Phạm vi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo pháp luật việt nam - Pdf 39

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

LU C ANH

PHạM VI BảO Hộ QUYềN Sở HữU CÔNG NGHIệP
ĐốI VớI NHãN HIệU THEO PHáP LUậT VIệT NAM

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2016


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

LU C ANH

PHạM VI BảO Hộ QUYềN Sở HữU CÔNG NGHIệP
ĐốI VớI NHãN HIệU THEO PHáP LUậT VIệT NAM
Chuyờn ngnh: Lut dõn s v t tng dõn s
Mó s: 60 38 01 03

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: TS. NGUYN TH QU ANH

H NI - 2016


LỜI CAM ĐOAN

1.2.

Khái niệm và phạm vi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ............ 14

1.2.1. Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp ................................................ 14
1.2.2. Phạm vi bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp ....................................... 15
1.3.

Khái niệm bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn
hiệu và phạm vi của bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối
với nhãn hiệu ..................................................................................... 18

1.3.1. Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu ................... 18
1.3.2. Khái niệm phạm vi bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu .............. 22
1.4.

Cơ sở xác định phạm vi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
đối với nhãn hiệu............................................................................... 22

1.4.1. Phạm vi bảo hộ về thời gian ............................................................... 23
1.4.2. Phạm vi bảo hộ về không gian ........................................................... 24
1.4.3. Phạm vi bảo hộ về nội dung ............................................................... 28
1.4.4. Phạm vi hàng hóa, dịch vụ được gắn nhãn hiệu ................................. 36
1.4.5. Nghĩa vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu ................................................... 38


Chương 2: NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN
HÀNH VỀ PHẠM VI BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG
NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU ................................................... 41
2.1.

hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu ................................................. 78

3.2.1. Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá,
dịch vụ trùng với hàng hoá, dịch vụ đăng ký kèm theo nhãn hiệu ........ 78


3.2.2. Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng
hoá, dịch vụ tương tự hoặc liên quan tới hàng hoá, dịch vụ đăng
ký kèm theo nhãn hiệu có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc
hàng hoá, dịch vụ ................................................................................ 79
3.2.3. Sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng
hoá, dịch vụ trùng với hàng hoá, dịch vụ đăng ký kèm theo nhãn
hiệu có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ ...... 79
3.2.4. Sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng
hoá, dịch vụ tương tự hoặc liên quan tới hàng hoá, dịch vụ đăng ký
kèm theo nhãn hiệu có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng
hoá, dịch vụ.......................................................................................... 79
3.3.

Thực tiễn vi phạm liên quan đến phạm vi hàng hóa được
gắn nhãn hiệu .................................................................................... 82

3.4.

Những xâm phạm mới liên quan đến môi trường internet .......... 83

3.5.

Một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về phạm vi
bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu .................... 85

tương ứng…, mà điều quan trọng hơn là bảo vệ lợi ích chính đáng của người
tiêu dùng được các quốc gia, các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp… rất
quan tâm, vì nó tạo ra sự khuyến khích, bảo đảm cho đầu tư trong, ngoài nước
và cũng là động lực tăng trưởng kinh tế.
Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, trong đó có nhãn hiệu đã trở thành
vấn đề mang tính toàn cầu. Một trong số 16 cơ quan chuyên môn của Liên
hợp quốc là Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) có trụ sở ở Géneve, Thụy
Sĩ, được thành lập năm 1967 với Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới
thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPS) nhằm thúc đẩy tiến
trình bảo hộ sở hữu trí tuệ trên toàn thế giới, thúc đẩy hợp tác giữa các quốc
gia và các tổ chức quốc tế trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, khuyến khích việc ký
kết các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ, hiện đại hóa pháp luật quốc gia các
nước thành viên, quản lý các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ…

1


Từ tầm quan trọng đặc biệt đó, vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói
chung và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nói riêng trở
thành vấn đề thách thức đối với nhiều quốc gia, đã trở thành một trong những
điều kiện bắt buộc để một nước trở thành thành viên của Tổ chức thương mại
thế giới (WTO). Đối với nước ta, thách thức đó trở nên cấp bách hơn bao giờ
hết, khi mà việc đàm phán, thương lượng song phương hay đa phương để
được trở thành thành viên chính thức của WTO đã ở giai đoạn sắp kết thúc.
Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu ở nước ta trong
thời gian qua cũng đã có được bước chuyển biến khả quan kể cả trong lĩnh
vực xây dựng và hoàn thiện pháp luật đến cơ chế thực thi, cũng như xử lý các
vi phạm…, tuy nhiên trong lĩnh vực này vẫn còn nhiều bất cập, đó là:
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp nói chung và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nói

học liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu như:
“Nâng cao vai trò và năng lực của Tòa án trong việc thực thi quyền sở hữu trí
tuệ ở Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” (TS. Đinh Ngọc Hiện Đề tài khoa học cấp Bộ, Tòa án nhân dân tối cao, 1999); “Ý nghĩa của Nghị
định số 12/1999/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong lĩnh vực sở hữu công
nghiệp và vấn đề tổ chức thực hiện” (PGS.TS Đoàn Năng); “Pháp luật về sở
hữu trí tuệ - Thực trạng và hướng phát triển trong những năm đầu thế kỷ
XXI” (PGS.TS Lê Hồng Hạnh - đề tài khoa học cấp Bộ, Bộ Tư pháp, 2000);
“Nhãn hiệu trong pháp luật dân sự” (PGS.TS Đinh Văn Thanh, luật gia Đinh
Thị Hằng)...; trong các hội thảo khoa học, nhiều nhà khoa học cũng đề cấp
đến vấn đề này, như: “Xử lý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp và thực
hiện Nghị định 12/CP/1999 của Chính phủ” (PGS.TS Đoàn Năng), “Vai trò
của Tòa án nhân dân trong việc bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp tại Việt
Nam” (TS. Đinh Ngọc Hiện), “Tình hình đăng ký sở hữu công nghiệp và thực
trạng xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp tại Việt Nam”; “Tầm quan trọng

3


của bảo hộ nhãn hiệu trong kỷ nguyên hội nhập kinh tế nhằm tăng cường tính
cạnh tranh toàn cầu” (Trần Việt Hùng). Tạp chí Nhà nước và Pháp luật cũng
có bài nghiên cứu, như: “Về thực trạng và phương hướng tiếp tục hoàn thiện
pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ở nước ta hiện nay” (PGS.TS
Đoàn Năng)...; trong Tạp chí Luật học cũng có một số bài như: “Thương hiệu
hay nhãn hiệu” (PGS.TS Lê Hồng Hạnh)...
Các công trình của các tác giả Việt Nam đề cập vấn đề bảo hộ quyền sở
hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong mối quan hệ chung với các đối
tượng khác của sở hữu trí tuệ, có nêu lên thực trạng xâm phạm, có kiến nghị
giải pháp khắc phục... Nhưng, nhìn chung chưa có công trình nào nghiên cứu
chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về phạm vi bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp đối với nhãn hiệu.

- Đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng thực thi bảo hộ quyền sở
hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu thông qua xác định phạm vi bảo hộ.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Luận văn được hoàn thành trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, đường lối, chính sách
của Đảng, pháp luật của Nhà nước về sở hữu công nghiệp nói chung.
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử quá
trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn, các phương pháp nghiên cứu khoa
học chuyên ngành như: Tổng kết thực tiễn, phân tích, tổng hợp, so sánh,
thống kê, hệ thống hóa… cũng được sử dụng triệt để nhằm làm rõ các vấn đề
liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp nói chung và phạm vi bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nói riêng.
5. Những đóng góp mới của luận văn
Là công trình khoa học đầu tiên đi chuyên sâu nghiên cứu một cách
toàn diện và có hệ thống từ chế định pháp luật, cơ chế thực thi và thực trạng
về phạm vi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu ở Việt Nam,
trong nội dung của luận văn đã có được một số đóng góp mới, cụ thể như:
5


5.1. Nêu rõ mọi khía cạnh của phạm vi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
đối với nhãn hiệu trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế và từ việc nghiên cứu
pháp luật Việt Nam, chỉ rõ hiệu quả và những nguyên nhân, hạn chế.
5.2. So sánh, đối chiếu các quy định pháp luật Việt Nam về phạm vi
bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu với quy định về bảo hộ
nhãn hiệu trong một số điều ước quốc tế và pháp luật của một số nước khác
trên thế giới, từ đó chỉ rõ “tính đầy đủ” và “tính hiệu quả” của pháp luật Việt
nam và mục tiêu cụ thể cần đạt tới.
5.3. Xây dựng được một số khái niệm khoa học có liên quan đến lĩnh
vực nghiên cứu như:
- Nhãn hiệu - đối tượng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp;

kiến thức về sở hữu trí tuệ; những kết luận, khuyến nghị trong luận án có thể
được tham khảo trong hướng dẫn thi hành và áp dụng pháp luật ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Lý luận về phạm vi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối
với nhãn hiệu.
Chương 2: Những quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về phạm vi
bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.
Chương 3: Thực tiễn xâm phạm liên quan đến phạm vi quyền sở hữu
công nghiệp đối với nhãn hiệu và Một số khuyến nghị hoàn thiện pháp luật ở
Việt Nam.

7


Chương 1
LÝ LUẬN VỀ PHẠM VI BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU
1.1. Khái niệm và phân loại nhãn hiệu
Sự phát triển của hệ thống kinh tế thị trường cho phép các nhà sản xuất
và các thương gia cạnh tranh đưa đến người tiêu dùng sự lựa chọn đa dạng
cho hàng hoá cùng chủng loại. Thường nếu không có sự khác biệt rõ ràng đối
với người tiêu dùng, chúng thường chỉ khác nhau về chất lượng, giá cả và các
đặc tính khác. Rõ ràng người tiêu dùng cần được hướng dẫn, giúp họ suy xét
các lựa chọn và đi đến quyết định lựa chọn cho riêng mình trong số các hàng
hoá cạnh tranh. Do vậy, hàng hoá cần phải được đặt tên. Phương tiện để đặt
tên hàng hoá trên thị trường chính là nhãn hiệu hàng hoá. Thông qua đó,
khuyến khích chủ sở hữu các nhãn hiệu duy trì và nâng cao chất lượng các
sản phẩm bán ra dưới nhãn hiệu đó, để đáp ứng sự mong đợi của người tiêu

quy định rằng khả năng được đăng ký thuộc vào tính phân biệt đạt được thông
qua việc sử dụng. Các thành viên có thể quy định rằng điều kiện để được đăng
ký các dấu hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được [30, Đ.15]
Có thể thấy, định nghĩa nhãn hiệu theo quy định của WIPO chỉ tập
trung vào bản chất của nhãn hiệu đồng thời là hai chức năng chính của nhãn
hiệu, chức năng chỉ nguồn gốc và chức năng phân biệt. Trong khi đó, TRIPs
định nghĩa được đưa ra tại TRIPs lại có tính cụ thể nhưng vẫn bảo đảm bao
quát chung nhất các vấn đề liên quan đến nhãn hiệu, từ bản chất, chức năng,
các yếu tố cấu thành đến điều kiện bảo hộ của nhãn hiệu đều được đề cập.
Ở cấp độ khu vực, Liên minh châu Âu cũng đưa ra một khái niệm về
nhãn hiệu theo các Chỉ thị số 89/104 và 40/94. Theo đó,
Một nhãn hiệu cộng đồng có thể gồm bất kỳ dấu hiệu nào được trình
bày một cách rõ ràng và chi tiết (represented graphically), đặc biệt là các từ,

9


bao gồm tên riêng, các phác hoạ hình ảnh, chữ viết, chữ số, hình dáng của
hàng hoá hoặc của bao bì sản phẩm, với điều kiện là những dấu hiệu đó phải
có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của chủ thể kinh doanh này với
hàng hoá, dịch vụ của các chủ thể kinh doanh khác [25, tr. 14].
Với sự tiếp thu có chọn lọc tinh thần của định nghĩa nhãn hiệu trong
Hiệp định TRIPs và định nghĩa của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới, Hiệp định
thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ cũng khẳng định bản chất của nhãn hiệu
cũng như nêu bật các yếu tố cấu thành nhãn hiệu trong định nghĩa đề cập trên,
tuy nhiên Hiệp định này không chỉ dừng ở đó mà còn đưa vào định nghĩa đó
phân loại nhãn hiệu:
Trong hiệp định này, nhãn hiệu được cấu thành bởi dấu hiệu bất kỳ
hoặc sự kết hợp bất kỳ của các dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa dịch
vụ của một người với hàng hóa dịch vụ của người khác, bao gồm từ ngữ, tên

không có sẵn tính phân biệt với điều kiện là nhãn hiệu đó đã đạt được tính
phân biệt thông qua sử dụng” [22].
Nhãn hiệu được bảo hộ theo quy định nêu trên có những nết đặc thù so
với các quy định về nhãn hiệu trong luật của Cộng hòa Liên bang Đức và Hoa
Kỳ đó là: ngoài dấu hiệu âm thanh thì mùi vị cũng có thể được đăng ký bảo hộ là
nhãn hiệu. Nhãn hiệu được đăng ký bảo hộ thông qua việc sử dụng của các nhà
sản xuất, kinh doanh; nếu nhãn hiệu đó đã đạt được tính phân biệt thông qua sử
dụng mặc dù trước khi sử dụng nhãn hiệu không có sẵn tính phân biệt.
Tóm lại, qua khái niệm nhãn hiệu theo pháp luật nhãn hiệu của các tổ
chức quốc tế và của các nước như Đức, Hoa Kỳ, Australia nêu trên, thì thấy
rằng: Luật pháp quốc tế và luật pháp của các nước này đều xác định rõ nhãn
hiệu phải có những dấu hiệu thể hiện khả năng nhận biết và phân biệt. Dấu
hiệu nhận biết và phân biệt được coi là yếu tố định lượng rất quan trọng khi
phân biệt nhãn hiệu này với nhãn hiệu khác. Nhãn hiệu có các chức năng
phân biệt và nhận biết hàng hóa, dịch vụ (không bắt buộc phải là hàng hóa,

11


dịch vụ cùng loại) của chủ thể kinh doanh này với hàng hóa, dịch vụ của chủ
thể kinh doanh khác (doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác). Đây là điều
kiện quan trọng nhất bảo đảm cho nhãn hiệu thực hiện chức năng của mình,
tạo dựng bản sắc riêng cho từng chủ thể kinh doanh và tránh sự nhầm lẫn khi
hàng hóa được đưa vào lưu thông trên thị trường.
Như vậy, Nhãn hiệu là dấu hiệu hữu hình mà từ đó xác định được
nguồn gốc, đồng thời giúp phân biệt hàng hóa, dịch vụ với các sản phẩm
cùng loại nhưng khác nguồn gốc.
1.1.2. Phân loại nhãn hiệu
Mục đích của việc phân loại này sẽ giúp làm rõ bản chất của nhãn hiệu
với những nét đặc thù cho phép xác định đặc trưng của một loại nhãn hiệu đặc trưng này không chỉ ảnh hưởng tới yếu tố cảm nhận nhãn hiệu trong

hiệu, cách phân loại theo chức năng này ít được các điều ước quốc tế và các
quốc gia điều chỉnh do việc các điều ước lớn như Công ước Paris, TRIPS
không quy định nghĩa vụ phải bảo hộ nó và do bản chất của nhãn hiệu chỉ
mang tính xác nhận một đặc điểm nào đó của hàng hoá, dịch vụ mang nó, mà
không mang tính độc quyền hay áp dụng nội bộ. Có rất nhiều định nghĩa khác
nhau về nhãn hiệu chứng nhận ở các quốc gia. Một số quốc gia quy định,
nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu của tổ chức có chức năng kiểm soát,
chứng nhận về hàng hoá, dịch vụ được dùng cho hàng hoá, dịch vụ của các cá
nhân, tổ chức kinh doanh khi hàng hoá, dịch vụ của họ phù hợp với các điều
kiện của nhãn hiệu chứng nhận. Nhưng tại Hoa Kỳ, không phải bất kỳ ai tuân
thủ các tiêu chuẩn đã xác định đều có thể sử dụng nhãn hiệu chứng nhận, mà
chỉ các doanh nghiệp đã được chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận cho phép
mới được sử dụng nhãn hiệu đó [21, tr.68]. Khoản 18, Điều 4, Luật SHTT
2005 của Việt Nam cũng quy định theo nghĩa hẹp như vậy:
Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu
cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của

13


tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên
liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hoá, cách thức cung cấp dịch
vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của
hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu [15].
Tuy nhiên, có thể rút ra một số đặc điểm của nhãn hiệu này: thứ nhất, là
nhãn hiệu của tổ chức có thẩm quyền chứng nhận về đặc tính nào đó của sản
phẩm, dịch vụ; thứ hai, bản thân tổ chức không được sử dụng mà chỉ áp dụng
cho các chủ thể khi họ phải đáp ứng các điều kiện nhất định của tổ chức sở
hữu nhãn hiệu; thứ ba, nhãn hiệu sẽ là một bảo đảm cho hàng hoá, dịch vụ
mang nhãn hiệu đáp ứng đặc tính nào đó mà nó chứng nhận, vì vậy sẽ giúp

Sau hơn một thế kỷ, cho đến nay danh sách các đối tượng sở hữu công
nghiệp nói trên đã được bổ sung thêm một số đối tượng mới, đó là:
- Bí mật kinh doanh (bí mật thương mại, thông tin không bộc lộ...);
- Thiết kế bố trí mạch tích hợp;
Quyền sở hữu công nghiệp là một loại quyền sở hữu, do vậy nó cũng
mang đặc điểm chung của quyền sở hữu (chẳng hạn chủ thể mang quyền luôn
xác định còn chủ thể mang nghĩa vụ là không xác định....). Ngoài ra, quyền sở
hữu công nghiệp còn có những đặc điểm riêng để phân biệt không chỉ với
quyền sở hữu tài sản vật chất mà còn phân biệt với quyền tác giả - một lĩnh
vực thuộc quyền sở hữu trí tuệ.
1.2.2. Phạm vi bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp
Phạm vi có hiệu lực bảo hộ đối với quyền sở hữu công nghiệp là một đặc
trưng cơ bản của quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở hữu công nghiệp
nói riêng. Đây chính là sự khác biệt giữa quyền sở hữu các đối tượng là tài sản
vật chất hữu hình với các đối tượng là tài sản vật chất vô hình. Phạm vi bảo hộ
quyền sở hữu công nghiệp có tính hạn chế được thể hiện ở nhiều khía cạnh như
hạn chế về không gian, hạn chế về thời gian, hạn chế về các nội dung quyền
của chủ sở hữu (quyền sở hữu công nghiệp có thể bị hạn chế bởi quyền của

15


người sử dụng trước đối với sáng chế, kiểu dáng hoặc chủ sở hữu phải có nghĩa
vụ sử dụng sáng chế, nhãn hiệu hay quyền sử dụng sáng chế có thể bị chuyển
giao bắt buộc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền), việc sử
dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp không thuộc quyền sở hữu của mình
phải được sự cho phép của chủ sở hữu đối với quyền sở hữu công nghiệp đó,
v.v… Về cơ bản, phạm vi của quyền sở hữu công nghiệp thể hiện ở hai khía
cạnh đó là tính hạn chế về không gian và tính hạn chế về thời gian
a) Về không gian: Quyền sở hữu công nghiệp mang tính lãnh thổ tuyệt

hữu công nghiệp của chủ sở hữu, người được chủ sở hữu chuyển giao quyền
sử dụng cũng chấm dứt, ngoại trừ một số đối tượng sở hữu công nghiệp như
tên thương mại, chỉ dẫn địa lý... được bảo hộ vô thời hạn nhưng các đối tượng
đó cũng như chủ sở hữu các đối tượng đó phải đảm bảo một số điều kiện do
pháp luật quy định.
Yêu cầu về phạm vi thời gian bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp xuất
phát từ sự phát triển của khoa học công nghệ, của kinh tế xã hội bởi vì các đối
tượng của quyền sở hữu công nghiệp là những sản phẩm trí tuệ có ích cho xã
hội, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật, công nghệ. Nếu những
đối tượng quyền sở hữu công nghiệp được bảo hộ vĩnh viễn thì sẽ kìm hãm sự
sáng tạo, dẫn đến tình trạng bưng bít thông tin. Sau khi hết thời hạn bảo hộ, các
đối tượng sở hữu công nghiệp này sẽ trở thành tài sản chung của nhân loại.
c. Phạm vi nội dung quyền sở hữu công nghiệp
Quyền sở hữu công nghiệp là một quyền dân sự theo nghĩa rộng. Đây
không phải là một quyền dân sự “tuyệt đối” theo cách hiểu truyền thống từ
trước đến nay về quyền dân sự. Quyền sở hữu công nghiệp thường gắn với các
hoạt động sản xuất, kinh doanh. Mục đích của các quan hệ dân sự về quyền sở
hữu công nghiệp không phải là để thỏa mãn những mục đích tiêu dùng dân sự
thường ngày của các chủ thể mà chính là các lợi ích kinh tế thu được từ hoạt
động sản xuất, kinh doanh có sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp.

17


Đặc tính không hữu hình của sản phẩm sáng tạo trí tuệ nói chung và
của đối tượng quyền sở hữu công nghiệp nói riêng sau khi bộc lộ có thể lan
truyền vô giới hạn, không thể kiểm soát được. Do vậy, để chiếm giữ, người
chiếm giữ hoặc là không công bố, giữ bí mật về sản phẩm, không đưa vào sử
dụng, khai thác hoặc có khai thác nhưng phải giữ không cho người khác biết
về bản chất của đối tượng đó. Tuy nhiên, trên thực tế, điều này không thể thực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status