I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ
1. Khái niệm hợp đồng dân sự
Hợp đồng dân sự là một trong những chế định quan trọng của pháp luật dân
sự và là phương tiện pháp lý quan trọng để thỏa mãn quyền, lợi ích hợp pháp của
các chủ thể trong xã hội. Hợp đồng nói chung và hợp đồng dân sự nói riêng được
hình thành từ hai cơ sở:
- Cơ sở khách quan để hình thành hợp đồng: Xã hội ngày càng phát triển, sự
phân công lao động ngày càng thể hiện rõ rệt. Theo đó, mỗi chủ thể chỉ có thể
đảm trách một hoặc một số công việc nhất định trong xã hội. Trong khi đó, nhu
cầu của con người ngày càng một gia tăng theo sự phát triển của các điều kiện về
vật chất và tinh thần. Để thỏa mãn nhu cầu của mình, các chủ thể phải tham gia
nhiều quan hệ hợp đồng khác nhau, trong đó có hợp đồng dân sự.
- Cơ sở chủ quan để hình thành quan hệ hợp đồng: vì lợi ích của bản thân mình
nên chủ thể sẽ tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng dân sự. Như vậy, cơ sở chủ
quan để hình thành quan hệ hợp đồng là ý chí và sự tự do ý chí của chủ thể trong
quan hệ hợp đồng mà chủ thể tham gia. Nếu tham gia quan hệ hợp đồng mà
không có sự tự do ý chí của chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng đó thì hợp đồng
dân sự có thể bị vô hiệu.
Như vậy, một xã hội muốn tồn tại và phát triển, nhu cầu của con người muốn
được thỏa mãn thì buộc các chủ thể phải tìm đến với nhau thông qua quan hệ hợp
đồng và trong quan hệ hợp đồng đó phải có sự tự do ý chí của chủ thể.
Hợp đồng dân sự được xác lập sẽ hình thành mối quan hệ pháp lý giữa các
chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng, mối liên hệ pháp lý này được đảm bảo thực
hiện bằng biện pháp cưỡng chế của Nhà nước. Do đó, có thể nói rằng sau khi hợp
đồng được thiết lập, sự ràng buộc pháp lý về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể
được thể hiện rõ nét, theo đó bên nào vi phạm cam kết, thỏa thuận phải gánh chịu
hậu quả pháp lý bất lợi về hành vi vi phạm của mình. Chính vì lý do này, có rất
nhiều thuật ngữ khác nhau được dùng cho quan hệ hợp đồng giữa các chủ thể
như bản cam kết, bản giao kèo, khế ước, luật riêng của các bên tham gia giao
việc mỗi bên theo đuổi những lợi ích riêng của mình và hợp đồng là kết quả của
sự dung hoà các lợi ích đối lập nhau.
Thông thường hợp đồng có hai bên tham gia trong đó thể hiện sự thống nhất
ý chí của các chủ thể trong một quan hệ cụ thể (mua, bán, cho thuê…), nhưng
bên cạnh đó cũng tồn tại hợp đồng có nhiều bên tham gia và mỗi bên trong hợp
đồng có thể có một hoặc nhiều chủ thể tham gia. Hành vi pháp lí là hành vi có
mục đích của các chủ thể nhằm phát sinh hệ quả pháp lí. Đó là phương tiện để
thực hiện ý chí của các chủ thể tạo ra các quan hệ xã hội nói chung và các quan
hệ pháp luật dân sự nói riêng. Hành vi pháp lí chính là những sự kiện xuất hiện
theo ý chí của con người và sự hiện diện của chúng đưa đến những hệ quả pháp lí
nhất định mà pháp luật đã quy định. Nhưng để một hành vi pháp lí làm phát sinh,
thay đổi, chấm dứt một quan hệ pháp luật dân sự thì hành vi đó phải là hành vi
mà chủ thể thực hiện phải phản ánh đúng ý chí của chủ thể đó. Sự phản ánh đúng
ý chí của chủ thể được biểu hiện trên hai mặt là chủ quan và khách quan. Mặt
chủ quan của sự thể hiện ý chí biểu hiện khả năng của chủ thể tự xác định cho
mình mục đích hành động và định hướng cho hành động đạt được mục đích đã
xác định trước. Để được như vậy ý chí đó phải có tính độc lập, phản ánh thái độ
tự nguyện, tự giác của chủ thể và ý chí đó được biểu hiện ra bên ngoài dưới một
hình thức nhất định. Mặt khách quan của sự thể hiện ý chí là ý chí đó phải được
thể hiện ra bên ngoài cho mọi người biết dưới một hành vi nhất định. Chủ thể
tham gia vào hợp đồng phải có sự thống nhất ý chí và thể hiện ý chí đó ra bên
ngoài. Hợp đồng được tạo lập là do sự hợp tác của hai hay nhiều bên, giữa các
bên đã có sự thoả thuận, sự thoả thuận này đủ để tạo lập nên hợp đồng. Sự thoả
thuận đó không cần phải theo một công thức nào cả do đó người ta có thể lập hợp
đồng bằng cách trao đổi thư tay, thư điện tử hay qua điện thoại. Ý chí của các
chủ thể sẽ không làm phát sinh bất cứ một hệ pháp lí nào nếu nó không được
biểu hiện ra bên ngoài cho mọi người biết dưới một hình thức nhất định.
2.2. Hợp đồng là nguồn chủ yếu làm phát sinh nghĩa vụ
Theo Khoản 1, Điều 13 Bộ luật dân sự 2005, giao dịch dân sự là một trong
định.
Điều 121 BLDS 2005 quy định: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi
pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân
4
sự”. Như vậy, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự chính là điều kiện có
hiệu lực của giao dịch dân sự được quy định tại Điều 122 BLDS 2005.
Theo đó, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự đó là:
- Người tham gia hợp đồng có năng lực hành vi dân sự;
- Mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật,
không trái đạo đức xã hội;
- Người tham gia hợp đồng hoàn toàn tự nguyện;
- Hình thức của hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong trường hợp
pháp luật có quy định.
1. Điều kiện về chủ thể tham gia hợp đồng dân sự
Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự mà cụ thể ở đây là quan hệ hợp đồng
là những “người” tham gia vào quan hệ đó. Phạm vi người tham gia quan hệ hợp
đồng bao gồm: cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác. Điều kiện để hợp
đồng có hiệu lực là “ người tham gia hợp đồng có năng lực hành vi dân sự”- như
vậy “ người” ở đây phải được nhìn nhận dưới góc độ pháp lí tức là không chỉ là
cá nhân mà còn bao gồm pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác.
1.1. Chủ thể tham gia hợp đồng là cá nhân
Điều17 BLDS năm 2005 quy định: “năng lực hành vi của cá nhân là khả
năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ
dân sự”. Do vậy, chỉ có những người có năng lực hành vi mới có ý chí riêng và
khả năng nhận thức được hành vi của họ để có thể tự mình xác lập, thực hiện các
quyền và nghĩa vụ dân sự phát sinh từ hợp đồng và tự mình chịu trách nhiệm
trong hợp đồng. Bộ luật dân sự Việt Nam cũng không quy định cá nhân tham gia
hợp đồng phải có năng lực hành vi dân sự đẩy đủ mà đối với cá nhân ở các độ
liên quan đến tài sản của người được giám hộ đều vô hiệu, trừ trường hợp giao
dịch được thực hiện vì lợi ích của người được giám hộ và có sự đồng ý của người
giám sát việc giám hộ”.
Ngoài ra, đối với những cá nhân tuy có đủ năng lực hành vi dân sự nhưng có
thể tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng thông qua người đại diện theo quy định
của pháp luật trừ trường hợp pháp luật quy định cá nhân đó phải tự mình tham
gia xác lập, thực hiện hợp đồng đó.
6
+ Thứ hai, đối với người có năng lực hành vi dân sự một phần từ đủ 15
tuổi đến dưới 18 tuổi: trên thực tế, người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi đã có thể
tham gia lao động. Xuất phát từ lý do này mà pháp luật dân sự đã chấp nhận một
số giao dịch dân sự nhất định phát sinh hậu quả pháp lý nếu giao dịch dân sự đó
do người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi xác lập, thực hiện. theo khoản 2 Điều 20
BLDS quy định: “Trong trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười
tám tuổi có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập,
thực hiện giao dịch dân sự mà không cần có sự đồng ý của người đại diện theo
pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.
Nhưng cũng cần lưu ý pháp luật dân sự quy định một số giao dịch cụ thể chỉ
có thể do người đã thành niên xác lập mới có hiệu lực, đặc biệt là các hợp đồng
pháp luật bắt buộc phải có công chứng. Trong trường hợp đó người chưa thành
niên dù có tài sản riêng cũng không có năng lực hành vi dân sự để giao kết hợp
đồng.
+ Thứ ba, đối với người có năng lực hành vi dân sự một phần từ đủ 6 tuổi
đến dưới 15 tuổi, người bị tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự:
Người từ đủ 6 tuổi đến dưới 15 tuổi được xác định là những người mà sự nhận
thức và khả năng làm chủ hành vi của mình chưa được đầy đủ, do đó họ có
những hạn chế nhất định. Do đó người từ đủ 6 tuổi đến dưới 15 tuổi khi tham gia
vào một hợp đồng dân sự nào đó phải được người theo pháp luật đồng ý. Đối với
đầy đủ không bị mất năng lực hành vi dân sự hay bị hạn chế năng lực hành vi
dân sự song đã xác lập giao dịch trái với ý chí của họ nên họ có quyền yêu cầu
Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình bởi
khi đó đã vi phạm tính tự nguyện khi tham gia giao dịch.
1.2. Chủ thể tham gia hợp đồng là pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác
- Đối với pháp nhân: Pháp nhân là một thực thể pháp lý, khi tham gia vào
các hợp đồng dân sự thì phải thông qua hành vi của người đại diện của pháp nhân
( đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền). Khi tham gia vào các hợp
đồng dân sự thì những người diện cho pháp nhân cần phải tuân thủ các quy định
của pháp luật về đại diện, phạm vi thẩm quyền đại diện để xác định hiệu lực pháp
lý của các hợp đồng này.. Ngoài ra trong việc tham gia các hợp đồng dân sự,
8
pháp nhân chỉ được phép tham gia các hợp đồng phù hợp với mục đích hoạt
động, phạm vi kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh của pháp nhân…
- Đối với hộ gia đình: Khi tham gia vào các hợp đồng dân sự thì chủ hộ (là
người đại diện theo pháp luật của hộ gia đình) có thể trực tiếp tham gia hoặc có
thể ủy quyền cho thành viên khác đã thành niên tham gia vào việc xác lập, thực
hiện hợp đồng. Theo quy định của pháp luật thì “ Giao dịch dân sự do người đại
diện của hộ gia đình xác lập, thực hiện vì lợi ích chung của họ làm phát sinh
quyền, nghĩa vụ của cả hộ gia đình” (khoản 2 Điều 107 BLDS)
Thông thường, giao dịch dân sự do chủ hộ hoặc thành viên đã thành niên khác
được chủ hộ ủy quyền xác lập, thực hiện vì lợi ích của hộ gia đình sẽ làm phát
sinh quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình trong hợp đồng dân sự. Tuy nhiên đối với
việc định đoạt tư liệu sản xuất hoặc tài sản chung của hộ gia đình có giá trị lớn
thì buộc phải có sự đồng ý của các thành viên trong gia đình từ đủ 15 tuổi trở lên,
đối với các loại tài sản chung khác phải được sự đồng ý của đa số các thành viên
từ đủ 15 tuổi trở lên.
- Đối với tổ hợp tác: Khi tham gia vào các hợp đồng dân sự thì tổ trưởng tổ
quyền yêu cầu Toà án tuyên hợp đồng vô hiệu để bảo vệ lợi ích chung, lợi ích
cộng đồng. Thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên hợp đồng vô hiệu không hạn chế.
Khái niệm nội dung của hợp đồng là một khái niệm rất rộng. Thường thì nội
dung của hợp đồng gồm các điều khoản, như: đối tượng của hợp đồng là tài sản
hay công việc, chất lượng của đối tượng đó; giá và phương thức thanh toán; thời
hạn, địa điểm thực hiện hợp đồng… (Điều 402). Bất kỳ điều khoản nào trong số
đó vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội thì hợp đồng cũng bị
coi là vô hiệu. Ví dụ: trong Quyết định Giám đốc thẩm số 18/2005/DS-GĐT
ngày 22/6/2005 của HĐTP –TANDTC hợp đồng mua bán nhà được xác lập giữa
người chuyển nhượng (Việt Nam) với người nhận chuyển nhượng (người Việt
Nam định cư ở nước ngoài, không thuộc diện được phép có quyền sở hữu nhà ở
tại Việt Nam), thì bị xem là vô hiệu vì “có nội dung trái pháp luật”.
Như vậy, để hợp đồng có hiệu lực thì mục đích cũng như nội dung của hợp
đồng phải không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội.
Hợp đồng có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã
hội thì bị vô hiệu.
3. Điều kiện về sự tự nguyện trong hợp đồng dân sự
10
Bản chất của hợp đồng là sự thống nhất ý chí và sự bày tỏ ý chí nên người
tham gia hợp đồng phải hoàn toàn tự nguyện. Sự tự nguyện xác lập, thực hiện
hợp đồng là việc chủ thể tự mình quyết định là có tham gia hay không tham gia
vào hợp đồng theo nguyện vọng của cá nhân mình, mà không chịu sự chi phối
hay sự tác động, can thiệp chủ quan nào từ những người khác. Pháp luật đòi hỏi
những người tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng phải hoàn toàn tự nguyện. Tự
nguyện còn là nguyên tắc pháp lý cơ bản của pháp luật dân sự. Ý chí tự nguyện
của chủ thể là một dấu hiệu thuộc yếu tố chủ quan, nếu không được biểu hiện ra
bên ngoài, thì người khác không thể biết được. Không có tự do ý chí và sự bày tỏ
ý chí hoặc phá vỡ tính thống nhất giữa hai yếu tố này, thì sẽ không có sự tự
sự lừa dối của một bên là nguyên nhân thúc đẩy bên kia giao kết hợp đồng. Như
vậy, trong lừa dối cũng có yếu tố nhầm lẫn nhưng sự nhầm lẫn này là do đối
phương cố ý gây ra bằng những mưu mô, thủ đoạn gian xảo. Biểu hiện của sự lừa
dối là hành vi cố ý cung cấp thông tin sai sự thật, cung cấp giấy chứng nhận giả
liên quan đến tình trạng tài sản...khiến cho bên kia tin vào các thông tin đó mà
xác lập hợp đồng bất lợi cho họ hoặc trái với nguyện vọng đích thực của họ.
Pháp luật Việt Nam qui định ba trường hợp lừa dối là lừa dối về chủ thể, lừa dối
về đối tượng và lừa dối về nội dung của hợp đồng.
“Đe doạ trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người
thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về
tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ,
vợ, chồng, con của mình” [ Điều 132 BLDS 2005 ]. So với Bộ luật dân sự 1995
thì Bộ luật dân sự 2005 đã có sự sửa đổi khi quy định thêm sự đe doạ đó có thể
do một bên giao kết hợp đồng thực hiện hoặc có thể do một người thứ ba thực
hiện. Mặt khác sự đe doạ này tác động đến đối tượng được quy định cụ thể là
cha, mẹ, vợ, chồng, con là hàng thừa kế thứ nhất chứ không quy định chung là “
người thân thích” như Bộ luật dân sự 1995 nữa. Sự đe dọa thường được hiểu là
việc một bên cố ý gây ra sự sợ hãi cho bên kia bằng hành vi bạo lực, vật chất
hoặc sự khủng bố tinh thần, làm bên kia tê liệt ý chí hoặc làm mất khả năng
kháng cự nên đã xác lập hợp đồng trái với nguyện vọng đích thực của họ.
3.3. Hợp đồng được xác lập khi một bên không nhận thức và làm chủ được
hành vi của mình
12
“Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng
thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu
cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu” [ Điều 133]. Đây là trường
hợp đặc biệt của người có năng lực hành vi dân sự nhưng lại xác lập hợp đồng
vào thời điểm họ không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Do tại thời
truyền đạt tới đối tượng tiếp nhận một cách nhanh chóng nhất, với dung lượng
lớn nhất, tác động trực tiếp đến tâm lí, tình cảm, suy nghĩ của đối tượng tiếp
nhận. Lời nói chính là cách thức biểu hiện ý chí của một cá nhân và hình thức
hợp đồng bằng lời nói là phương thức thể hiện sự thống nhất ý chí của các chủ
thể trong hợp đồng. Theo đó, các bên giao kết hợp đồng trao đổi với nhau bằng
lời nói, trực tiếp hoặc thông qua điện thoại, điện đàm, giử thông điệp ddienj tử
bằng âm thanh (tiếng nói)...Hợp đồng bằng lời nói được xác lập bằng một hành
động cụ thể chứ không thể dưới dạng không hành động. Im lặng không được coi
là sự chấp nhận giao kết hợp đồng bởi con người không thể hiện ý chí của mình
một cách rõ ràng thông qua trạng thái này. Tuy nhiên, luật cũng quy định im lặng
là sự chấp nhận giao kết nếu như hết có thoả thuận im lặng là sự trả lời chấp
nhận giao kết (Khoản 2 Điều 404 BLDS năm 2005). Hình thức bằng lời nói được
các bên lựa chọn trong một số trường hợp nhất định bởi hình thức này chứa đựng
những yếu tố bất lợi. Để tránh trường hợp các bên liên quan phủ nhận sự tồn tại
của hợp đồng nên hình thức này chỉ áp dụng trong các hợp đồng có đặc điểm: Có
giá trị nhỏ, phục vụ cuộc sống hàng ngày; giữa các bên có độ tin cậy nhất định;
hợp đồng được thực hiện ngay lập tức và hoàn thành ngay sau thời điểm giao kết
trong thời gian tương đối ngắn ( ví dụ: hợp đồng mua bán hàng sinh hoạt ngày,
hợp đồng dịch vụ thông thường như vui chơi, giải trí, vận chuyển nhanh: xe ôm,
taxi...); nội dung các quyền, nghĩa vụ hợp đồng có tính đơn giản, thực hiện một
cách nhanh chóng, thuận tiện, không cần thiết có sự cẩn trọng quá mức bằng văn
bản. Hợp đồng miệng có hiệu lực tại thời điểm các bên đã trực tiếp thoả thuận
với nhau về những nội dung chủ yếu của hợp đồng.
Thực tiễn pháp lý cho thấy, do việc giao kết hợp đồng bằng lời nói có ưu
điểm là cách thức giao kết đơn giản, gọn nhẹ, nhanh chóng và ít tốn kém nên
được sử dụng rất phổ biến trong giao dịch dân sự, nhưng ít được sử dụng hơn
trong giao dịch thương mại. Cũng vì sự tiện lợi của cách thức giao kết này mà
trên thực tế, có nhiều hợp đồng đáng lẽ phải được lập bằng văn bản hoặc bằng
14
bằng văn bản được chia thành các loại:
15
+ Hợp đồng bằng văn bản thông thường: hợp đồng loại này chỉ cần lập
bằng văn bản thông thường trong đó ghi nhận quyền, nghĩa vụ của các bên là đủ.
Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm bên sau cùng kí vào văn bản
hợp đồng;
+ Hợp đồng bằng văn bản có chứng nhận, chứng thực, đăng kí hoặc xin
phép: đây là những dạng hợp đồng phần nhiều có đối tượng tài sản phải đăng kí
quyền sở hữu, những tài sản có giá trị đặc biệt trong đời sống dân sự không chỉ
bởi giá trị vật chất mà bởi chúng còn là tư liệu sản xuất không thể thay thế được
(đất đai), là nơi cư trú của con người (nhà ở)…, hợp đồng có tính chất phức tạp
dễ xảy ra tranh chấp.
Hợp đồng dạng này cần có sự quản lí của Nhà nước bởi nó không chỉ ảnh
hưởng trực tiếp đến đời sống sinh hoạt, sản xuất kinh doanh của các chủ thể mà
còn ảnh hưởng lớn đến quyền, lợi ích hợp pháp của bên thứ ba, tác động đến
cuộc sống của cộng đồng dân cư, trật tự xã hội. Thời điểm có hiệu lực của hợp
đồng là thời điểm văn bản hợp đồng được chứng nhận, chứng thực, đăng kí hoặc
cho phép.
- Thứ ba, hợp đồng thể hiện bằng hành vi cụ thể:
Hành vi cụ thể là một hình thức thể hiện của hợp đồng, hiểu theo nghĩa hẹp.
Bởi lẽ, việc tuyên bố ý chí bằng lời nói hay bằng chữ viết, suy cho cùng, cũng
đều bằng hành vi của con người. Tuy vậy, hình thức hợp đồng bằng hành vi cụ
thể được nói đến trong trường hợp này không phải được diễn đạt bằng lời nói hay
chữ viết mà chỉ được thể hiện bằng một hành động thuần túy. Thông thường,
hình thức hợp đồng bằng hành vi cụ thể được sử dụng khi bên thực hiện hành vi
giao kết hợp đồng đã biết rõ nội dung của hợp đồng và chấp nhận tất cả các điều
kiện mà bên kia đưa ra, và bên kia không loại trừ việc trả lời bằng hành vi, hoặc
không đưa ra một yêu cầu rõ ràng về hình thức của sự trả lời chấp nhận. Hình
sản trên thực tế. Hành vi giao - nhận tài sản là hình thức biểu hiện chủ yếu của
các hợp đồng. Hiệu lực của hợp đồng phát sinh tại thời điểm một hoặc các bên
chuyển giao cho nhau đối tượng của hợp đồng. Trong nhiều trường hợp, khi một
bên biết rõ nội dung lời đề nghị giao kết hợp đồng từ phía bên kia và thể hiện
đồng ý xác lập hợp đồng bằng một hành vi cụ thể, đã chuyển tín hiệu đồng ý đến
cho bên kia biết, thì hành vi cụ thể đó cũng được coi như hình thức biểu hiện của
hợp đồng.
17
Tóm lại, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự đã được quy định cụ thể
tại Khoản 1 Điều 122 BLDS năm 2005 được coi là những điều kiện bắt buộc để
hợp đồng có hiệu lực pháp luật. Điều kiện về hình thức chỉ áp dụng đối với một
số hợp đồng cụ thể như: hợp đồng mua bán bất động sản; hợp đồng thuê nhà; các
hợp đồng liên quan đến quyền sử dụng đất; hợp đồng thế chấp;… Một hợp đồng
khi không tuân thủ một trong các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thì coi như
hợp đồng đó chưa được xác lập, không phát sinh hệ quả pháp lí và do đó không
làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Khi không đáp ứng
đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thì theo quy định của pháp luật sẽ
không làm phát sinh hiệu lực với các bên và theo yêu cầu sẽ bị Toà án tuyên vô
hiệu. Mặc dù sự vô hiệu là do vi phạm điều kiện về chủ thể; điều kiện về nội
dung, mục đích của hợp đồng; điều kiện về sự tự nguyện hay điều kiện về hình
thức của hợp đồng và sự vô hiệu đó là tuyệt đối hay vô hiệu tương đối thì đều
dẫn đến hậu quả pháp lí như nhau.
III. NHẬN XÉT NHỮNG BẤT CẬP, THIẾU SÓT TRONG CÁC QUY
ĐỊNH CỦA CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÁC ĐIỀU KIỆN CÓ
HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
1. Những bất cập, thiếu sót trong các quy định của pháp luật về các điều
kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự
- Nhìn chung thì trên thực tế việc áp dụng những quy định về điều kiện có hiệu lực
đồng. Trên tinh thần đó, quyền tự do của các bên trong việc thỏa thuận chọn hình
thức là một trong những điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, là một nội dung cần
phải được tôn trọng và được thừa nhận trong luật.
Thứ hai, quy định tại Khoản 1 Điều 401 còn dài dòng, và chưa linh hoạt.
Khoản 1 Điều 401 qui định: “Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói,
bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp
đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định”. Điều khoản này quy
định hình thức hợp đồng trong trường hợp pháp luật không có quy định bắt buộc
về hình thức. Tuy nhiên, cách diễn đạt của điều luật như vậy là dài dòng. Bởi lẽ,
trên cơ sở nguyên tắc tự do hợp đồng, các bên có thể lựa chọn xác lập hợp đồng
bằng bất kỳ hình thức nào. Một khi đã công nhận sự tự do trong việc lựa chọn
hình thức hợp đồng, thì cách thể hiện nội dung điều luật phải theo hướng mở,
19
chứ không nên “gò bó” các bên phải theo một “khuôn dạng định hình” nào cả.
Hơn nữa, xét về vai trò và chức năng, thì quy định tại Khoản 1 Điều 401 là quy
định cơ bản về hình thức hợp đồng, nên cũng được ngầm hiểu đây là quy định về
hình thức hợp đồng trong hoàn cảnh pháp luật không quy định hợp đồng phải
được lập theo bất kỳ hình thức nào. Trong trường hợp này, sự hiện diện của cụm
từ “khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một
hình thức nhất định” là không cần thiết vì làm cho điều luật trở nên dài dòng. Bởi
vậy, cụm từ nói trên cần được bỏ đi. Mặt khác, phương pháp liệt kê một danh
sách đóng các loại hình thức hợp đồng xác định đã làm cho điều luật kém linh
hoạt. Bởi vì, theo lẽ thông thường, khi giao kết hợp đồng, các bên không bị buộc
phải lập hợp đồng theo hình thức nào, trừ những hợp đồng pháp luật buộc phải
lập theo một hình thức xác định. Theo đó,về nguyên tắc, các bên có thể lập hợp
đồng bằng bất kỳ hình thức nào, kể cả bằng sự kết hợp của tất cả các hình thức
đó. Thậm chí, sự “im lặng”cũng được xem như là một hình thức trả lời chấp nhận
giao kết hợp đồng, trong trường hợp pháp luật có qui định (Điều 404 khoản 2).