điều kiện bảo hộ nhãn hiệu theo quy định của pháp luật việt nam - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT

---

---

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 37 (2011-2015)
Đề tài:

ĐIỀU KIỆN BẢO HỘ NHÃN HIỆU
THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

ThS. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

Phạm Thị Mỹ Hằng

Bộ Môn: Luật Tư Pháp

MSSV: 5115886
Lớp: Luật Thương Mại 2, K37

Cần Thơ, Tháng 12/2014


Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Việt Nam


GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

SVTH: Phạm Thị Mỹ Hằng


Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Việt Nam

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................

1.1.3. Căn cứ xác lập quyền với nhãn hiệu.............................................................9
1.1.3.1. Đăng kí nhãn hiệu tại Việt Nam...............................................................9
1.1.3.2. Đăng kí nhãn hiệu tại nước ngoài..........................................................14
1.2. Một số loại nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam ..............................................15
1.2.1. Nhãn hiệu tập thể........................................................................................15
1.2.2. Nhãn hiệu chứng nhận ...............................................................................16
1.2.3. Nhãn hiệu liên kết .......................................................................................18
1.2.4. Nhãn hiệu nổi tiếng.....................................................................................19
1.3. Phân biệt nhãn hiệu với một số đối tượng sở hữu công nghiệp khác .............21
1.3.1. Phân biệt nhãn hiệu với tên thương mại.....................................................21
1.3.2. Phân biệt nhãn hiệu với chỉ dẫn địa lí ........................................................22
1.3.3. Phân biệt nhãn hiệu với kiểu dáng công nghiệp.........................................24
1.4. Lịch sử hình thành và phát triển các quy định của pháp luật về bảo hộ
nhãn hiệu..................................................................................................................25
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

SVTH: Phạm Thị Mỹ Hằng


Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Việt Nam
1.4.1. Trên thế giới ................................................................................................25
1.4.2. Ở Việt Nam..................................................................................................27
1.5. Sự cần thiết của pháp luật bảo hộ nhãn hiệu...................................................30

CHƯƠNG 2. NHỮNG ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT ĐỂ NHÃN HIỆU
ĐƯỢC BẢO HỘ............................................................................................. 32
2.1. Điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ..............................................32
2.1.1. Dấu hiệu nhìn thấy được ............................................................................32
2.1.2 Khả năng phân biệt của nhãn hiệu..............................................................33
2.2. Tính phân biệt của nhãn hiệu...........................................................................35

dấu hiệu trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác
dùng cho các hàng hóa và các dịch vụ trùng hoặc tương tự.......................................48
2.3.2.2. Nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt nếu nhãn hiệu đó là
dấu hiệu trùng hoặc tương tự với các đối tượng sở hữu công nghiệp .........................50
2.3.2.3. Nhãn hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhằm lẫn với các cơ
quan, tổ chức hoặc có tính lừa dối người tiêu dùng ...................................................51

CHƯƠNG 3. THỰC TIỄN ÁP DỤNG NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP
LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN BẢO HỘ NHÃN HIỆU - MỘT SỐ VƯỚNG
MẮC VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN.......................................................... 52
3.1. Tình hình chung hiện nay về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa...............................52
3.2. Một số vướng mắc trong việc áp dụng các quy định pháp luật về điều kiện
bảo hộ nhãn hiệu......................................................................................................54
3.2.1. Pháp luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam thiếu quy định cụ thể về các yếu tố để
xác định và đánh giá khả năng phân biệt của nhãn hiệu ........................................54
3.2.2. Quy định pháp luật về nhãn hiệu nổi tiếng chưa cụ thể và rõ ràng ...........58
3.3. Một số hướng hoàn thiện về điều kiện bảo hộ nhãn hiệu................................60

KẾT LUẬN..................................................................................................... 64
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

SVTH: Phạm Thị Mỹ Hằng


Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Việt Nam

LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu tại Cục sở hữu trí tuệ tăng lên đáng kể, điều đó chứng tỏ
sự nhận thức về giá trị, vai trò của nhãn hiệu trong xã hội đã thay đổi nhưng vẫn còn
số lượng lớn đơn yêu cầu bị từ chối chủ yếu do vấn đề hiểu biết về bảo hộ nhãn hiệu
GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

1

SVTH: Phạm Thị Mỹ Hằng


Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Việt Nam
hiện nay ở Việt Nam chưa được đầy đủ, gây nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp
cạnh tranh trên thị trường nước ngoài cũng như thị trường nội địa. Để xây dựng được
một nhãn hiệu đáp ứng được mục đích kinh doanh của doanh nghiệp và đáp ứng được
những quy định về điều kiện bảo hộ đối với nhãn hiệu lại không phải dễ dàng. Việc
bảo hộ một nhãn hiệu có thành công hay không trước hết nhãn hiệu đó phải đáp ứng
được các điều kiện bảo hộ theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ. Với mong muốn
có cơ hội tìm hiểu, nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định về nhãn hiệu, đặc
biệt là các quy định về điều kiện bảo hộ đối với nhãn hiệu, mà người viết chọn đề tài
“Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Việt Nam” làm đề tài luận
văn tốt nghiệp. Đồng thời qua đó có thể đưa ra những kiến nghị góp phần hoàn thiện
pháp luật về điều kiện bảo hộ đối với nhãn hiệu ở Việt Nam.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận, đồng thời đưa ra
những nhận xét, đánh giá các quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ về điều kiện bảo hộ
đối với nhãn hiệu. Từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện những quy định của
pháp luật về điều kiện bảo hộ nhãn hiệu.
3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung đi sâu vào nghiên cứu các quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ
Việt Nam về điều kiện bảo hộ đối với nhãn hiệu, đồng thời nghiên cứu những quy



Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Việt Nam

CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU
1.1. Khái niệm chung về bảo hộ nhãn hiệu
1.1.1. Khái niệm nhãn hiệu
1.1.1.1. Khái niệm về nhãn hiệu theo quy định của Hiệp định TRIPs
Nhãn hiệu là một trong những đối tượng cơ bản của quyền sở hữu trí tuệ, vì vậy
pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia luôn coi trọng việc bảo hộ nhãn hiệu.
Cho đến nay đã có khá nhiều các điều ước quốc tế song phương và đa phương
điều chỉnh các vấn đề liên quan đến nhãn hiệu. Trong số này, có thể kể một số điều
ước quốc tế có nhiều thành viên tham gia như Công ước Paris 1883, Hệ thống Madrid,
Hiệp định TRIPs. Tuy Công ước Paris, Hệ thống Madrid chưa đưa ra khái niệm nhãn
hiệu nhưng đã quy định các điều khoản liên quan đến việc bảo hộ các đối tượng sở
hữu công nghiệp (Công ước Paris) hoặc thiết lập hệ thống quốc tế về đăng ký bảo hộ
nhãn hiệu (Hệ thống Madrid). Riêng TRIPs đã có quy định khái niệm về nhãn hiệu.
Theo Hiệp định TRIPs, nhãn hiệu hàng hóa tại khoản 1 Điều 15 được quy định:
“Bất kì một dấu hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hóa
hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp
khác, đều có thể làm nhãn hiệu. Các dấu hiệu đó, đăc biệt là các từ, kể cả tên riêng,
các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình họa và tổ hợp các màu sắc cũng như tổ hợp bất kì
của các dấu hiệu đó, phải có khả năng được đăng kí là nhãn hiệu.
Trường hợp bản thân các dấu hiệu không có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch
vụ tương ứng, các thành viên có thể quy định rằng khả năng được đăng ký phụ thuộc
vào tính phân biệt đạt được xác định thông qua quá trình sử dụng.
Các thành viên có thể quy định rằng điều kiện để được đăng ký là các dấu hiệu phải là
dấu hiệu nhìn thấy được”.
Qua khái niệm nhãn hiệu của Hiệp định TRIPs thì nhãn hiệu có các yếu tố sau:

dấu hiệu có thể phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các doanh nghiệp. Pháp luật
các nước cũng như trong các Điều ước quốc tế đều không liệt kê một danh sách các
dấu hiệu cố định mà chỉ đưa ra các dấu hiệu phổ biến, cơ bản. Các quốc gia tùy vào
điều kiện kinh tế-xã hội mà đưa ra các khái niệm phù hợp.
1.1.1.2. Khái niệm về nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Việt Nam
Sự hình thành pháp luật sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa ở nước
ta được đánh dấu bằng việc Hội đồng Bộ Trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Điều lệ
về nhãn hiệu hàng hóa, ban hành kèm theo Nghị định 197/HĐBT ngày 14/12/1982 của
Hội đồng Bộ trưởng ban hành điều lệ về nhãn hiệu hàng hóa. Theo đó, tại khoản 1
Điều 3 Nghị định 197/HĐBT quy định:“Nhãn hiệu hàng hoá được bảo hộ pháp lý là
những dấu hiệu được chấp nhận có thể là từ ngữ, hình ảnh, hình vẽ, hình nổi... hoặc là
sự kết hợp các yếu tố trên, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc kết hợp”.
Do đó, điều kiện để một dấu hiệu được bảo hộ là nhãn hiệu hàng hóa theo khái
niệm này đó là “dấu hiệu được chấp nhận”. Quy định này chưa thể hiện được chức
năng quan trọng nhất của nhãn hiệu đó là chức năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng
loại của các tổ chức, cá nhân khác nhau, đồng thời thuật ngữ “dấu hiệu được chấp
nhận” trong khái niệm này không rõ ràng, gây khó hiểu cho các chủ sở hữu nhãn hiệu
khi lựa chọn các dấu hiệu để đăng ký nhãn hiệu.

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

5

SVTH: Phạm Thị Mỹ Hằng


Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Việt Nam
Đến ngày 28/1/1989, Hội đồng Nhà nước đã thông qua Pháp lệnh bảo hộ sở hữu
công nghiệp. Tại khoản 4 Điều 4 của Pháp lệnh này, khái niệm nhãn hiệu hàng hóa
được quy định như sau: “Nhãn hiệu hàng hoá là những dấu hiệu dùng để phân biệt


Khoản 1, Điều 3 Nghị định 197/HĐBT ngày 14/12/1982 của Hội đồng Bộ Trưởng ban hành điều lệ về

nhãn hiệu hàng hóa.
2
Khoản 1, Điều 15 Hiệp định TRIPs.

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

6

SVTH: Phạm Thị Mỹ Hằng


Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Việt Nam
Khái niệm nhãn hiệu theo Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được quy định cụ thể tại
khoản 16 Điều 4 phần giải thích từ ngữ như sau: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân
biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”.
Đây là một quy định đã mang tính khái quát hơn rất nhiều so với quy định của
Bộ luật Dân sự 1995 khi sử dụng thuật ngữ “nhãn hiệu” thay cho “nhãn hiệu hàng
hóa” và không hề giới hạn các dấu hiệu có thể được đăng kí làm nhãn hiệu.
Ở góc độ chung nhất, nhãn hiệu có thể được hiểu là bất kỳ dấu hiệu nào có thể
nhận biết được bao gồm từ ngữ, tên gọi, chữ cái, con số, biểu tượng, thiết kế, hình vẽ
hay bất kỳ sự kết hợp nào của chúng, và kiểu dáng hay bao bì hàng hóa được sử dụng
hoặc sẽ được sử dụng trong thương mại để xác định và phân biệt hàng hóa hay dịch vụ
của chủ thể này với hàng hóa hay dịch vụ của các chủ thể khác. Do đó nhãn hiệu là bất
kì một dấu hiệu nào hoặc bất kì sự kết hợp nào của những dấu hiệu nhìn thấy được và
có khả năng phân biệt hàng hóa hay dịch vụ của doanh nghiệp này với hàng hóa hay
dịch vụ của doanh nghiệp khác.
Khả năng phân biệt luôn là điều kiện bắt buộc của nhãn hiệu, đây cũng là chức

Trong khoa học pháp lý Việt Nam có nhiều quan điểm khác nhau về bảo hộ
quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, theo đó cách hiểu chung về bảo hộ nhãn
hiệu là: “Bảo hộ nhãn hiệu là sự bảo đảm của Nhà nước bằng hệ thống pháp luật và
hoạt động của cơ quan chức năng trong việc xác lập quyền đối với nhãn hiệu cho các
chủ thể, bảo vệ quyền đó chống lại bất kì sự vi phạm nào của bên thứ ba”.
Để có thể được bảo hộ, nhãn hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ
cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được
thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc; đồng thời, phải có khả năng phân biệt. Theo
đó, pháp luật Việt Nam hiện không bảo hộ các nhãn hiệu dạng âm thanh hoặc mùi
hương do không nhìn thấy được, ngay cả khi âm thanh hoặc mùi hương đó có khả
năng phân biệt cao.
Nhãn hiệu được coi là có khả năng phân biệt nếu được tạo thành từ một hoặc một
số yếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể dễ
nhận biết, dễ ghi nhớ…Một số dấu hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt như:
các biểu tượng, hình vẽ, tên gọi thông thường của hàng hóa, dịch vụ; các dấu hiệu chỉ
địa điểm, nguồn gốc địa lý, phương pháp sản xuất hoặc các đặc tính mô tả hàng hoá,
dịch vụ; các hình đơn giản, chữ số, chữ cái…Tuy nhiên, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005
cũng thừa nhận khả năng một số dấu hiệu nêu trên có thể dần dần đạt được khả năng
phân biệt nhờ một quá trình sử dụng đến trước thời điểm nộp đơn đăng ký, do vậy sẽ
được chấp nhận bảo hộ.
1.1.2. Đặc điểm của nhãn hiệu
Để nhãn hiệu được bảo hộ thì tính phân biệt là điều kiện tiên quyết. Việc đăng ký
đối với một nhãn hiệu sẽ bị từ chối và theo đó quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến nhãn
hiệu cũng sẽ không được bảo vệ nếu nhãn hiệu không có tính phân biệt hoặc trong một
số trường hợp tính phân biệt đó không được thể hiện một cách rõ ràng.
Tính đa dạng là một đặc trưng của nhãn hiệu. Các dấu hiệu được xem xét như là
nhãn hiệu luôn tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, như là những từ ngữ, tên gọi
(bao gồm cả tên riêng), biểu tượng, hình ảnh, âm thanh hay bất kỳ sự kết hợp nào của
các yếu tố này, hình dạng của hàng hóa (nhãn hiệu không gian ba chiều), màu sắc hay
sự kết hợp các màu sắc và bất kỳ một cái gì khác có thể được sử dụng để xác định

Khác với một số đối tượng sở hữu công nghiệp khác, nhãn hiệu cần phải được
xác lập quyền thông qua đăng kí mới được bảo hộ, trừ nhãn hiệu nổi tiếng. Do đó, một
chủ thể muốn sở hữu và được bảo hộ nhãn hiệu một cách đầy đủ thì phải đăng kí nhãn
hiệu tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Trên cơ sở hồ sơ đăng kí của chủ thể kinh
doanh, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành thẩm định đơn bao gồm thẩm định
hình thức và thẩm định nội dung sau đó quyết định cấp hay từ chối cấp đăng kí bảo hộ
nhãn hiệu. Việt Nam đã thiêt lập được cơ chế đăng kí nhìn chung khá phù hợp với các
chuẩn mực của pháp luật quốc tế.
* Điều kiện đăng kí nhãn hiệu
Muốn đăng kí nhãn hiệu trước hết phải là chủ thể kinh doanh hợp pháp, ngoài ra
nhãn hiệu đăng kí phải đáp ứng được hai điều kiện sau:
- Thứ nhất, là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình
ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc
nhiều màu sắc.
- Thứ hai, có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu
với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác.

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

9

SVTH: Phạm Thị Mỹ Hằng


Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Việt Nam
* Chủ thể có quyền nộp đơn đăng kí nhãn hiệu
Trước đây, theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Nghị định 63/CP của Chính phủ
quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp, các chủ thể sau có quyền yêu cầu cấp văn
bằng bảo hộ nhãn hiệu:
- Cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác tiến hành hoạt động sản xuất hợp pháp


GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

10

SVTH: Phạm Thị Mỹ Hằng


Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Việt Nam
- Tổ chức có chức năng kiểm soát, chứng nhận chất lượng, đặc tính, nguồn gốc
hoặc tiêu chí khác liên quan đến hàng hoá, dịch vụ có quyền đăng ký nhãn hiệu chứng
nhận với điều kiện không tiến hành sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ đó.
* Thủ tục nộp đơn đăng kí nhãn hiệu
Từ Điều 89 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 ta thấy tổ chức, cá nhân Việt Nam, cá
nhân nước ngoài thường trú tại Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có cơ sở sản
xuất, kinh doanh tại Việt Nam nộp đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp
trực tiếp hoặc thông qua đại diện hợp pháp tại Việt Nam. Cá nhân nước ngoài không
thường trú tại Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài không có cơ sở sản xuất, kinh
doanh tại Việt Nam nộp đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp thông qua đại
diện hợp pháp tại Việt Nam.
Để xác lập quyền đối với nhãn hiệu, theo Điều100, Điều 105 Luật Sở hữu trí tuệ
năm 2005 người yêu cầu nộp đơn tại cơ quan có thẩm quyền với các tài liệu sau: Tờ
khai đăng kí theo mẫu quy định, tài liệu, mẫu vật, thông tin xác định nhãn hiệu cần
bảo hộ (bao gồm: mẫu nhãn hiệu và danh mục hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu, quy
chế sử dụng nhãn hiệu tập thể, quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận); Giấy ủy
quyền (nếu đơn nộp thông qua đại diện); Chứng từ nộp phí, lệ phí.
Quyền sở hữu đối với nhãn hiệu được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng
bảo hộ của Cục sở hữu trí tuệ. Như vậy, muốn được bảo hộ cho doanh nghiệp phải
tiến hành đăng ký để xác lập quyền sở hữu. Khi quyền được xác lập, chủ sở hữu có
quyền khai thác tài sản của mình, có quyền cho phép hoặc ngăn chặn người khác sử

hình thức và yêu cầu về tính thống nhất của đơn sở hữu công nghiệp.
- Thời hạn xét nghiệm hình thức là 01 tháng kể từ ngày đơn đến Cục Sở hữu trí
tuệ.
Công bố đơn: Các đơn nhãn hiệu hợp lệ đều được Cục Sở hữu trí tuệ công bố
trên Công báo Sở hữu công nghiệp. Công báo này được ấn hành hàng tháng. Bất cứ ai
có nhu cầu có thể yêu cầu Cục Sở hữu trí tuệ cung cấp bản in Công báo và phải trả
tiền mua Công báo.
Thẩm định nội dung:
- Việc thẩm định nội dung được tiến hành khi đơn đã được chấp nhận là đơn
hợp lệ và người nộp đơn đã nộp lệ phí xét nghiệm nội dung theo quy định. Thời
hạn thẩm định nội dung đơn nhãn hiệu là 06 tháng tính từ ngày công bố.
- Mục đích của việc thẩm định nội dung đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ là để
xác định đối tượng nêu trong đơn có đáp ứng các tiêu chuẩn bảo hộ mà luật pháp quy
định hay không.
Cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, đăng bạ:
- Căn cứ vào kết quả thẩm định nội dung, nếu đối tượng nêu trong đơn đáp ứng
các tiêu chuẩn bảo hộ, thì Cục Sở hữu trí tuệ thông báo cho người nộp đơn kết
quả thẩm định và yêu cầu nộp lệ phí đăng bạ, lệ phí cấp Giấy chứng nhận đăng ký
nhãn hiệu, lệ phí công bố Văn bằng bảo hộ.
- Nếu người nộp đơn nộp các lệ phí nêu trên, thì Cục Sở hữu trí tuệ tiến hành
các thủ tục cấp Văn bằng bảo hộ cho người nộp đơn, đăng bạ và công bố Văn bằng
bảo hộ. Nếu người nộp đơn không nộp lệ phí theo yêu cầu, thì đơn coi như bị rút bỏ.

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

12

SVTH: Phạm Thị Mỹ Hằng



đến tại Điều 91 trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, theo đó người nộp đơn đăng kí
nhãn hiệu có quyền hưởng quyền ưu tiên trên cơ sở đơn đầu tiên nếu đáp ứng các điều
kiện sau:

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

13

SVTH: Phạm Thị Mỹ Hằng


Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Việt Nam
- Đơn đầu tiên đã được nộp tại Việt Nam hoặc tại nước là thành viên của điều
ước quốc tế có quy định về quyền ưu tiên mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
cũng là thành viên hoặc có thoả thuận áp dụng quy định như vậy với Việt Nam.
- Người nộp đơn là công dân Việt Nam, công dân của nước khác nhưng cư trú
hoặc có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam; công dân cư trú hoặc có cơ sở kinh
doanh tại nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về quyền ưu tiên mà
Việt Nam cũng là thành viên hoặc có thoả thuận áp dụng quy định như vậy với Việt
Nam.
- Trong đơn có nêu rõ yêu cầu được hưởng quyền ưu tiên và có nộp bản sao đơn
đầu tiên có xác nhận của cơ quan đã nhận đơn đầu tiên.
- Đơn được nộp trong thời hạn ấn định tại điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Trong một đơn đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp hoặc nhãn hiệu, người
nộp đơn có quyền yêu cầu hưởng quyền ưu tiên trên cơ sở nhiều đơn khác nhau được
nộp sớm hơn với điều kiện phải chỉ ra nội dung tương ứng giữa các đơn nộp sớm hơn
ứng với nội dung trong đơn. Ngày ưu tiên là ngày nộp đơn của đơn đầu tiên.
1.1.3.2. Đăng kí nhãn hiệu tại nước ngoài
* Đăng kí theo Thỏa ước Madrid

Do mục đích của sử dụng nhãn hiệu trong hoạt động thương mại nên pháp luật
Việt Nam đề cập đến các loại nhãn hiệu sau: nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận,
nhãn hiệu liên kết và nhãn hiệu nổi tiếng.
1.2.1. Nhãn hiệu tập thể
Nhãn hiệu tập thể được ghi nhận tại Điều 7bis, Công ước Paris năm 1883. Tuy
nhiên, Công ước này không đưa ra khái niệm về nhãn hiệu tập thể, cũng như cách thức
bảo hộ.
Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kì cũng chỉ quy định về nhãn hiệu tập
thể như sau: “Nhãn hiệu hàng hóa bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể
và nhãn hiệu chứng nhận”.6
Theo khoản 17 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, nhãn hiệu tập thể được
định nghĩa: “Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của
tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó”.
Nhãn hiệu tập thể được áp dụng đối với hàng hóa và dịch vụ. Nhãn hiệu tập thể
là nhãn hiệu của một tập thể các nhà sản xuất (thường là một hiệp hội, hợp tác xã, tổng
công ty…). Trong đó, tổ chức tập thể xây dựng quy chế chung về việc sử dụng nhãn
hiệu tập thể (như các chỉ tiêu chung về chất lượng, nguồn gốc, phương pháp sản
xuất…) và các thành viên có quyền sử dụng nhãn hiệu nếu hàng hóa, dịch vụ của họ
đáp ứng được các tiêu chuẩn đó. Vì vậy nhãn hiệu tập thể có chức năng thông báo cho
công chúng biết những đặc điểm đặc trưng của các sản phẩm mang nhãn hiệu tập thể.7
Đương nhiên, việc sử dụng nhãn hiệu tập thể không ngăn cản những thành viên
của hiệp hội có những nhãn hiệu hàng hóa riêng của mình.
Quyền sở hữu nhãn hiệu tập thể tùy từng trường hợp có thể là cá nhân hoặc pháp
nhân đại diện hợp pháp cho tập thể đó. Chủ nhãn hiệu tập thể có nghĩa vụ kiểm soát sự
6
7

Khoản 1, Điều 6, Chương 2 Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kì.
Vai trò của nhãn hiệu tập thể, http://nhanhieu.vn/nhan-hieu-tap-the-la-gi/, [Ngày truy cập, 12-7-2014].



1.2.2. Nhãn hiệu chứng nhận
Nhãn hiệu chứng nhận mới xuất hiện gần đây trong thực tiễn thương mại. Nó
hầu như không được đề cập đến trong các Điều ước quốc tế đa phương về sở hữu trí
tuệ, kể cả Hiệp định TRIPs.

8
9

Khoản 8, Điều 2, Nghị định 63/CP ngày 24/10/1996 của Chính phủ quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp.
Khai thác giá trị thương hiệu Gạo Bao thai Định Hóa, http://www.baothainguyen.org.vn/tin-tuc/dua-nghi-

quyet-dai-hoi-dang-bo-tinh-lan-thu-xviii-vao-cuoc-song/khai-thac-gia-tri-thuong-hieu-gao-bao-thai-dinhhoa-200326-198.html, [Ngày truy cập, 13-7-2014].

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

16

SVTH: Phạm Thị Mỹ Hằng


Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Việt Nam
Tại khoản 18 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 định nghĩa: “Nhãn hiệu
chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử
dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về
xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hóa, cách thức cung cấp dịch
vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ
mang nhãn hiệu”.
Nhãn hiệu chứng nhận có mục đích chứng nhận cho hàng hóa, dịch vụ của nhiều
chủ thể kinh doanh các loại hàng hóa dịch vụ khác nhau. Nhãn hiệu chứng nhận có thể

1.2.3. Nhãn hiệu liên kết
Đây là loại nhãn hiệu mới nên hiện nay chưa có sự thống nhất trong quan điểm
của các nước về vấn đề bảo hộ chúng. Pháp luật Hoa Kì không quy định riêng về nhãn
hiệu liên kết nhưng lại lồng ghép các quy định tương ứng vào việc bảo hộ nhãn hiệu
nổi tiếng.
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, nhãn hiệu liên kết lần đầu tiên được ghi
nhận tại Nghị định 63/CP ngày 24/10/1996 của Chính phủ quy định chi tiết về sở hữu
công nghiệp, theo đó khoản 8a Điều 2: “Nhãn hiệu liên kết là các nhãn hiệu hàng hóa
tương tự nhau do cùng một chủ thể đăng ký, để dùng cho các sản phẩm hàng hóa,
dịch vụ cùng loại, tương tự với nhau hoặc có liên quan đến nhau”.
Khi Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 ra đời cũng đã kế thừa tinh thần của Nghị định
trên, được quy định: “Nhãn hiệu liên kết là các nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng
kí, trùng hoặc tương tự nhau dùng cho các sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự
nhau hoặc có liên quan với nhau”.11
Trên thương trường hành vi cạnh tranh không lành mạnh diễn ra ngày càng phổ
biến và tinh vi, trong đó có các hành vi sao chép nhãn hiệu hàng hóa. Do muốn đạt
được lợi nhuận nhanh chóng, các doanh nghiệp sao chép theo các nhãn hiệu được
công chúng ưa chuộng. Vì vậy việc đăng ký nhãn hiệu liên kết mang lại nhiều lợi ích
cho chủ nhãn hiệu.
Chủ nhãn hiệu sẽ không cần phải xây dựng uy tín cho từng mặt hàng, từng nhãn
hiệu riêng biệt, do đó tiết kiệm được các chi phí quảng cáo, khuếch trương được nhanh
chóng uy tín thương mại của mình. Việc sử dụng nhãn hiệu liên kết tạo uy tín cho
những sản phẩm dịch vụ mới của doanh nghiệp bởi nhãn hiệu đã từng được biết đến
và chiếm được sự tín nhiệm của người tiêu dùng. Nhãn hiệu liên kết cũng hạn chế tối
đa việc các chủ sở hữu sản xuất kinh doanh khác lợi dụng uy tín của nhãn hiệu mà
đăng ký nhãn hiệu hàng hóa tương tự gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng và thiệt hại
cho chủ nhãn hiệu.

10
Danh sách nhãn hiệu chứng nhận đã được cấp văn bằng bảo hộ,

hiệu nổi tiếng bị sao chép, quyền của chủ nhãn hiệu nổi tiếng bị xâm phạm diễn ra
khắp nơi trên toàn thế giới.
Trong Công ước Paris năm 1883, vấn đề nhãn hiệu nổi tiếng được đề cập đến
trong Điều 6bis nhưng chỉ dừng lại trong chừng mực nhất định, hầu như không có định
nghĩa chính thức ghi nhận về nhãn hiệu nổi tiếng.
Trong pháp luật Việt Nam, năm 2001 tại Nghị định 06/2001/NĐ-CP sửa đổi bổ
sung một số điều của Nghị định 63/CP quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp thì vấn
đề nhãn hiệu nổi tiếng mới được đề cập gián tiếp, nhưng chỉ dừng lại ở việc thừa nhận
bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng. Theo quy định tại khoản 2 Điều 1 của Nghị định này thì
nhãn hiệu nổi tiếng được quy định như sau: “Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu hàng
hóa được sử dụng liên tục cho sản phẩm, dịch vụ có uy tín khiến cho nhãn hiệu được
biết đến một cách rộng rãi”.
Đây được coi là quá trình nội luật hóa các quy luật của điều ước quốc tế vào các
văn bản pháp luật Việt Nam đồng thời cũng đánh dấu một bước tiến trong quá trình

GVHD: Th.S Nguyễn Thị Ngọc Tuyền

19

SVTH: Phạm Thị Mỹ Hằng


Trích đoạn Hình và hình học đơn giản không có khả năng phân biệt, chữ số, chữ Nhãn hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhằm lẫn với các cơ Một số vướng mắc trong việc áp dụng các quy định pháp luật về điều kiện
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status