Bài tập nhóm thương mại 2 -Các điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận trọng tài theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành. Sự khác biệt giữa thỏa thuận trọng tài vô hiệu và thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được - Pdf 33

Bài tập nhóm thương mại 2

Lớp N03 – TL3 – Nhóm 3

MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ………………………………………………………………1
NỘI DUNG………………………………………………………………….1
1. Khái quát chung về thỏa thuận trọng tài………………………………....1
2. Các điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận trọng tài thương mại………….2
3. Sự khác biệt giữa thỏa thuận trọng tài vô hiệu và thỏa thuận trọng tài không
thể thực hiện được…………………………………………………………...6
4. Nhận xét về hiệu lực của các thỏa thuận trọng tài……………………….8
KẾT LUẬN………………………………………………………………….14
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………..15

LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM MODULE 2

1


Bài tập nhóm thương mại 2

Lớp N03 – TL3 – Nhóm 3

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bên cạnh các cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại như thương lượng, hòa
giải và Tòa án thì trọng tài thương mại là một cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu
quả, mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp. Khi có tranh chấp xảy ra các bên
có thể thỏa thuận về việc lựa chọn cơ chế giải quyết bằng trọng tài thương mại.
Trong phạm vi bài nhóm tháng 2, nhóm em xin trình bày về “Các điều kiện có
hiệu lực của thỏa thuận trọng tài theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện

qua các hình thức trao đổi thư từ, công văn, qua các phương tiện thông tin điện tử
như Telex, Fax…
Trong thoả thuận trọng tài, một trong những nội dung cơ bản là các bên phải
thoả thuận đưa tranh chấp ra trọng tài giải quyết. Tên cơ quan trọng tài có thẩm
quyền giải quyết, luật áp dụng cho hợp đồng, luật áp dụng cho thủ thục tố tụng,
giá trị của phán quyết, chi phí trọng tài, địa điểm trọng tài, ngôn ngữ xét xử, thời
hiệu khởi kiện, nội dung tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài.
Thoả thuận trọng tài có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài. Đó chính là "sợi chỉ đỏ" xuyên suốt toàn bộ hoạt động của
trong tài: từ lúc đưa tranh chấp ra trọng tài nào, chọn trọng tài viên ra sao... cho
đến cách thức thủ tục giải quyết tranh chấp. Thoả thuận trọng tài hoàn chỉnh sẽ
giúp các bên hạn chế tổn thất khi xảy ra tranh chấp. Sự chặt chẽ, cụ thể của thoả
thuận trọng tài sẽ phần nào hạn chế vi phạm thoả thuận trọng tài của các bên.
2. Các điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận trọng tài thương mại.
Về điều kiện có hiệu lực của thoả thuận trọng tài. Ở Việt Nam, vấn đề này
được quy định tại Điều 18 Luật trọng tài thương mại (LTTTM) năm 2010, theo
đó thoả thuận trọng tài vô hiệu khi:
“1. Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng
tài quy định tại Điều 2 của Luật này.
2. Người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của
pháp luật.
3. Người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy
định của Bộ luật dân sự.
4. Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16
của Luật này.
5. Một trong các bên bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả
thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài đó là vô hiệu.
6. Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật”.

LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM MODULE 2

Một trong những điều kiện để thoả thuận trọng tài có hiệu lực là người ký kết
thoả thuận trọng tại đó phải có thẩm quyền ký kết. Người ký thoả thuận trọng tài
phải là người có quyền quyết định phương thức giải quyết tranh chấp hoặc là
người được uỷ quyền. Do đó, nếu người xác lập thoả thuận trọng tài không có
thẩm quyền ký kết thì thoả thuận trọng tài bị vô hiệu.
Đối với tranh chấp xảy ra giữa cá nhân với cá nhân thì các cá nhân đó chính là
người có thẩm quyền ký kết thoả thuận trọng tài. Các cá nhân này có thể uỷ
LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM MODULE 2

4


Bài tập nhóm thương mại 2

Lớp N03 – TL3 – Nhóm 3

quyền cho người khác ký kết. Việc uỷ quyền này phải tuân theo quy định của
BLDS 2005 về đại diện theo uỷ quyền. Theo đó, người đại diện theo uỷ quyền sẽ
có thẩm quyền ký kết thoả thuận trọng tài trên cơ sở văn bản uỷ quyền với người
được đại diện.
Đối với tranh chấp phát sinh giữa pháp nhân với pháp nhân. Trong trường hợp
này, người có thẩm quyền ký kết thoả thuận trọng tài là đại diện theo pháp luật
hoặc đại diện theo uỷ quyền của pháp nhân. Khoản 3 Điều 86 BLDS 2005 quy
định: “người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo uỷ quyền của pháp
nhân nhân danh pháp nhân trong quan hệ dân sự”. Khoản 4 Điều 141 cũng có
quy định về người đại diện theo pháp luật của pháp nhân như sau: “người đứng
đầu pháp nhân theo quy định của điều lệ pháp nhân hoặc quyết định quyết định
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”. Khoản 1 Điều 143 BLDS quy định: “cá
nhân, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể uỷ quyền cho người
khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự”. Đại diện theo pháp luật của pháp nhân

thuận trọng tài các bên cần chú ý tới điều kiện này để đảm bảo thoả thuận không
bị vô hiệu.
Bốn là, hình thức của thoả thuận trọng tài.
Thoả thuận của trọng tài tồn tại dưới hai dạng, có thể là điều khoản trong hợp
đồng hoặc là một thoả thuận riêng biệt. Hình thức là sự thể hiện ra bên ngoài ý
chí của các bên, khẳng định sự tồn tại của thoả thuận trọng tài trên thực tế và
cũng là căn cứ chứng minh cho sự tồn tại của nó. Vì vậy, dù tồn tại ở dạng nào
thì thoả thuận trọng tài đều phải tuân theo đúng hình thức do pháp luật quy định.
Thoả thuận trọng tài phải được thể hiện ở hình thức nhất định bảo đảm thể hiện
rõ nét và trung thực nhất ý chí của các bên tranh chấp. Tại điều 16 LTTTM 2010
đã quy định như sau: “Thoả thuận trọng tài phải được xác lập dưới dạng văn
bản. Các hình thức thỏa thuận sau đây cũng được coi là xác lập dưới dạng văn
bản:
“a) Thoả thuận được xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng telegram, fax, telex,
thư điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật;
b) Thỏa thuận được xác lập thông qua trao đổi thông tin bằng văn bản giữa các
bên;
c) Thỏa thuận được luật sư, công chứng viên hoặc tổ chức có thẩm quyền ghi
chép lại bằng văn bản theo yêu cầu của các bên;
d) Trong giao dịch các bên có dẫn chiếu đến một văn bản có thể hiện thỏa thuận
trọng tài như hợp đồng, chứng từ, điều lệ công ty và những tài liệu tương tự
khác;

LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM MODULE 2

6


Bài tập nhóm thương mại 2



LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM MODULE 2

7


Bài tập nhóm thương mại 2

Lớp N03 – TL3 – Nhóm 3

3. Sự khác biệt giữa thỏa thuận trọng tài vô hiệu và thỏa thuận trọng tài
không thể thực hiện được.
Tiêu chí
Các trường
hợp

Thỏa thuận trọng tài vô hiệu

Thỏa thuận trọng tài không

Điều 18. Thoả thuận trọng tài vô hiệu.

thể thực hiện được
Thỏa thuận trọng tài không

1. Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực thể thực hiện được là thỏa
không thuộc thẩm quyền của Trọng tài quy thuận trọng tài có đầy đủ các
định tại Điều 2 của Luật này.

đặc điểm pháp lý của thỏa


điểm khác nhau gây nên hậu quả khác điều kiện có hiệu lực, các bên
nhau nhưng nhìn chung thỏa thuận trọng thỏa thuận trọng tài giải quyết
tài vô hiệu ở bất kỳ thời điểm nào đều làm nhưng tranh chấp không thể
cho trọng tài không còn thẩm quyền giải thực hiện được, do đó sẽ có
quyết tranh chấp nữa và tòa án hoàn toàn nhiều vụ tranh chấp phát sinh

LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM MODULE 2

8


Bài tập nhóm thương mại 2

Lớp N03 – TL3 – Nhóm 3

có thẩm quyền nếu các bên không có thỏa nhưng không được cơ quan
Hủy quyết

thuận khác.
nào giải quyết.
Là một trong các căn cứ để Tòa án hủy Không phải là căn cứ để Tòa

định trọng tài quyết định trọng tài (điểm a khoản 2 Điều án hủy quyết định trọng tài
Luật điều

68 LTTTM 2010)
Luật trọng tài thương mại năm 2010

chỉnh


Bài tập nhóm thương mại 2

Lớp N03 – TL3 – Nhóm 3

tài này có hiệu lực. Nếu thuộc một trong hai điều kiện trên, vụ việc sẽ không
thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài thương mại. Nếu các bên có thỏa thuận
trọng tài những tranh chấp phát sinh không phải là tranh chấp thương mại thì thỏa
thuận trọng tài sẽ vô hiệu và như vậy trọng tài sẽ không có thẩm quyền giải quyết
hoặc khi các bên không thỏa thuận trọng tài.
Như vậy trong tình huống trên hai bên thỏa thuận nếu có tranh chấp thì sẽ được
giải quyết tại tại Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng hoặc trung tâm trọng tài
thương mại Hà Nội, theo đó thì hai bên không thống nhất là sẽ lựa chọn giải
quyết bằng trọng tài ngay từ đầu, vậy đến khi có tranh chấp hai bên lại chọn một
người chọn tòa án một người chọn trọng tài thì giải quyết thế nào, hơn nữa luật
không quy là ưu tiên cái nào, do đó khi vào thực tế thì thỏa thuận này không thực
hiện được mặc dù là thỏa thuận đó có hiệu lực.
4.2. Trừ trường hợp có thoả thuận khác tại thời điểm xảy ra tranh chấp,
tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa này của các bên sẽ
được giải quyết tại một Trung tâm trọng tài tại Hà Nội.
Trọng tài là một thiết chế tài phán tư, trọng tài chỉ có thẩm quyền xét xử nếu
giữa các bên tồn tại một thỏa thuận chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp, phải
có một thỏa thuận trọng tài cụ thể, rõ ràng và theo đúng quy định của Pháp luật
và Quy tắc tố tụng Trọng tài của Trung tâm trọng tài (TTTT). Vì thẩm quyền của
trọng tài phụ thuộc rất lớn vào thỏa thuận trọng tài do đó thỏa thuận trọng tài đòi
hỏi sự rõ ràng về ý chí của các bên là muốn giải quyết tranh chấp bằng phương
thức trọng tài chứ không phải thương lượng, hòa giải hay đưa tranh chấp ra tòa
án giải quyết.
Khi xác lập thỏa thuận Trọng tài, các bên nên thỏa thuận rõ ràng về đối
tượng tranh chấp hay tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, nếu phát hiện

quyền giải quyết vụ tranh chấp mà sau đó các bên không có thỏa thuận bổ sung.
Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi của các bên, tại khoản 5, Điều 43 Luật có quy
định thêm: “Trường hợp các bên đã có thỏa thuận trọng tài nhưng không chỉ rõ
hình thức trọng tài hoặc không thể xác định được tổ chức trọng tài cụ thể, thì khi
có tranh chấp, các bên phải thỏa thuận lại về hình thức trọng tài hoặc tổ chức
trọng tài cụ thể để giải quyết tranh chấp. Nếu không thỏa thuận được thì việc lựa
chọn hình thức, tổ chức trọng tài để giải quyết tranh chấp được thực hiện theo
yêu cầu của nguyên đơn”.
Như vậy, theo các quy định mới của LTTTM 2010, thỏa thuận “Trừ trường
hợp có thoả thuận khác tại thời điểm xảy ra tranh chấp, tranh chấp phát sinh từ
hợp đồng mua bán hàng hóa này của các bên sẽ được giải quyết tại một Trung
tâm trọng tài tại Hà Nội” sẽ không bị coi là vô hiệu giống như quy định của
LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM MODULE 2

11


Bài tập nhóm thương mại 2

Lớp N03 – TL3 – Nhóm 3

Pháp lệnh trọng tài 2003 nữa. Tuy nhiên, luật mới cũng quy định các bên phải
tiến hành thỏa thuận lại về hình thức trọng tài hoặc tổ chức trọng tài cụ thể để
giải quyết tranh chấp. Còn nếu không thỏa thuận được thì việc lựa chọn hình
thức, tổ chức trọng tài để giải quyết tranh chấp được thực hiện theo yêu cầu của
nguyên đơn.
4.3. Việc giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng đại lý mua bán hàng
hóa này giữa các bên sẽ được tiến hành tại Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt
Nam (VIAC) theo quy tắc tố tụng trọng tài do các bên xây dựng.
Trọng tài thương mại chỉ có thẩm quyền giải quyết vụ việc theo sự lựa chọn

mà hai bên đã thỏa thuận và ký kết với nhau.
Căn cứ Điều 317 LTM thì hình thức giải quyết tranh chấp mà các bên có thể
lựa chọn là: Thương lượng giữa các bên; hòa giải giữa các bên do một cơ quan, tổ
chức hoặc cá nhân được các bên thỏa thuận chọn làm trung gian hòa giải; giải
quyết tại Trọng tài hoặc Tòa án. Như vậy các bên trong hợp đồng mua bán hàng
hóa hoàn toàn có thể lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.
Căn cứ LTTTM 2010 về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của trọng tài
thương mại như sau:
“Điều 2. Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của Trọng tài
1. Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại.
2. Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động
thương mại.
3. Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng
Trọng tài.”
Trong tình huống đề bài thì đây là thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng
hóa là một hoạt động thương mại thuần túy nằm trong thẩm quyền giải quyết của
Trọng tài thương mại.
Tại Điều 18 quy định về Thoả thuận trọng tài vô hiệu như sau:
“1. Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng
tài quy định tại Điều 2 của Luật này.
2. Người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của
pháp luật.
3. Người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy
định của Bộ luật dân sự.
4. Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16
của Luật này.

LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM MODULE 2

13


LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM MODULE 2

14


Bài tập nhóm thương mại 2

Lớp N03 – TL3 – Nhóm 3

KẾT LUẬN
Có thể nói, trọng tài thương mại là cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại hiệu
quả, đảm bảo hài hòa lợi ích của các bên tranh chấp, tạo môi trường kinh doanh
lành mạnh, tránh sự xung đột lợi ích không đáng có khi phải đưa tranh chấp ra
Tòa án để giải quyết. Tranh chấp thương mại chỉ có thể thuộc thẩm quyền giải
quyết của trọng tài thương mại nếu các bên có thỏa thuận trọng tài và thỏa thuận
trọng tài có hiệu lực.

LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM MODULE 2

15


Bài tập nhóm thương mại 2

Lớp N03 – TL3 – Nhóm 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.
1.


-

/>
bang-trong-tai-thuong-mai-tai-Viet-nam#ixzz2Oq2JPqNf

LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM MODULE 2

16




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status