chủ giấy chứng nhận đăng
ký NHTT không kiểm soát hoặc kiểm soát không có hiệu quả việc thực hiện
quy chế thì văn bằng bảo hộ có thể bị chấm dứt hiệu lực (Điều 95 LSHTT).
Tại một số quốc gia như Đức, Phần Lan, Na Uy, Thụy Điển, Thụy Sĩ, NHTT
có thể bị hủy bỏ nếu nhãn hiệu được sử dụng trái với quy chế hoặc có tính cht la di cụng chỳng. Bi vy, NHTT úng vai trũ quan trng trong vic
bo v ngi tiờu dựng, chng li cỏc hnh vi gian di.
im c trng ca NHTT l tng thnh viờn u cú quyn s dng
NHTT trong nhón hiu riờng ca mỡnh. Vớ d: VINATABA l NHTT c
ng ký cho sn phm thuc lỏ ca Tng cụng ty thuc lỏ Vit Nam, cỏc
thnh viờn ca Tng cụng ty u s dng nhón hiu ny bờn cnh cỏc thnh
phn khỏc do h thit k. iu ny cho phộp phõn bit hng húa ca chớnh
doanh nghip vi hng húa ca cỏc i th cnh tranh khỏc, trong khi cựng
thu c li ớch t s tin tng ca ngi tiờu dựng i vi hng húa hoc
dch v mang NHTT. NHTT thng gn lin vi cỏc chng loi hng húa
nht nh ca nhiu doanh nghip khỏc nhau trong mt liờn kt kinh t, k
thut v tớnh i din c phỏt trin ch yu theo chiu sõu.
K t sau khi LSHTT cú hiu lc, du hiu cú cha ch dn ngun gc
văn bản luật và dưới luật.
Khoản 20 Điều 4 LSHTT Việt Nam quy định: "Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn
hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam"
[35]. Một nhãn hiệu được coi là nổi tiếng có thể được sử dụng trên thị trường
Việt hoặc chưa từng được sử dụng hoặc đăng ký tại Việt Nam. Trước đây,
"quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng phát sinh trên cơ sở
quyết định công nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền" [9, Khoản 3
Điều 8], nhưng sau khi LSHTT có hiệu lực, quyền sở hữu xác lập trên cơ sở
sử dụng và không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký. Như vậy, có thể thấy rằng:
khác với nhãn hiệu thường, nhãn hiệu nổi tiếng được bảo hộ không thông qua
thủ tục xác lập quyền SHCN.
Khi một nhãn hiệu được coi là nổi tiếng, phạm vi bảo hộ sẽ rộng hơn
so với nhãn hiệu thường. Điều 6 bis Công ước Paris khẳng định: Một nhãn
hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng có thể coi là xâm phạm nhãn
hiệu này kể cả trường hợp hàng hóa, dịch vụ được sử dụng không trùng với hàng hóa, dịch vụ của nhãn hiệu nổi tiếng nếu có nguy cơ làm hiểu lầm là có
sự liên quan với chủ nhãn hiệu nổi tiếng và có nguy cơ gây tổn hại cho lợi ích
của chủ thể này. Trong thực tế, nhiều cá nhân, tổ chức do không nhận thức
được vấn đề này nên đã đăng ký các dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn
hiệu nổi tiếng và đương nhiên bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ.
Trên thế giới, cơ quan có thẩm quyền công nhận nhãn hiệu nổi tiếng
thường là cơ quan SHCN quốc gia và tòa án. Hầu như các nước không luật
hóa các tiêu chí xác định nhãn hiệu nổi tiếng mà giải quyết theo từng vụ việc
cụ thể trong quá trình cấp đăng ký nhãn hiệu hoặc xét xử tranh chấp tại tòa.
* LSHTT còn xây dựng những quy định tạo điều kiện thuận lợi cho
doanh nghiệp, trong đó có nhãn hiệu liên kết và nhãn hiệu chứng nhận
Với chức năng phân biệt sản phẩm, dịch vụ của các chủ thể kinh
doanh khác nhau, giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu chỉ được cấp cho một
thẩm quyền. Tuy nhiên, NHTT ch cú th c s dng bi cỏc ch th l
thnh viờn ca hip hi s hu NHTT, trong khi nhón hiu chng nhn
thng c s dng bi bt k i tng no ỏp ng cỏc tiờu chun xỏc
nh v c ch s hu chp thun m khụng cú hn ch bt k v t cỏch
thnh viờn.
Trong hot ng kinh doanh, mi cỏ nhõn, t chc cú th sn xut mt
hoc nhiu loi sn phm hoc cung cp mt hoc nhiu hỡnh thc dch v
tng t nhau tựy thuc vo kh nng ti chớnh, trỡnh k thut, nhu cu ca
th trng. to iu kin cho cỏc ch th ú, phỏp lut dnh cho h kh
nng ng ký bo h nhón hiu liờn kt.
Vit Nam, nhón hiu liờn kt ln u tiờn c ghi nhn ti Ngh
nh 63/CP c sa i, b sung theo Ngh nh s 06/N-CP:
Nhón hiu liờn kt l cỏc nhón hiu hng húa tng t vi
nhau do cựng mt ch th ng ký dựng cho cỏc sn phm, dch
v cựng loi, tng t vi nhau hoc cú liờn quan ti nhau, v cỏc
nhón hiu hng húa trựng nhau do cựng mt ch th ng ký dùng cho các sản phẩm, dịch vụ tương tự với nhau hoặc có liên
quan tới nhau" [11, Khoản 8a
Điều 2].
Nội dung này được tiếp tục khẳng định trong LSHTT năm 2005 với cách
diễn đạt cô đọng, rõ ràng và dễ hiểu hơn: "Nhãn hiệu liên kết là các nhãn hiệu do
cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc tương tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ
cùng loại hoặc tương tự nhau hoặc có liên quan với nhau" [35, Khoản 19 Điều
4].
Nhãn hiệu liên kết có tính khái quát cao và có tính đại diện cho tất cả
các chủng loại hàng hóa cùng loại hoặc tương tự của doanh nghiệp. Ví dụ:
Nhãn hiệu Panasonic được đăng ký cho các sản phẩm điện tử như điện thoại,
định của LSHTT và có bản chất tương đối khác biệt.
* Về chức năng thương mại
Theo quy định tại Khoản 21 Điều 4 LSHTT 2005: "Tên thương mại là
tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt
chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng
lĩnh vực và khu vực kinh doanh" [35]. Như vậy, tên thương mại thực hiện
chức năng phân biệt chủ thể kinh doanh trong khi nhãn hiệu dùng để phân
biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau.
* Về yếu tố cấu thành
Cũng giống như tên thương mại, nhãn hiệu được hình thành theo nguyên
tắc "tự do lựa chọn". Các cá nhân, tổ chức hoàn toàn tự do trong việc lựa chọn
chỉ dẫn thương mại để tiến hành hoạt động kinh doanh của mình. Tuy nhiên
sự lựa chọn ấy đặt trên cơ sở phù hợp với các quy định của pháp luật. nhà
nước dạt ra những khung pháp lý, điều kiện bảo hộ có tính chất bắt buộc
Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân và thường bao gồm hai
thành phần chính: dấu hiệu xác định loại hình doanh nghiệp, dấu hiệu tên
riêng của doanh nghiệp. Khác với tên thương mại, nhãn hiệu không chỉ là tên
gọi hay từ ngữ mà còn bao gồm dấu hiệu khác như hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp của các yếu tố trên tạo thành một tổng thể phân
biệt. Thậm chí, ở một số quốc gia trên thế giới, hình ảnh, âm thanh được thể
hiện dưới dạng đồ họa cũng được coi là nhãn hiệu.
* Về căn cứ xác lập quyền SHCN
Ngoại trừ nhãn hiệu nổi tiếng, quyền SHCN đối với nhãn hiệu được
xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền theo thủ tục đăng ký hoặc công nhận đăng ký quốc tế trên cơ sở
quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên. Quyền SHCN đối với tên thương mại được tự động xác lập khi
thỏa mãn các điều kiện nhất định và trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương
nhu cầu sử dụng.
Quyền đối với nhãn hiệu cùng với sự luân chuyển của thời gian luôn
có xu hướng bị "hao mòn", ví dụ như quá trình biến nhãn hiệu thành tên gọi
chung cho một chủng loại hàng hóa. Trong bất kỳ trường hợp nào để duy trì
hiệu lực bảo hộ cần tiến hành thủ tục đăng ký lại qua tùng thời gian nhất định
và trả lệ phí. Ở một loạt nước hiệu lực bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá phụ thuộc
vào việc nhãn hiệu đó có được sử dụng tại các quốc gia đó hay không. Quyền
đối với tên thương mại tồn tại không bị hạn chế về mặt thời gian, không có xu
hướng bị "hao mòn", không phụ thuộc vào việc nộp lệ phí hay sử dụng dấu
hiệu là tên thương mại [3].
Về mặt không gian, văn bằng bảo hộ nhãn hiệu có hiệu lực trên toàn
lãnh thổ Việt Nam. Bất kỳ chủ thể nào sử dụng nhãn hiệu mà không được sự
cho phép của chủ sở hữu thì hành vi đó dù được thực hiện trên bất kỳ tỉnh
thành nào cũng bị coi là vi phạm quyền SHCN. Tuy nhiên, điều này không
được áp dụng đối với tên thương mại. Bảo hộ tên thương mại chỉ được giới
hạn trong một khu vực kinh doanh - nơi chủ thể kinh doanh đã có bạn hàng,
khách hàng hoặc có danh tiếng. Phạm vi bảo hộ về không gian của hai đối
tượng không thống nhất đã và đang gây ra rất nhiều khó khăn trong cho công tác áp dụng pháp luật nói chung và quá trình thẩm định đơn nhãn hiệu nói
riêng.
Bên cạnh đó, nếu như pháp luật thường dành
sự bảo hộ cao hơn đối với NHHH nổi tiếng thì
trong khoa học pháp lý không tồn tại khái niệm tên
thương mại nổi tiếng và chế độ bảo hộ cao hơn đối
với những tên thương mại được biết đến một cách
rộng rãi, có uy tín hơn cũng không tồn tại.
Trong trường hợp nhãn hiệu và tên thương mại đều thuộc quyền sở
hữu của một chủ thể thì các quyền đó sẽ bổ sung cho nhau, góp phần củng cố